NGUYỄN PHƯỚC HẢI TRUNG
Chơi chữ (hay còn gọi là lộng ngữ) là một biện pháp nghệ thuật xuất hiện khá phong phú về hình thức trong văn chương, nhất là thi ca. Đó là những hình thức diễn đạt dùng âm thanh, từ ngữ, hàm ý để tạo ra lượng nghĩa mới bất ngờ và thú vị.
Bài thơ "Vũ trung sơn thủy" của vua Thiệu Trị ở Điện Long An – Ảnh: Lê Công Doanh
Trong thơ văn chữ Hán, chơi chữ xuất hiện với nhiều dạng linh hoạt và “biến hóa” dựa trên cơ sở tính tượng hình của ký tự như đồng âm dị nghĩa, đa nghĩa mở rộng, chiết tự, ám họa thị giác, hồi văn liên hoàn, trình bày theo cấu trúc v.v.
Chơi chữ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế tuy không phải là biện pháp nghệ thuật phổ biến, nhưng thiết tưởng cũng cần giới thiệu về một số trường hợp đặc biệt. Đặc biệt đến mức có thể trở thành những ví dụ điển hình về trình độ chữ nghĩa cao siêu của chủ thể sáng tạo nếu so sánh với các tác giả trung đại ở Việt Nam cũng như các nước đồng văn.
1. Hình tượng hội họa từ các con chữ
Thi ca với hội họa là một quan hệ “huyết thống” in đậm trong văn chương chữ Hán, từ đó hình thành nên các thành ngữ “thi trung hữu họa” hay “họa trung hữu thi”. Trong thế giới nghệ thuật, thư pháp và thi ca đã hô ứng rất hiệu quả. Ở đó, phương diện hình ảnh của con chữ gắn với nội dung luôn được cổ xúy, nhấn mạnh qua nghệ thuật viết chữ. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế trong quá trình tổ chức câu thơ, có thể là ngẫu nhiên, cũng có thể là hữu ý, đã tập hợp nên những cấu trúc đầy sức gợi hình, gợi cảm cho sự thúc đẩy phát triển hình tượng, nội dung. Những điển hình đó được thể hiện qua các trường hợp sau ở lăng Minh Mạng, ở điện Thái Hòa, ở điện Long An:
- Có thể bắt gặp một đàn chim ríu rít, tụ tập qua sự xếp đặt loạt chữ có cấu trúc bộ khẩu (口: cái miệng) trước mỗi chữ: 喃 呢 啁 哳 幾 聲 嬌 (Nam ni trao triết kỷ thanh kiêu: Râm ra ríu rít thật xinh yêu);
- Có thể bắt gặp cả một vũ trụ bao la vần vũ nhưng lại dồn nén trong sự dung chứa của các chữ có bộ khí (气: thể khí): 英 氣 正 氤 氳 (Anh khí chính nhân uân: Khí lành tràn đầy khắp);
- Có thể bắt gặp cảnh hừng đông bừng tỏ dần lên qua các chữ có bộ nhật (日: mặt trời): 曈 曨 東 旭 耀 (Đồng lung đông húc diệu: Mờ sáng mặt trời mới mọc phía Đông chói lọi);
- Có thể thấy và “nghe” được âm thanh của nước chảy, sự trở mình của hệ thực vật trong hai câu có đến 9/14 chữ mang bộ chấm thủy (氵: nước) tràn ngập, với 4 chữ mang bộ thảo đầu (艸: cỏ) sum xuê: 潺 潺 水 涧 苔 滋 潤 / 漾 漾 波 洲 蓼 茂 榮 (Sàn sàn thủy giản đài tư nhuận / Dạng dạng ba châu liệu mậu vinh: Nước suối rì rào rêu thắm mướt/ Bãi bồi sóng sánh cỏ tươi xanh); hay “tận mục” nước cuộn mặt hồ của hai câu thơ với 6/10 chữ mang bộ chấm thủy: 漪 漣 迴 岸 陡 / 澄 湛 遂 流 瀧 (Y liên hồi ngạn đẩu/ Trừng trạm toại lưu lung: Lăn tăn quanh dốc bến/ Cuộn chảy theo dòng trong). Hay là một câu bảy chữ đều có bộ chấm thủy diễn tả mặt nước lô xô: 澶 洄 泙 湃 沸 澜 (Thiền hồi bình phái phất phong lan: Sóng gió lô xô ở giữa dòng. Quả tài tình với cách lựa chọn chữ nghĩa, ắt hẳn là dụng ý của cổ nhân.
