Chiều thanh thản

14:56 06/03/2018

Tác giả tự giới thiệu:
Sinh 1952. Thuộc thế hệ đi từ trong bưng ra. 10 năm cầm viết. Những tác phẩm chính: "Quãng đời ấm áp" - tập truyện 1986. "Ngày của một đời” - tiểu thuyết 1989. "Con chó và vụ li hôn" - tập truyện 1990. "Chuyến đi của mẹ" - kịch bản phim 1990.
TB: Nếu truyện không vừa ý, BBT hãy ách lại. Tác giả không buồn đâu.

DẠ NGÂN

Anh còn một bà má. Thật là may mắn, khi giữa cõi đời chộn rộn này, anh còn một bà má.

Anh không còn trẻ nữa. Đã hơn mười năm kể từ cái hôm má anh bất giác nhìn thấy trên đầu anh một sợi tóc bạc. Bà phát hiện nó bằng trái tim nhạy cảm của người mẹ trong khi mắt bà đã kém nhiều, mỗi lần xỏ kim bà phải cậy nhờ một trong ba đứa con anh lúc đó chưa theo anh ra thành. Bà đưa sợi tóc đó ra trước mặt mọi người, giữa bối cảnh trang trọng, nó như lời thông báo bùi ngùi rằng cuộc chiến tranh đã đi suốt thời trai trẻ của người con bà, rằng bà đang cầm trong tay cái thời khắc chinh xế của anh và cái chiều tà của đời mình. Sẽ không bao giờ anh quên gương mặt má mình trong khoảnh khắc bà nhìn thấy trên đầu đứa con trai trụ cột sợi tóc bạc đầu tiên. Đã hơn mười năm, kể từ ngày đó...

Nên anh không còn trẻ nữa. Nhưng anh còn có một bà má. Thật là may mắn, khi trên cõi đời chộn rộn nầy, anh còn có một bà má.

Giờ thì anh hiểu vì sao trong câu chuyện làm quen dọc đường, cửa miệng những người già thường bật ra câu hỏi: "Ông cụ bà cụ chú em còn mạnh giỏi không?". Nghe anh trả lời, người đó liền an ủi: "Vậy ra chú em còn có phước!". Giờ thì anh hiểu rằng, tuổi thọ của người đẻ ra mình là hạnh phúc, thứ hạnh phúc đi cùng với phước đức cho người con. Rằng đối với người có tuổi, những tiếng Người Mẹ và Quê Hương đã thiêng liêng hơn, thiêng liêng đến bùi ngùi. Rằng bây giờ, con người mới nhận ra một lẽ: vợ thì bất kỳ nhưng mẹ chỉ có một.

Giờ thì anh ngồi đó, mệt mỏi ngọt ngào sau chặng đường bộ từ bến tàu đò, đôi chân phất lên mùi cỏ mực ở những vạt ruộng hè thu trên cánh đồng đựng cả tuổi thơ anh, đôi dép da trở thành chướng ngại với đất sình được xỏ thành xâu bằng mấy sợi rơm ướt cho dễ cầm lúc lội bộ đang nằm lăn lóc, lạc lõng ở thềm cửa.

Má anh bước lại chiếc tủ thờ kê sát vách giữa, đôi chân thoăn thoắt. Hai cây nhang được cắm xuống lư hương, một để bà báo với ba anh tin anh về và một cây kia, bà đốt thay cho anh. Rồi bà quày vô buồng. Anh lắng nghe mùi nhang ngậm ngùi trong ngôi nhà đang ấm dần lên, cái mùi nếu không có nó sẽ không làm nên hương vị buổi về thăm của một hoặc những đứa con trong gia đình. Anh nhìn quanh, ngôi nhà vẫn ngăn nắp như khi anh về lần trước cách đây ba tháng, nhưng rêu đã xanh hơn trên nền gạch thềm nhà.

