Chủ tịch Hồ Chí Minh với hoàng tộc nhà Nguyễn

15:22 05/02/2010
HƯƠNG GIANG(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

Bác Hồ trồng cây

1. Trong suy nghĩ của Bác Hồ thì “hễ là người Việt , ai cũng có lòng yêu nước”. “Hồi ký” của Đại sứ Ba Lan, phái đoàn quốc tế giám sát việc thi hành Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương có đoạn: “Trước khi vào Sài Gòn, tôi đến chào Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người dặn tôi: vào trong đó, gặp một vị trong Phủ Tổng thống chuyển tới ông ấy lời hỏi thăm của Người”. Thấy tôi ngạc nhiên, Chủ tịch nói: “Ông ấy là người Việt . Ông ấy yêu nước theo cái cách của ông ấy”.

Người dân Việt bị nô lệ, bị áp bức, ai cũng yêu nước, thấy nỗi nhục bị mất nước. Các vị vua cuối triều Nguyễn cũng là dân Việt, cũng bị nô lệ. Hơn thế nữa, là vua mà lại không có quyền của vua, thực chất là một vua bù nhìn, nô lệ, là nô lệ lần nữa. Cũng như nhiều văn thân, trí thức, nỗi nhục mất nước của vua là nỗi nhục gấp đôi người dân thường.

Thực tiễn lịch sử các triều vua cuối cùng nhà Nguyễn đã cho thấy: một vài vị vua do nhiều lý do, cũng như một số người khác trong hoàng tộc đã đứng về phía người Pháp hoặc vì sợ hãi, bị bắt buộc, nhưng dù sao cũng không thể thanh minh được sự yếu hèn vì đã không đứng được về phía đông đảo nhân dân. Số còn lại, có lúc ít, lúc nhiều với mức độ cao thấp khác nhau trong từng thời gian đã tỏ thái độ cam chịu, chờ đợi, hoặc bất hợp tác, tiến lên phản đối bằng hành động lớn nhỏ, về xã hội, chính trị và cuối cùng là tham gia chống lại chính quyền thực dân bằng lực lượng vũ trang.

2. Để cứu nước thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than, từ trước đến sau, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đều chủ trương “Đại đoàn kết dân tộc” mọi giai tầng xã hội, mọi tôn giáo, dân tộc, không phải chỉ Đại đoàn kết trong một giai đoạn cách mạng nào, mà Đại đoàn kết chiến lược, Đại đoàn kết mãi mãi, “Đoàn kết, Đoàn kết, Đại đoàn kết” thì “Thành công, Thành công, Đại Thành công”. Thân sĩ, trí thức, cả những người hoàng tộc, một khi đã hiểu được vận mệnh Tổ quốc, thấy được âm mưu của kẻ thù, trách nhiệm của người dân, lại được biết Chính phủ Cụ Hồ - đã ra lời kêu gọi, là họ đi theo Cụ Hồ, đi kháng chiến… Niềm tin mãnh liệt của họ là tấm gương của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Hình ảnh đã soi sáng trí tuệ, lương tâm của họ, khiến cho họ thấy mình có thể đi với Cụ Hồ, làm dân Cụ Hồ, vinh dự được theo Cụ. Chính Cụ Hồ đã nói là “đoàn kết toàn dân” là “tập trung nhân tài, bất phân đảng phái” nên họ gia nhập vào hàng ngũ của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Cụ Hồ.

3. Phải nói rằng có sự xuất phát từ quyền lợi riêng, nhưng không thể không thấy rõ một số vị vua cuối triều Nguyễn là những vị vua yêu nước, một số nhân sĩ, trí thức trong Hoàng tộc đã chống lại chính quyền Pháp ở Đông Dương, ở Trung kỳ cũng khởi nguồn từ lòng yêu nước ấy. Trong những ngày gian khổ ở miền Tây Quảng Trị, Vua Hàm Nghi đã nói: “Đi đâu cũng được, sống thế nào cũng được, miễn là đuổi cho được giặc Pháp ra khỏi đất nước”. Khi bị bắt, Hàm Nghi đã thất vọng thốt lên rằng: “Tôi, thân đã tù - nước đã mất, còn dám nghĩ gì đến cha mẹ, anh chị em nữa…”. Thành Thái từ lúc còn nhỏ tuổi, đã chung sống với dân nghèo, chia sẻ gian khổ với người nghèo, đã từng đi cắt tóc, lái xe… Vua Duy Tân, khi tay bẩn đã gợi ý với những người xung quanh: “ Tay bẩn lấy nước mà rửa, nước bẩn lấy chi mà rửa. Phải có chí, vượt gian khổ, khó khăn thì đời sống mới có ý nghĩa”. Khi mẹ giục lấy vợ, Duy Tân thưa là xin phép được lấy con gái thầy dạy chữ, vì “Thầy Đôn dạy con biết thương Dân, thương Nước, trọng dụng trung thần, xa lánh nịnh thần”.