- Có thể bắt gặp trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế, ngoài các chữ mang nét nghĩa chỉ về các công trình xây dựng như đình, điện, đường, các, vũ, lâu, tạ, đài, đặc biệt còn có 239 chữ liên quan đến bộ môn (門), có nhiều chữ nằm trong trường nghĩa chỉ về nhà cửa trong đó: khai (開) 136 lần, các (閣) 21 lần, khuyết (闕) 16 lần, môn (門) 15 lần, quan (關) 14, nhàn (閒)14 lần, khải (闓) 8, xương (閶) 4 lần, hạp (闔) 4 lần, tịch (闢) 4 lần và nhàn (閑) 3 lần. Trong đó, có một số câu thơ được thể hiện với tính biểu tượng rất cao, một câu có đến 3, thậm chí 4 chữ có bộ môn này, tạo nên một hình ảnh có hình dáng, tượng hình về công trình kiến trúc, ví dụ: 閶 闔 開 黃 道 (Xương hạp khai Hoàng đạo: Cửa cung mở vào giờ Hoàng đạo); hoặc 閶 闔 開 金 闕 (Xương hạp khai kim khuyết: Cửa cung điện đã mở ra [như] cửa bằng vàng). Đây là lối chơi chữ có tính chất “ám họa thị giác”, chúng thật sự là những bức tranh được vẽ nên một cách hình tượng bằng những ký tự. Câu thơ tác động trực tiếp vào thị giác, chúng ta như hình dung được cả không gian với những hình khối tầng tầng lâu các, lớp lớp cung điện. Đó là một hiện tượng phù ứng với thực tế, triều Nguyễn rất tự hào về công cuộc kiến thiết đất nước của mình, hàng loạt các công trình làm việc của triều đại đã bắt đầu khởi công xây dựng từ thời Gia Long và bộ mặt của Kinh đô Huế đến thời Thiệu Trị đã khá chỉnh trang. Do vậy, các công trình kiến trúc đã trở thành một trong những niềm tự hào của triều đại này.
Trong những “kiệt tác thơ thị giác” của thi ca chữ Hán, Vương Duy (701 - 761) có câu: 木 末 芙 容 花 (Mộc mạt phù dung hoa: Cuối cành phù dung nở hoa). Câu thơ được triển khai từ chữ đầu tiên đến chữ cuối cùng có số nét tăng dần mộc (4 nét), mạt (5 nét), phù (8 nét), dung (10 nét) và cuối cùng đến hoa số nét bắt đầu giảm (8). Chỉ cần cảm nhận bằng thị giác, người đọc có thể hình dung tiến trình vận động của sự vật, từ chữ đầu đến chữ cuối biểu hiện khá rõ của cả một tiến trình vận động, có cảm giác như được chứng kiến về hình ảnh nụ hoa từ khi hàm tiếu đến lúc nở bùng và mãn khai. Hay Đỗ Phủ (712 - 770) khi mô tả nỗi khát khao của con người khi gặp hạn hán, cầu được mưa thì viết lên một loạt các chữ liên quan đến bộ vũ (雨: mưa) từ nhiều nét đến ít nét:雷 莛 空 霹 歷 雲 雨 竟 虛 無 (Lôi đình không tích lịch/ Vân vũ cánh hư vô: Sấm chớp giật liên hồi/ Mây mưa rốt cuộc vẫn là sự huyễn hoặc). Câu thơ trở thành một ám thị có chất hội hoạ, thật sự gợi lên cả một không gian có dáng dấp.
Những trường hợp chơi chữ có hình thức như vậy trong văn chương là không nhiều, chỉ những bậc hay chữ, giỏi nghĩa mới có thể làm được. Các trường hợp chơi chữ theo dạng này như đã nêu trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế cũng là một trong số ít đó, nó có giá trị phản ánh nghệ thuật qua hình thức phô diễn chữ nghĩa của người xưa.