Má anh trở ra đưa cho anh cây quạt bằng mo cau. Anh đưa chiếc quạt mo lên mũi trong khi má anh ngồi xuống góc ván thư thái têm trầu. Đây rồi, mùi mo cau trong ký ức, cái mùi thơm thơm của chiếc tàu cau vừa rớt xuống gốc cây, mặt trong sạch bong như không có gì sạch hơn nó được. Vậy rồi anh đặt lên đó hai đứa em áp út để nó được "đi xe". Vậy rồi anh cong lưng xuống trong tiếng cười ngất ngây của chúng, âm thanh ràn rạt từ dưới "xe cau" vang lên, bụi bốc lên, mồ hôi mồ kê bốc lên và niềm vui sướng của người anh đã đem sự nghịch ngợm và cơ bắp của mình ra làm nỗi thích thú cho các em mình cũng bay lên. Và đây nữa, mùi cơm nắm anh giắt theo mình mỗi khi ra ruộng, đối với anh, cơm nắm trong mo cau ngọt miệng hơn cơm cất vô cà mèn nhôm hay nhựa.

- Con về được mấy ngày, Hậu?

Vẫn là câu hỏi dò dè dặt và sốt ruột của mọi lần. Vẫn ánh mắt khẩn khoản trước câu trả lời của anh. Ôi, những đứa con đủ lông đủ cánh, những đứa con hiếu hậu của má, má đâu đòi hỏi tụi con gì nhiều, chỉ xin tụi con đôi ngày phép và một ngày nán lại của tụi con giá trị bằng một năm sống của má đó! Lần nào anh cũng đọc thấy ở má lời khẩn cầu và lần nào anh cũng cảm thấy mình là kẻ bất hiếu tệ hại. Nhưng công việc xã hội đâu phải chuyện đùa.

- Má mạnh, nhà cửa không cần sửa sang gì thì con trở lên sớm! - Anh trả lời, theo anh đó là cách trả lời khiến má anh hài lòng chút đỉnh.

- Thì má biết con bận chớ!

Đó không phải là lời nói mát mà là câu nói đồng cảm và hiểu biết đầy bao dung. Với bà, cương vị xã hội của anh, ý thức trách nhiệm lành mạnh trong công việc của anh luôn là niềm tự hào và là một phần cuộc sống của bà. Bà ủng hộ anh trong mọi việc, trừ cái việc anh muốn bà ra thành sống với anh. Bà từ chối lời cầu xin đó với một đống lý do mà càng lớn tuổi, anh càng thấy má mình có lý.

Má anh vẫn nhai trầu ở góc ván và bắt đầu kể lể chuyện xóm giềng. Còn anh thì nhìn thấy cả một góc vườn qua cửa chái bếp. Hàng dừa bờ ranh trồng sau hiệp định Pa-ri giờ đã ra dáng thiếu phụ với những quày trái to mỗi trái chứa đủ nước cho cả ba người uống. Mươi nọc trầu vàng dưới gốc tấp đầy lục bình tươi. Và cây khế ngọt, cây khế với cái chạc ba hồi nào anh hay ngồi để đối đáp với lũ chim tu hú trên đọt mù u gần đó vào những buổi trưa thanh vắng nay đã cao lêu đêu bằng mấy chiều cao đàn ông của anh. Dưới cái tán đường bệ là một bóng râm gợi cảm nhưng lạnh lẽo vì không có dấu chân trẻ con. Lá cây nằm lả tả trên mặt đất ươn ướt và những chùm trái vàng mọng lấp ló giữa những cành nhánh lòa xòa.

- Năm nay khế được mùa má ha? Con nít xóm này chê khế chín rồi sao?

- Ừ! Xoài trúng thì lúa thất. Không biết khế sai thì mất mùa gì? Xóm mình nhà nào hổng trồng khế? Có đem ra chợ bán thì mới mong...

Má anh bỏ lửng câu nói và đứng dậy bước ra thềm nhổ bã trầu xuống rãnh sân. Bà trở vô với vẻ mặt bất chợt buồn. Anh biết, là người sùng bái tổ tiên và say mê vườn tược nên miếng vườn hương hỏa là cuộc đời của bà. Bà buồn bực vì sản vật mọc lên từ vườn nhà, từ hai bàn tay của bà phải bỏ phí, theo bà đó là một trọng tội với đất đai và dù biết vậy, bà cũng đành bất lực.

- Thì đi chợ! - Anh nói, quả quyết đứng dậy như anh vừa quyết định một việc trọng đại - Mơi hai má con mình ra chợ đi!

Anh bắt gặp cái nhìn nghi ngại của má, cái nhìn làm cho anh thấy tủi thân. Hóa ra, với má, anh cũng là một ông giám đốc sao? Không, anh muốn khi ở bên má, thì anh chỉ là ông con của má thôi, đứa con chỉ có quyền có một thứ thái độ đối với má mình.