Chắt trai của hoàng tử, con trai vua Minh Mạng Tĩnh Gia là Nguyễn Phúc Bửu Đình (1898-1931) thông phán ngành bưu điện của Pháp tại Sài Gòn. Ông đã hô hào nhân dân chống Pháp, xóa bỏ chế độ Nam Triều. Đã bị đày đi Lao Bảo 9 năm, rồi lại bị đày ra Côn Đảo…

Nguyễn Phúc Hồng Dân, tức Cường Để, cháu năm đời của Gia Long, Hội trưởng Hội Quang Phục, bôn ba Nhật, Xiêm, Trung Quốc cùng Phan Bội Châu và các “đồng chí” của mình “mưu toan việc nước” dù đoạn cuối đường không suôn sẻ lắm. Trong số những “con vua, cháu chúa” đi theo Cụ Hồ, ta có thể kể đến nhiều liệt sĩ như Tôn Thất Điệp, Tôn Thất Hoàn, cả hai đều hy sinh vào năm 1947; Tôn Thất Long, hy sinh năm 1963; Tôn Thất Hiếu, hy sinh năm 1968; Tôn Thất Khoa hy sinh năm 1946, Bảo Sằng (Quang Long) liệt sỹ hy sinh vào năm 1954… Rất nhiều người trong hoàng tộc đã tham gia kháng chiến chống Pháp trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị, văn hóa, xã hội như giáo sư Tôn Thất Dương Ky, nhà ngoại giao Tôn Thất Vỹ, giáo sư y khoa Nguyễn Phước Ngọc Toản, các cán bộ quân sự, Tôn Thất Hoàng, Vĩnh Mẫn và nhiều người khác như Tôn Thất Thi, Tôn Thất Thiện, Tôn Thất Thức, Tôn Thất Xuân, Tôn Thất Châu…

Trong ngày Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế tháng 8 - 1945 người cầm súng đứng bảo vệ phái đoàn chính phủ và dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại là một người trong Hoàng tộc: anh Tôn Thất Hoàng.

Thái độ cư xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh với vua Bảo Đại, và sau đó là cố vấn Vĩnh Thụy, là đại biểu Quốc hội khóa I của Thanh Hóa, tại chính quê hương nhà Nguyễn, tấm lòng của Hồ Chủ tịch với Nam Phương vợ Bảo Đại, với bà Từ Cung mẹ Bảo Đại, với bà Thành Thái, bà Duy Tân đã gây một ấn tượng mạnh mẽ về Chính phủ Cụ Hồ, không phải chỉ riêng trong Hoàng tộc mà cả trong nhân dân Huế và cả nước.

Không ít quốc gia mà cuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến đã giết vua, cầm tù, đày đọa các quý tộc dòng họ nhà vua. Thật hiếm và cũng thật đáng suy nghĩ cái bao dung, thu phục nhà vua và gia đình họ cùng đi với mình, tham gia công cuộc giải phóng dân tộc, hoàn thành thống nhất Tổ quốc và đang cùng toàn dân góp sức xây dựng đất nước. Quả thật đúng như A.Ruscio nhà nghiên cứu lịch sử nước Pháp đã viết về Hồ Chí Minh, một “người Bônsêvích vàng” để nói về những ứng xử nhân đạo của Hồ Chí Minh, lãnh tụ của cách mạng Việt Nam.

4. Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các thành viên trong Hoàng tộc ở Huế đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý mà vận dụng vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa nước ta, tiếp theo con đường Bác Hồ đã chọn, làm sao cho Dân cơm no, áo ấm, dân chủ bình đẳng, văn minh… như Người đã dạy và hằng mong ước.                                          

H.G
(
Trích từ cuốn “Những người trong hoàng tộc nhà Nguyễn đi theo Cụ Hồ” - sắp xuất bản)
(252/02-2010)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGGhi chép 1.Tôi tự đặt ra một “hạng mục” đinh cho chuyến đi thực tế sáng tác ở A Lưới lần này, và hạ quyết tâm thực hiện bằng được, đó là: phải lên được Đồi Thịt Băm!

  • LGT: Liên Thục Hương là một nhà văn Trung Quốc đương đại, tự ví mình là con mèo đêm co mình nằm trên nóc nhà, nhìn cuộc sống thành phố tấp nập đi qua đáy mắt. Liên Thục Hương còn ký bút danh Liên Gián, có số lượng bản thảo lên tới hơn hai triệu chữ. Năm 2003, “Bài bút ký đầy nước mắt” đã được post lên mạng và năm 2004 nó đã được dựng thành phim và bộ phim ngắn này làm tiền đề cho tác phẩm điện ảnh đoạt giải thưởng của Trung Quốc. Sông Hương xin giới thiệu câu chuyện này qua bản dịch của nữ nhà văn Trang Hạ.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNAnh em Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trên đường Đông Ba. Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngõ thông với vườn nhà Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh. Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư Anh Danh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình.

  • BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

  • PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.

  • XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!

  • Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.

  • NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com

  • VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.

  • TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.

  • TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.

  • TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

  • MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.

  • NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.

  • HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.