Tuy chơi chữ ở trường hợp trên chỉ có tính chất đơn lẻ, nhưng nó lại phản ánh giá trị cao về một biện pháp nghệ thuật, về hình thức nghệ thuật và phản ánh khá rõ nét bản chất ý nghĩa của thơ trong hệ thống này qua các chủ đề miêu tả và thể hiện.
![]() |
| Vua Thiệu Trị |
2. Kỹ xảo sắp đặt ngôn từ
Trong hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế có một công trình khá đặc biệt - điện Long An - được xem là “biệt điện” của vua Thiệu Trị, nơi được chạm khắc của 165 bài thơ đều là thơ của vị vua này. Thơ ở đây được trang trí với nhiều dạng thức: chạm nổi sơn son, chạm nổi thếp vàng và cẩn xà cừ. Đặc biệt có hai bài thơ chơi chữ đồng dạng, được cẩn xà cừ cực kỳ tinh xảo trên vách ván ngôi điện này. Đó là bài Vũ trung sơn thủy (雨 中 山 水: Non nước trong mưa) và bài Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm (福 園 文 會 良 夜 漫 吟: Ngâm vịnh trong đêm thơ ở vườn Phước Viên).
Cả hai bài thơ đều có cùng hình thức trình bày, chạm khảm theo đồ hình bát quái. Bên cạnh mỗi bài thơ là “mã” để mở khóa với nội dung như sau: Dụng hồi văn thể kiêm liên hoàn, bằng trắc tứ vận, độc thành thất ngôn ngũ ngôn, lục thập tứ chương (用 迴 文 體 兼 連 環 / 平 昃 四 韻 / 讀 成 七 言 五 言/ 六 十 四 章: Dùng thể hồi văn kiêm liên hoàn với bốn vần bằng trắc, đọc thành thất ngôn, ngũ ngôn được 64 bài). Vì cả hai bài đều có hình thức giống nhau, ở đây chỉ xin trình bày bài Vũ trung sơn thủy mà thôi.
Vũ trung sơn thủy có tính chất hồi văn và liên hoàn, có nghĩa là bắt đầu từ xuất phát điểm nào cũng có thể đọc thành câu, ghép thành bài. Bên cạnh đó, tính liên hoàn buộc phải ít nhất, chỉ trong một cặp câu thì phải có sự láy/ lặp một chữ, nối hai bài lại với nhau (hoặc vận dụng nhiều dạng láy khác). Điều quan trọng nữa, bài thơ được giải mã phải trên cơ sở xác định rõ bốn vần (bằng trắc tứ vận) là Canh, San, Dạng, Chấn. Ở đây chúng tôi không thể trình bày cách mở khóa của toàn bộ bài thơ (từ cách xác định vần đến cách đọc). Tại cuốn sách Tìm hiểu kỹ xảo hồi văn kiêm liên hoàn trong bài Vũ trung sơn thủy của Thiệu Trị, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cũng đã “mất” hơn 450 trang sách để lý giải, trình bày phương pháp, cách đọc cho từng bài theo trình tự nhất định. Trong giới hạn cho phép, chúng tôi xin được giới thiệu một số bài mà tác giả Nguyễn Tài Cẩn đã mở khóa, giải mã một “bí ẩn thi ca” tồn tại suốt nhiều năm.
Từ 56 chữ, vua Thiệu Trị đã sắp xếp theo những trật tự về âm vận, niêm luật, đối ngẫu những ngữ nghĩa vẫn đảm bảo, đến cách dịch, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cũng tỏ ra công phu không kém trong sự chọn chữ để dịch với sự sắp xếp đồng dạng một cách khéo léo và tinh tế.