- Thì con sẽ ngồi chợ với má! Anh nói để má yên lòng rằng anh không có tí mặc cảm nào trong chuyện đó và để khuấy lên không khí của buổi chợ chắc là thú vị vào ngày mai.

Bắt đầu một cuộc rảo vườn. Má anh đi săng sái phía trước, hai gót chân nhỏ thoăn thoắt như người đàn bà vào độ trung niên. Anh đi sau, tay cắp thúng, tay cầm dao, như đứa con ngoan ngoãn hồi nào. Rồi bắt đầu một cuộc sắp soạn dưới ánh đèn dầu cho buổi chợ khuya. Một thúng khế. Một chục dừa khô. Một mớ chanh và một nhúm ớt hiểm. Vài buồng chuối già hương. Vài quày cau lòng trắng... tất thảy là niềm vui bổ trợ vào giá trị tinh thần mà má anh tưởng đã mất theo tuổi già. Nhu cầu tiền nong và đời sống ở đây đã bị xếp xuống hàng thứ. Anh ngồi nhìn má anh sắp đặt, gói ghém và anh bỗng phát hiện ra rằng quyết định cùng má ra chợ đã trả lại cho bà cuộc sống mà chính bà cũng tưởng nó ngủ yên trong sự già yếu của mình.

- Thôi ngủ sớm, khuya còn dậy, con! Má anh âu yếm ra lịnh.

Trước khi thiếp đi, anh còn thấy một ngọn đèn dầu dừng lại trên đầu nằm của anh, một mái đầu với búi tóc nhỏ như củ tỏi lung linh trên vách lá, một bàn tay nhẹ nhàng luồn dưới chiếu chận sâu thêm mí mùng cho anh.

* * *

Anh bị dựng dậy từ lúc ba giờ. Trong cái xẻo dưới bến đã sẵn một chiếc xuồng khô ráo và cả một cặp quai chèo mới đánh bằng dây chuối xiêm. Má anh để cây đèn con cóc vô cái lồng đèn bằng thiếc để soi đường cho anh xuống đò.

Sông nước Đục trầm mặc với hai biền dừa nước và một dãy lục bình đen ngòm. Bầu trời nhẹ nhõm hứa hẹn một ngày ráo tạnh. Xóm làng khuất sau rừng lá hình răng cưa, đắm mình trong tịch mịch khiến anh có cảm tưởng quê hương anh kín đáo và bí ẩn như một thiếu phụ mà anh chưa hiểu bao nhiêu.

Chiếc xuồng nhỏ rời sông lớn để quẹo vô con kinh tắt ra kinh xáng thị trấn.

Qua khỏi Sóc Sen với đuôi rắn thần cong vót trên mái chùa thếp nước sơn vàng, sao mai đã mọc trước mũi xuồng và anh nghe trong hơi sương có mùi khói bếp, thứ khói quợn trên mái lá dừa nước giác hừng đông tạo thành mùi ngon ngót riêng tư làm nên hương vị đồng bằng trăm năm thân thuộc. Cuối cùng, khi tay anh thấm mỏi thì mặt trời như cái lòng trứng nóng hổi cũng vừa nhô lên cùng lúc với sự xuất hiện của cái chợ dài ngoằng bên ngã ba kinh xáng.


Anh chuyển hàng lên bờ qua mé bãi đầy bã mía. Cuối cùng, hai má con anh cũng chọn được một chỗ vừa ý ở cuối dãy hàng tự tiêu tự sản, cạnh một đệm khóm chín của đôi vợ chồng trung niên. Ở đây, anh đinh ninh mình sẽ có cơ hội gặp gỡ nhiều người bạn thời xa vắng. Trừ những người không trở về sau chiến tranh, số còn lại đều đã thành cái gì đó ở khắp nơi, và dĩ nhiên, ở huyện nhà, họ là những người quan trọng.

