Bài thơ thứ nhất
Ngày mai
ngày mai con sẽ viết bài thơ thứ nhất
tôi nói trên vai ba
khi ba cõng tôi qua buổi chiều bi ve xanh đỏ
đường bờ ruộng chia hoàng hôn thành thửa
nắng chia từng giọt vàng thơ
ô ăn quan
lũ chuồn chuồn tập chơi trên đám ruộng
bùn nâu mạ nõn
tôi còn nghĩ về bài thơ thứ nhất.
Chẳng phải con đã có rồi sao, ba nói
bài thơ thứ nhất có hình chiếc nón
mẹ che nghiêng cả mặt trời
con chạy lon ton
chiếc nón nhấp nhô bờ tre hóp
tóp mỡ hành khô bánh bèo bánh nậm
giỏ xách rổn rảng
mẹ mang chợ về trong tiếng lanh canh
lồng ngực con vừa tròn gian bếp
con trốn vào nón mẹ nằm mơ
và con có bài thơ thứ nhất
khi con nói với ba
chiếc nón thênh thang như một mái nhà.
Chẳng phải con đã có rồi sao, ba nói
bài thơ thứ nhất là âm thanh sau thớ vỏ bạch đàn
con bửa củi ngày đêm cặm cụi
gõ huyền thoại lên thớ gỗ màu tro
huyền thoại già như bàn tay của cố
có âm thanh cất lên từ khoảng trắng
và có bài thơ thứ nhất
khi con nói với ba rằng con đã biết
một cổ tích sau lớp vỏ sần sùi.
Chẳng phải con đã có rồi sao,
bài thơ thứ nhất là mùi thơm của giấy
trang vở ô li
lần đầu tiên con biết
điều kỳ diệu chạy trên từng dòng kẻ
con ghi âm tiếng mẹ đẻ của mình
có vầng trăng ngủ dưới đáy khe xa
có tương lai ngủ dưới một mái nhà
và có bài thơ thứ nhất
khi con nói với ba
trang giấy thơm như một cánh rừng già.
Chẳng phải con đã có rồi sao
bài thơ thứ nhất là vị hăng của nắng
nếm nghe mằn mặn
tóc con rơm rạ mùa hè
có cánh đồng ướt đẫm lưng ba
có giấc trưa giòn giòn lúa khén
có bài thơ từ ấy chào đời
khi con nói với ba con đã biết mồ hôi không được ngọt.
Chẳng phải con đã có rồi sao
bài thơ thứ nhất là buổi chiều xót xáy
con chạy trên cánh đồng
và con cứ chạy
đừng ngoảnh lại tìm
bài thơ thứ nhất
căn cước làm người
đã viết sẵn trong tim.
Vườn ươm mùa thu
Cô gái nhỏ mặc chiếc đầm vàng nhảy lò cò dưới tán cây
Thi thoảng dừng lại nhặt một mảnh vỡ tiếng ve chiều hạ biếc
Cất vào trong trí nhớ
Mỉm cười nghĩ ngợi
“Giá một lần thành con ve nhỏ
Trên trái mùa hè
Treo ngược màu xanh.”
Đang lúc say sưa
Cuộn tròn trong nếp nghĩ
Đôi chân mộng mơ nhảy khỏi vòng tròn mình đã vạch
Chạm phải mùa hè, chiều nhòe nhoẹt mưa
Mưa trên đầu cô bé
Nhòe nhoẹt tóc
Mưa trên tàng cây khóc
Nhòe nhoẹt những bông hoa đang lớn
Nhòe nhoẹt xác hoa phai
Cô bé vẽ lại những bông hoa đã mất
Rèm mi cong ướt trĩu một hoàng hôn
Nhưng chẳng giống, chẳng bao giờ giống nữa
Những bông hoa chỉ đến một lần
Như tuổi trẻ.