| Nguyên văn bài thơ: | Bản dịch thơ của GS. Nguyễn Tài Cẩn: |
![]() |
![]() |
Sau đây là 02 bài hồi văn, liên hoàn trong vần Canh của bài thơ Vũ trung sơn thủy qua bản dịch của Nguyễn Tài Cẩn1:
| Bài 1: | |
|
Loan hoàn vũ hạ giang triều tấn, Trướng dật phong tiền ngạn biện thanh. Sơn tỏa ám vân thôi trận trận, Lãng sinh khiêu ngọc trích thanh thanh. Sàn sàn thủy giản đài tư nhuận, Dạng dạng ba châu liệu mậu vinh. Nhàn điếu nhất chu ngư dật tấn, Hướng lâm song tiễn yến phi khinh. |
Tròn vây gió nổi triều lan ngập, Rộng thoáng mưa vờn nước biếc xanh. Non kín đen trời mây cuốn gấp, Sóng dâng gieo ngọc tiếng vang quanh. Tuôn reo suối thấm rêu dâm dấp, Bóng dợn cồn vươn cỏ mướt xinh. Buồn giải rỗi câu thuyền lướt khắp, Động về chia dãy én bay nhanh. |
| Bài 2: | |
|
Sàn sàn thủy giản đài tư nhuận, Dạng dạng ba châu liệu mậu vinh. Nhàn điếu nhất chu ngư dật tấn, Hướng lâm song tiễn yến phi khinh. Loan hoàn vũ hạ giang triều tấn, Trướng dật phong tiền ngạn biện thanh. Sơn tỏa ám vân thôi trận trận, Lãng sinh khiêu ngọc trích thanh thanh. |
Tuôn reo suối thấm rêu dâm dấp, Bóng dợn cồn vươn cỏ mướt xinh. Buồn giải rỗi câu thuyền lướt khắp, Động về chia dãy én bay nhanh. Tròn vây gió nổi triều lan ngập, Rộng thoáng mưa vờn nước biếc xanh. Non kín đen trời mây cuốn gấp, Sóng dâng gieo ngọc tiếng vang quanh. |
Bài thơ là một kiểu chơi chữ trí tuệ của một vị vua. Chỉ từ 56 chữ, vua Thiệu Trị đã cho đến 64 bài thơ thất ngôn bát cú (chưa kể 64 bài ngũ ngôn bát cú). Trong đó có kiểu hồi văn với 32 cặp bài thất ngôn thuận nghịch độc với 16 điểm xuất phát đi 2 hướng; lại có kiểu liên hoàn vô cùng phức tạp: liên hoàn thẳng, liên hoàn vòng quanh; liên hoàn một chiều, hai chiều; liên hoàn đối xứng, không đối xứng. Đó là một cách sắp xếp cực kỳ công phu, người thật có tài và vốn chữ nghĩa phong phú mới có thể làm được.
Ngoài ra từ hình thức và cấu trúc của Vũ trung sơn thủy có thể suy luận thêm về mối liên hệ giữa Dịch học trong kết cấu bài thơ. Bài thơ trình bày theo 1 hình tròn tượng trưng cho thái cực, có 2 vần bằng/ trắc tượng trưng cho lưỡng nghi, có 4 vần Canh, San, Chấn, Dạng tượng trưng cho tứ tượng, và đọc được 64 bài tượng trưng cho 64 quẻ trong Dịch học. Những sự trùng khít một cách nhịp nhàng về các con số chắn chắn phải có nguyên nhân. Vua Thiệu Trị là một Nho gia, ở đây sự đề cao về dịch lý của các nhà nho theo khuynh hướng Tống Nho có thể là nguyên nhân hình thành nên hiện tượng này.
3. Tạm kết
Nhìn chung, các dạng chơi chữ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế lại có giá trị nghệ thuật đạt đến mức đỉnh cao, phản ánh tài văn chương cũng như năng lực, khuynh hướng thẩm mỹ của người đương thời, trở thành những minh chứng vô cùng đặc sắc về nghệ thuật chơi chữ trong sáng tạo thi ca của người trung đại Việt Nam và các nước đồng văn. Nghệ thuật chơi chữ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã thể hiện những năng lực thẩm mỹ của chủ thể sáng tạo, phản ánh quan niệm thẩm mỹ của người trung đại. Qua một số dẫn chứng cũng cho thấy trình độ chữ nghĩa của các bậc thức giả thời bấy giờ, nhất là các hoàng đế thi sĩ.