Bày hàng lên mấy tàu lá chuối xong, anh ngồi xuống bên bà má đang như trẻ lại khi những sản vật tươi rói của vườn nhà bày ra giữa thiên hạ và khi trước mắt bà là khung cảnh sôi động mà những người già còn chút ít sôi nổi đều thích gặp lại nó. Còn anh, anh thấy mình hòa nhập một cách dung dị vào đám người chơn chất ở góc chợ, những người đang mời khách mua bằng nụ cười nghiệp dư vụng về. Và anh cũng cảm thấy thú vị khi có những chốc lát ngồi sát mặt đất mà ngắm cuộc đời qua những con người trong thứ quan hệ đơn giản và sòng phẳng.

Cùng lúc với một người đàn bà mặc một cái áo dính đầy mủ trái cây, có vẻ là dân mua đi bán lại ngồi lại bên thúng khế, một chiếc xe thời mới lập lòe phóng vút qua mặt anh. Linh cảm người đàn ông cỡi xe máy vừa vèo qua chỗ anh là người quen, anh nhóng lên dòm. Mắt anh chạm ánh mắt người ấy vừa ngoảnh lại, chắc cũng bằng linh cảm. Đúng rồi, một thằng bạn! - anh reo thầm. Nét mặt người bạn ấy ánh lên vẻ ngạc nhiên và xa cách nhưng anh đã không kịp ghìm bàn tay vừa huơ lên cốt để người đó nhận ra chính anh đang ngồi ở góc chợ nầy. Bây giờ, hai má con anh bỗng bị vây giữa những người đàn bà tranh nhau hỏi giá các thứ hàng, họ thi nhau chê eo chê ỏng để chứng tỏ sự khôn ngoan chợ búa và sự kỹ tính của mình. Dù vậy, anh vẫn không muốn xổng mất bạn mình nên lại nhóng lên xem với hy vọng chiếc xe sẽ quay lại. Quả nhiên, trước mắt anh hiện ra mồn một cái trán đỏ đắn với mái tóc quăn tự nhiên và cái bụng tròn trặn lộ rõ trong dáng ngồi bệ vệ. Mắt người ấy hướng về phía anh nhưng khi bánh xe gần chạm vào cái bảng đề "Khu tự tiêu tự sản", nó liền ngoặt lại. Anh còn kịp thấy vẻ ngạc nhiên kỳ cục đọng trên gương mặt người ấy. Rồi chiếc xe bon về hướng đầu chợ, nơi bên kia cầu là khu hành chánh của huyện, để lại phía sau một làn khói mỏng tang và sự thất vọng ngơ ngác của anh.

- Con mới thấy thằng Thường nè má! Thường con bác Tư Lự ngoài kinh Trâm Bầu. Giờ ăn gì mà nó mập quá trời!

- Bộ nó hổng thấy con sao? - Má anh hỏi trong khi tay vẫn cắt cau để bán cho một cụ già.

- Chắc là thấy - Anh đáp phân vân - Thấy mà chắc nó không ngờ con ngồi chong ngóc ở đây!

Rồi công việc mua bán cuốn anh. Bao giờ người mua cũng thích hàng tươi ở khu tự tiêu tự sản và cả thái độ thiệt tình của người bán nữa. Sau đó, nhân lúc ngơi khách, má anh bảo:

- Con ngồi một mình lát, để má xuống thăm chừng chiếc xuồng!

Trong lúc anh lúi húi thu tiền, một bàn tay sỗ sàng của ai đó lật cái lưỡi trai trước trán của anh lên. Lại một người nữa trong nhóm năm người của họ thời trung học. Thắng-kẹo, biệt danh mà cả lớp hồn nhiên ám chỉ tánh keo kiệt của cậu ta và cậu ta cũng chấp nhận nó một cách hồn nhiên. Anh còn nhớ như in cái góc lớp ẩm thấp, nơi cậu ta thường lánh ra để ăn hết gô cơm một mình trong khi mọi người đều bày cơm của mình ra giữa nền lớp để ăn chung, những túi cơm bằng mo cau hoặc đan từ lá dừa nước. Vậy mà họ vẫn chơi chung với nhau. Ôi, cái tuổi học trò, sao mà dễ dàng gắn bó!

Anh đứng bật dậy trước sự xuất hiện bất thần của Thắng-kẹo. Người này không ôm choàng lấy anh như hồi xưa, cũng không chìa tay cho anh bắt. Hai tay ôm khư khư cái "tép" da trước ngực, ông bạn anh nhìn anh, đôi lông mày sâu rọm châu lại khít rịt, dưới đó là cái nhìn ái ngại thực lòng. Lúc đó anh không hiểu sao cuộc gặp của họ bắt đầu bằng ánh mắt đó. Anh buột miệng:

- Làm gì mày dòm tao như dòm đứa thất trận vậy? Khỏe không? Vợ con thế nào?