Cô bé đó là em ngày anh đến
Anh không mỉm cười không một lời an ủi
Anh chỉ nói hãy là một bông hoa
Dưới tán bốn mùa.
Em đi qua miền đất nơi mùa hè bỏ lại
Sống cạn
Những buổi chiều màu xám vắt ngang khung cửa nhỏ
Chỉ còn xác mùa hè trên đôi tay vụn vỡ
Đã đi rồi, cô bé đã đi rồi
Cô bé mặc chiếc đầm vàng nhảy lò cò dưới tán cây không bao giờ
về lại nữa
Em chôn cất con ve nhỏ của mình.
Anh nói đừng tiếc những bông hoa đã mất
Hãy ươm mùa hoa mới trên mảnh đất trống mùa thu.
(TCSH438/08-2025)
Tải mã QRCode
Lưu Thị Bạch Liễu - Nguyễn Thuấn - Ngô Thị Ý Nhi - Nguyễn Đạt - Nguyễn Thiền Nghi
Ngọc Biển - Bích Hải - Nguyễn Thị Duyên Sanh - Đông Hương - Hồng Vinh
Kiều Công Luận - Phan Công Tuyên - Hoàng Lê Diễm Trang - Lê Hào - Trần Hương Giang - Nguyễn Hoàng Dương
PHẠM VĂN VŨ
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO
Từ Hoài Tấn có thơ xuất hiện khá sớm trên báo Văn (miền Nam) khoảng giữa năm 1960. Ngay từ buổi đầu, thơ Từ Hoài Tấn đã có một giọng điệu riêng. Và khác với một số người trong nhóm Nội Dung ngày ấy (như Thái Ngọc San, Mường Mán, Nguyễn Miên Thảo…), Từ Hoài Tấn có vẽ lặng lẽ như sự tách biệt của một con đường độc đạo để đi vào khu rừng nội tâm.
HỒ ĐẮC THIẾU ANH
*Ghi nhớ ngày tiễn đưa Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 01-04-2001
Lê Từ Hiển - Nguyễn Như Huyền
Hồ Đắc Thiếu Anh - Nguyễn Hoàng Thọ - Trần Xuân An - Trần Hữu Dũng - Dương Thành Vũ - Nguyễn Hoàng Anh Thư
NGUYỄN HƯNG HẢI
Trần Vàng Sao - Ngô Minh - Phùng Tấn Đông - Nguyễn Văn Phương - Lê Ánh
Phùng Tấn Đông - Bạch Diệp - Nguyễn Man Kim - Đoàn Mạnh Phương - Ngô Công Tấn - Vĩnh Nguyên - Phan Trung Thành - Lê Hưng Tiến - Nhất Lâm - Châu Thu Hà - Nguyên Tiêu
Nguyễn Đức Quang - Đặng Thị Vân Khanh - Tuyết Nga - Thạch Quỳ
LTS: Phùng Quán sinh năm 1932, quê xã Thủy Dương thành phố Huế, gia nhập Vệ Quốc đoàn năm 13 tuổi (1-1946) làm liên lạc, chiến sĩ trinh sát trung đoàn 101.
Đinh Thu - Thái Kim Lan - Ngàn Thương - Hoàng Thị Thương - Nguyễn Miên Thượng - Nguyễn Loan - Vũ Trọng Quang - Trần Hữu Lục - Lê Huy Quang - Đỗ Hàn - Mai Văn Hoan - Trần Tịnh Yên
Nguyễn Đạt - Lê Ngã Lễ - Nguyễn Đông Nhật - Xuân Cao - Từ Hoài Tấn - Tôn Phong
PHAN ĐẠO
Đinh Cường - Anh Túc - Trần Hoàng Vy - Trần Hữu Lục - Nguyễn Thiền Nghi - Đông Hương - Thanh Trắc Nguyễn Văn
ĐỖ TẤN ĐẠT
Thái Kim Lan - Nguyễn Đặng Mừng - Đông Hương