N.P.H.T
(TCSH372/02-2020)
------------------
1. Dẫn từ: Nguyễn Tài Cẩn (1998), Tìm hiểu kỹ xảo hồi văn kiêm liên hoàn trong bài Vũ trung sơn thủy của Thiệu Trị, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
Tải mã QRCode
TRẦN THỊ THANH…Núi Thuý Vân và chùa Thánh Duyên vì trước kia được xem là một trong những thắng cảnh của đất Thần Kinh nên các Chúa và các vua Nguyễn thường về đây thưởng ngoạn và làm thơ phú ca ngợi. Tuy nhiên, nổi tiếng hơn cả vẫn là những bài thơ được khắc trong hai tấm bia - một dựng trong chùa, một dựng dưới chân núi…
HỒ VĨNHĐồi Vọng Cảnh nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây nam, vùng sơn phận này gồm nhiều núi đồi gối đầu lên nhau trong một khu vực rộng khoảng 2.400 ha diện tích đất tự nhiên. Về mặt địa hình của ngọn đồi, từ vị trí của tấm bia cổ Lý Khiêm Sơn (núi gối hậu của Khiêm Lăng - Tự Đức) kéo dài lên Vọng Cảnh là một dãy liên hoàn.
NGUYỄN QUANG HÀChùa Huyền Không Sơn Thượng tan trong non xanh và lá xanh. Dẫu đang còn tranh tre mộc mạc, nhưng thanh thoát, duyên dáng và thảnh thơi như lòng người ở đây. Đúng như nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh tâm sự: “Cảnh là tơ duyên của đời”. Đến Huyền Không Sơn Thượng cảm giác đầu tiên của tất cả du khách là thấy lòng mình ấm lại.
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHChùa Linh Mụ đẹp quá, nên thơ quá. Nói vậy cũng chưa đủ. Nó tịnh định, cổ kính, an nhiên, trầm mặc. Nói vậy cũng chưa đủ. Phải nói nó là một bài thơ Thiền lồng lộng giữa không gian mây nước, giữa khói sương, giữa mênh mang dâu bể và lòng người. Nó là bức tranh thủy mặc thuộc họa phái Sumiye, Nhật Bổn, mà, nét chấm phá tuy giản phác nhưng lung linh, ảo diệu; vượt thời gian và đi vào vĩnh cửu. Nó là bài kinh vô ngôn, tuy không nói một chữ, mà đã làm lắng đọng trăm ngàn xôn xao của cuộc thế; và, gợi nhắc vô biên cho con người hướng đến điều chân, lẽ thiện...
NGÔ MINHHuế trên 350 năm là thủ phủ Chúa Nguyễn Đằng Trong và Kinh Đô của Đại Việt đã tích tụ nhân tài, vật lực cả quốc gia tạo ra một hệ thống Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc và nổi tiếng như nhã nhạc, lễ hội dân gian, văn hóa ẩm thực... Trong Di sản văn hóa ẩm thực Huế, Văn hóa ẩm thực Cung đình là bộ phận tinh hoa nhất, giá trị nhất!
HÀ MINH ĐỨC Ký Sau chặng đường dài, vượt qua nhiều đồi núi của vùng Quảng Bình, Quảng Trị, khoảng 3 giờ chiều ngày 25/9/2003, đoàn chúng tôi về đến thành phố Huế. Xe chạy dọc bờ sông Hương và rẽ vào khu vực trường Đại học Sư phạm Huế. Anh Hồ Thế Hà, Phó Chủ nhiệm khoa Văn; chị Trần Huyền Sâm, giảng viên bộ môn Lý luận văn học cùng với các em sinh viên ra đón chúng tôi. Nữ sinh mặc áo dài trắng và tặng các thầy những bó hoa đẹp.
BĂNG SƠN Tuỳ bútDòng sông Hồng Hà Nội là nguồn sữa phù sa và là con đường cho tre nứa cùng lâm sản từ ngược về xuôi. Dòng sông Cấm Hải Phòng là sông cần lao lam lũ, hối hả nhịp tầu bè. Dòng sông Sài Gòn của thành phố Hồ Chí Minh là váng dầu ngũ sắc, là bóng cần cẩu nặng nề, là những chuyến vào ra tấp nập... Có lẽ chỉ có một dòng sông thơ và mộng, sông nghệ thuật và thi ca, sông cho thuyền bềnh bồng dào dạt, sông của trăng và gió, của hương thơm loài cỏ thạch xương bồ làm mê mệt khách trăm phương, đó là sông Hương xứ Huế, là dòng Hương Giang đất cố đô mấy trăm năm, nhưng tuổi sông thì không ai đếm được.