- Thất trận hay chán đời? - Bạn anh hỏi vặn, ánh mắt không thay đổi - Gặp thằng Thường ngoài quán cà phê, nó nói in là ông ngồi bán khế ở ngoài nầy. Tui nào có tin! Ông đương làm việc sân sẩn mà. Tụi nầy ở tít dưới này nhưng cũng nghe tiếng ông. Chà, hoạt quá chừng ha? Nhưng Thường nó nói chắc là ông. Tui sực nhớ nhà ông có cây khế ngọt nổi tiếng. Hai đứa bàn về ông một hồi, nó cử tui ra đây coi hư thực thế nào. Sao, hưu hả? Chi cho thiệt thòi vậy? Thời buổi này làm được việc cũng không ít kẻ thù, tui biết chớ. Nhưng mà chọn phương án hưu non là hạ sách!

- Thì cũng phải hưu thôi! - Anh nói, cảm thấy hứng thú ban đầu bay biến, chỉ còn cảm giác xa lạ vì bạn anh đang thốt ra những lời lạ lẫm mà không biết anh đang nhận ra rằng, hình như hai người không cùng ngôn ngữ.

- Biết làm sao bây giờ! - Bạn anh nói bằng giọng trách cứ và tiếc rẻ giùm cho anh, đoạn cao giọng - Ông có muốn làm hợp đồng với tụi tui không? Tụi này cũng cần vói tay lên thành phố, giờ có ông thì êm lắm. Nè, sao hổng hưu ở trên, kiếm cái nhà mặt tiền làm ăn ngon hơn? Ừ, kẹt bà già dưới này ha?

- Thôi, mầy để tao yên, Thắng! - Anh đáp buồn bã.

Tưởng anh bực mình vì cuộc sống mà anh đã chấp nhận đang bị quấy rầy, Thắng ngao ngán nhìn anh lần nữa rồi co tay xem đồng hồ:

- Thôi, tùy mầy! Tụi tao uổng cho mầy với sợ mầy buồn. Hưu là buồn lắm, như bị bỏ quên vậy. Tới giờ họp rồi, khi nào về trỏng tao thả bộ ra mầy chơi. Cho kính lời thăm bà má nghen!

Không còn không khí để anh báo với người đó việc má anh cũng có mặt trong buổi chợ nầy. Anh để cho người ấy đi, và nhìn theo hồi lâu dáng tất tả của anh ta, cái tép huơ huơ như một thứ trang sức kệch cỡm.

Vừa lúc má anh trở lên. Bà hỏi:

- Đứa nào mới nói chuyện với con mà má thấy quen quen?

- Thằng Thắng! Thắng con bác Mười Cang ở xóm trong. Nó tưởng con về hưu mới ngồi bán khế!

- Sao tưởng kỳ vậy? Bộ ngồi chợ là chuyện hèn mọn lắm sao?

Má anh đã phản ứng mạnh mẽ bằng cá tính của một thời của bà nhưng lại nhìn sang anh bằng ánh mắt thăm dò. Rồi hai má con anh không có thời gian đi sâu vào chuyện đó nữa. Có mấy người phụ nữ bu quanh mớ hàng và cằn nhằn anh không lo buôn bán gì ráo; một người trong số đó đứng dậy ngoe nguẩy bỏ đi.

Lát sau, trong lúc anh lựa khế giúp một khách hàng tí hon, anh nhìn thấy hai bàn chân nhàn nhã của một người đàn ông trong đôi xăng-đan màu da bò. Đôi chân này dừng lại chỗ anh nãy giờ, nó như nói với anh rằng nó không vô tình đứng lại bên anh. Ngược lên anh bắt gặp một gương mặt quen thuộc nữa. Hãnh - tên người đó - gật đầu chào má anh rồi hiệu cho anh đứng lên. Vẫn vẻ mặt cao đạo như một triết gia chưa thành đạt, vẫn cái nhìn vượt qua đầu thiên hạ và bây giờ lại thêm nước da bệu bạo và đôi môi thâm xì, chứng tích của bia bọt vô độ khiến người ấy có vẻ mặt sửng vửng và ngây độn. Ký ức anh hiện lên một cậu Hãnh hay có khuynh hướng thủ lĩnh trong các cuộc chơi và tranh cãi của nhóm. Và anh ta hay đạt được ý nguyện của mình không phải nhờ tài cán mà nhờ vẻ mặt biết làm ra vẻ lạnh lùng đúng lúc.

Anh đứng lên, dù sao cuộc gặp gỡ cũng làm anh thú vị. Sau khi ban cho anh một ánh mắt xót xa, Hãnh cất giọng quan trọng:

- Nói thiệt tao nghe, Hậu, mầy bị vụ gì? Gái hả? Mầy thì không có chuyện tham lam rồi. Nghe thằng Thắng nói mầy về hưu, tao chớ có tin. Làm ăn giỏi như mầy mà cho về hưu, khác nào xúc lúa đổ vô bồ mầy! Chắc là có chuyện gì mới về bán khế đây, hả cha?

Anh ta cười, nụ cười đùa cợt đầy cảm thông và kẻ cả. Tự dưng anh thấy giận, giận sôi sục và chỉ muốn đấm vô cái miệng đang phả ra cái mùi khê nặng của bia bọt đâu đó hồi đêm. Nhưng anh kịp thấy mình vô lý nên chỉ cúi xuống, trả lời qua loa:

- Thì cũng phải ra dân để qua góc chợ nầy mà nhìn đời với chớ!

Hãnh không nói gì, lẳng lặng nhìn anh, ánh mắt ra chiều thương hại tâm trạng bấn loạn của đối tượng mình an ủi. Bao bọc họ là sự im lặng đầy bất tiện. Cuối cùng, Hãnh chặc lưỡi:

- Vầy đi Hậu! Chừng tan chợ mày tạt qua chỗ tao, tụi mình tâm sự thêm. Tao phải đi, tới giờ họp rồi. - Anh ta nhìn xuống bà má của bạn mình - Con đi, bác! Dù sao Hậu nó cũng được tự do rồi, nó về với bác rồi!

Hãnh đi rồi, khi anh ngồi xuống bên má, bà nhìn anh ái ngại và ôn tồn bảo anh kiếm chỗ nào đó ngồi, ở đây gặp người quen liền liền, người ta coi rẻ anh, bà cũng khó chịu. Anh gạt một cách quyết liệt để má anh hiểu rằng anh không hề thấy bị xúc phạm hay mất giá khi ngồi bên má ở góc chợ này. Anh biết, dù bảo vậy nhưng giá anh bỏ đi, bà sẽ chạnh lòng.

Lát sau khi chợ đã thưa người và trong thúng chỉ còn một ít khế, anh nhìn thấy từ xa một người đàn ông mặc áo lính với khuôn mặt vuông vức quen thuộc. Chỉ có dáng đi hơi khác. Vừa bước những bước cà nhắc khó nhọc, người đó vừa dáo dác tìm ai trong hàng người ngồi sau các khúm hàng. Linh cảm báo cho anh biết rằng người đó đang tìm anh. Luồng mắt họ gặp nhau và anh đứng bật dậy.

- Mầy hả Trạng? Khỏe không?

Trạng không nói không rằng, lầm lầm đi tới như chiếc tàu điện, vẻ mặt tràn đầy xúc động. "Chiếc tàu điện" ấy dừng lại bên anh, nhấc bổng anh lên bằng hai cánh tay sức vóc rồi đặt xuống như một đứa bé:

- Vậy được chưa? Vậy thì khỏe hay yếu?

Lòng tràn ngập cảm xúc, anh nhìn xuống cái chân thương tật của bạn giấu trong ống quần bạc màu.

- Bị hồi nào? Căm-pu-chia hả?

Trạng nói điềm nhiên:

- Ừ, mìn biên giới! Vậy mới bị đưa về đây làm huyện đội. Anh nhìn thấy má của Hậu lúc này cũng bỏ mặc khách hàng, đứng bên cạnh hai người - Má ốm nhưng coi bộ sỏi hơn má con. Con về huyện mấy tháng nay, tính bữa nào ra thăm má với hỏi thăm tin tức thằng Hậu mà mới nhận việc, lu bù quá chưa đi được, má đừng chửi nghen?