PHAN THUẬN THẢO Chiều chiều trước bến Vân Lâu Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm, Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông. Thuyền ai thấp thoáng bên sông, Đưa câu Mái đẩy chạnh lòng nước non. (Ưng Bình Thúc Giạ)
LÃNG HIỂN XUÂNChẳng hiểu sao, từ thuở còn thơ ấu, tôi đã có một cảm nhận thật mơ hồ nhưng cũng thật xác tín rằng: Chùa chính là nơi trú ngụ của những ông Bụt hay bà Tiên và khi nào gặp khó khăn hay đau khổ ta cứ đến đó thì thế nào cũng sẽ được giải toả hay cứu giúp!
BÙI MINH ĐỨCNói đến trang phục của các Cụ chúng ta ngày xưa là phải nhắc đến cái búi tó và cái khăn vấn bất di bất dịch trên đầu các Cụ. Các Cụ thường để tóc dài và vấn tóc thành một lọn nhỏ sau ót trông như cái củ kiệu nên đã được dân chúng đương thời gọi là “búi tó củ kiệu”. Ngoài cái áo lương dài, cái dù đen và đôi guốc gỗ, mỗi khi ra đường là các Cụ lại bối tóc hình củ kiệu và vấn dải khăn quanh trên đầu, một trang phục mà các cụ cho là đứng đắn nghiêm trang của một người đàn ông biết tôn trọng lễ nghĩa. Trang phục đó là hình ảnh đặc trưng của người đàn ông xứ ta mãi cho đến đầu thế kỷ thứ 20 mới bắt đầu có nhiều biến cải sâu đậm
MAO THUỶ THANH (*)Tiếng hát và du thuyền trên sông Hương là nét đẹp kỳ thú của xứ Huế. Trên sông Hương có hai chiếc cầu bắc ngang: cầu Phú Xuân và cầu Trường Tiền nhưng trước đây người dân Huế thường có thói quen đi đò ngang. Bến đò ở dưới gốc cây bồ đề cổ thụ, nằm đối diện với trường Đại học Sư phạm Huế. Một hôm, tôi và nữ giáo sư Trung Quốc thử ngồi đò sang ngang một chuyến. Trên đò đã có mấy người; thấy chúng tôi bước xuống cô lái đò áp đò sát bến, mời chúng tôi lên đò.
VÕ NGỌC LANBuổi chiều, ngồi trên bến đò Quảng Lợi chờ đò qua phá Tam Giang, tôi nghe trong hư vô chiều bao lời ru của gió. Lâu lắm rồi, tôi mới lại được chờ đò. Khác chăng, trong cảm nhận tôi lại thấy bờ cát bên kia phá giờ như có vẻ gần hơn, rõ ràng hơn.
HỒNG NHUTôi vẫn trộm nghĩ rằng: Tạo hóa sinh ra mọi thứ: đất, nước, cây cỏ chim muông... và con người. Con người có sau tất cả những thứ trên. Vì vậy cỏ cây, đất nước... là tiền bối của con người. Con người ngoài thờ kính tổ tiên ông bà cha mẹ, những anh hùng liệt sĩ đã mất... còn thờ kính Thần Đất, Thần Nước, Thần Đá, Thần Cây...là phải đạo làm người lắm, là không có gì mê tín cả, cho dù là con người hiện đại, con người theo chủ nghĩa vô thần đi nữa! Chừng nào trên trái đất còn con người, chừng đó còn có các vị thần. Các vị vô hình nhưng không vô ảnh và cái chắc là không vô tâm. Vì sao vậy? Vì các vị sống trong tâm linh của con người, mà con người thì rõ ràng không ai lại tự nhận mình là vô tâm cả.