- Đoạn anh quay lại bạn mình - Sao nghe thằng Thắng, thằng Hãnh nói....

Anh quàng tay qua vai bạn và ngoảnh lại nói với má:

- Tụi con đi cà phê nghe má!

Họ không vào quán cà phê mà tấp lại một xe nước mía lịch sự bên hè phố, đối diện với khu chợ nhóm. Trạng đẩy cho Hậu một cái ghế dưới gầm bàn còn mình thì ngồi xuống chiếc ghế bên kia, cái chân cứng khớp duỗi thẳng trên một chiếc ghế khác.

Lại một cái nhìn chăm chú và sốt ruột, như Trạng muốn đọc ngay cái uẩn khúc mà Hậu đang lâm vào. Người lính biết cái nhìn của mình khiến một người như Hậu không khỏi chạm nọc nên bối rối nhìn xuống ly nước mía mà cô chủ quán nhỏ nhắn vừa để trước mặt anh. Hậu biết bạn mình đang lựa lời và anh chuẩn bị nghe. Trạng máy đôi môi thâm đen vì sốt rét, khó nhọc do di chứng cà lăm hồi nhỏ đã từng khiến cả lớp nhộn lên mỗi khi anh trả bài. Chuyện càng quan trọng anh càng khó bắt đầu cho trơn. Hồi lâu, Trạng mới cất lời:

- Mầy có công nhận mía xứ mình ngọt gắt không Hậu? Hồi ở bên đất bạn, lâu lâu tao nhớ nước mía quá trời. Mầy có thuốc gì trong túi đó? Đà lạt hả, ừ thì bỏ ra - Giám đốc mà hút Đà lạt thì thường quá! Hay là bị cho về vườn nghỉ khỏe rồi?

Quả là một cách trinh sát bất ngờ đầy chất lính. Anh nhìn bạn gởi gắm:

- Nghe đây Trạng! Sở dĩ tao ngồi chợ với má không chỉ vì tao chiều bà già mà qua đó, tao muốn nói với bà rằng hãy còn nguyên đây cái giá trị con người mà má hằng sợ con đánh mất. Má tao có thể sống thêm vài năm nữa nhờ món ăn tinh thần đó!

Anh nhận được một bàn tay ấm nóng đặt trên bàn tay anh đang nắm lại trên bàn. Nó xiết anh một cái. Họ nhìn vào mắt nhau. Vậy cũng đủ tin cậy nhau rồi.

Khi anh trở lại chỗ má, bà cũng vừa đứng dậy, bên chân là cái thúng không và mấy tàu lá chuối đã cuốn bìa dưới nắng trưa. Anh theo má vô chợ, chắc bà tính đãi anh món bánh tằm xiếu mại mà hồi nhỏ anh thích. Cái khoảng cách tuổi tác cố định giữa anh và má một lần nữa khiến anh có cảm giác má anh chưa bao giờ trẻ như bà không hề có tuổi trẻ, má mình lúc nào cũng già vì người ấy là má mình. Và nhìn dáng vẻ gầy gò đang bước thoăn thoắt phía trước bỗng dưng anh lại nghĩ, có phải chính người ấy đã sanh ra ta, đã ẵm bồng ta trong khi ta cứ thấy nao nao khi cơ thể ấy ngày mỗi nhẹ tênh, như là một chút sơ sẩy thì vóc dáng thân thương kia sẽ biến mất, sẽ bay lên cõi trời!

Ăn uống và mua sắm xong, hai má con anh la cà ở mấy nhà người bà con trong thị trấn để trốn nắng và để má anh thỏa mãn tính thích hiếu hỉ đang sống lại trong bà do buổi chợ đầy cảm hứng đem lại.

Trên đường về, anh nhìn thấy trước mũi xuồng một khoảng trời roi rói sau khi mặt trời biến mất dưới mặt nước ngả màu tím sen. Người ta gọi hiện tượng đó là sự hồi quang. Nó chỉ có thể xuất hiện khi hôm nào bầu trời đạt được sự thanh thản tối đa của mình. Nó làm cho trời chiều bỗng đẹp lên, cái đẹp làm cho con người muốn ứa nước mắt.

Cần Thơ, 11/1987
D.N
(TCSH44/01-1991)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.