MẠNH HÀTôi không sinh ra ở Huế nhưng đã có đôi lần đến Huế, khác với Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, Huế có nét trầm lắng, nhẹ nhàng, mỗi lần khi đến Huế tôi thường đi dạo trên cầu Trường Tiền, ngắm dòng Hương Giang về đêm, nghe tiếng ca Huế văng vẳng trên những chiếc thuyền rồng du lịch thật ấn tượng. Cho đến nay đã có biết bao bài thơ, bài hát viết về Huế thật lạ kỳ càng nghe càng ngấm và càng say: Huế đẹp, Huế thơ luôn mời gọi du khách.
VÕ NGỌC LANNgười ta thường nói nhiều về phố cổ Hội An, ít ai biết rằng ở Huế cũng có một khu phố cổ, ngày xưa thương là một thương cảng sầm uất của kinh kỳ. Đó là phố cổ Bao Vinh. Khu phố này cách kinh thành Huế chừng vài ba cây số, nằm bên con sông chảy ra biển Thuận An. Đây là nơi ghe, thuyền trong Nam, ngoài Bắc thường tụ hội lại, từ cửa Thuận An lên, chở theo đủ thứ hàng hoá biến Bao Vinh thành một thương cảng sầm uất vì bạn hàng khắp các chợ trong tỉnh Thừa Thiên đều tập trung về đây mua bán rộn ràng.
NGUYỄN XUÂN HOATrước khi quần thể di tích cố đô Huế được công nhận là di sản văn hoá thế giới, thành phố Huế đã được nhiều người nhìn nhận là một mẫu mực về kiến trúc cảnh quan của Việt Nam, và cao hơn nữa - là “một kiệt tác bài thơ kiến trúc đô thị” như nhận định của ông Amadou Mahtar M”Bow - nguyên Tổng Giám đốc UNESCO trong lời kêu gọi tháng 11-1981.
DƯƠNG PHƯỚC THU Bút kýXứ Thuận Hóa nhìn xa ngoài hai ngàn năm trước, khi người Việt cổ từ đất Tổ Phong Châu tiến xuống phía Nam, hay cận lại gần hơn bảy trăm năm kể từ ngày vua Trần Anh Tông cho em gái là Huyền Trân Công chúa sang xứ Chàm làm dâu; cái buổi đầu ở cương vực Ô Châu ác địa này, người Việt dốc sức tận lực khai sông mở núi, đào giếng cày ruộng, trồng lúa tạo vườn, dựng nhà xây đình, cắm cây nêu trấn trị hung khí rồi thành lập làng xã.
TRƯƠNG THỊ CÚCSông Hương, một dòng sông đẹp, sôi nổi với những ghềnh thác đầu nguồn, mềm mại quàng lấy thành phố như một dải lụa, hài hoà tuyệt diệu với thiên nhiên xinh đẹp và hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền chùa; với hàng trăm điệu hò, điệu lý; với những ngày hội vật, hội đua trải, đua ghe; với mảnh vườn và con người xứ Huế, là nguồn cảm hứng vô tận của người nghệ sĩ, thu hút sự say mê của nhiều khách phương xa. Không những là một dòng sông lịch sử, sông Hương còn là không gian văn hoá làm nẩy sinh những loại hình nghệ thuật, những hội hè đình đám, là không gian của thi ca, nhạc hoạ, là dòng chảy để văn hoá Huế luân lưu không ngừng.
TÔN NỮ KHÁNH TRANG Khi bàn về văn hoá ẩm thực, người ta thường chú trọng đến ẩm thực cung đình, hay dân gian, và chủ yếu đề cập đến sinh hoạt, vai trò, địa vị xã hội... hơn là nghĩ đến hệ ẩm thực liên quan đến đời sống lễ nghi.
TRƯƠNG THỊ CÚC• Bắt nguồn từ những khe suối róc rách ở vùng núi đại ngàn A Lưới - Nam Đông giữa Trường Sơn hùng vỹ, ba nhánh sông Tả Trạch, Hữu Trạch và nguồn Bồ đã lần lượt hợp lưu tạo thành hệ thống sông Hương, chảy miên man từ vùng núi trung bình ở phía đông nam A Lưới, nam Nam Đông, băng qua những dãy núi đồi chập chùng ở Hương Thuỷ, Hương Trà, Phong Điền rồi xuôi về đồng bằng duyên hải, chảy vào phá Tam Giang để đổ nước ra biển Đông.