Chiều ấy chim yểng hót

08:51 08/04/2021

NGUYỄN BẢN

Anh vừa ngồi xuống đi-văng, bỗng giật mình:

- Hello, things, all right? (1)

Ảnh: internet

Tiếng hỏi nghe như tiếng đàn bà đanh đá. Chủ nhà mỉm cười, vừa chỉ chiếc lồng treo lưng tường phía sau anh, vừa trả lời:

- Quite well, miss Brown! (2)

Rồi rót nước và bảo anh:

- Yểng đấy, giống này sõi và không chua như vẹt.

Trời, anh lại nhìn thấy con yểng. Anh cứ tưởng không bao giờ gặp nữa. Con chim đen mỏ vàng.

- Mới mua à? Mua ở đâu?

- Của một tay hàng sách cũ.

- Ông dạy, hay hắn dạy sẵn?

- Ở chủ cũ, mới chỉ bập bẹ: "hoan hô", "nhà có khách".

Lại vẫn "hoan hô", "nhà có khách", có điều trước đây là hiệu thịt chó, bây giờ hàng sách cũ. Anh đứng dậy lại gần phía chiếc lồng, ngước nhìn lên. Con yểng nhìn anh lạ lẫm. Vẫn bộ lông đen mượt, vẫn chiếc mỏ vàng óng. Con yểng này, con yểng kia và con yểng bay đến với anh chiều hôm ấy, chúng khác nhau thế nào? Bất giác anh nhìn quanh lưng tường, cả bên trong lẫn phía đối diện. Cách đây dăm bảy năm lưng tường treo gần chục chiếc lồng, tròn, vuông, bát giác, lồng tầng, lồng cung đình, con Thanh, con Bạch, con Hoàng, con Hồng, con Trúc, các loại chim yến mầu sắc khác nhau, đôi khi xen lẫn cả chào mào, liếu điếu. Chủ nhà chúm môi huýt khẽ cho con Thanh đáp.

- Sáng sớm, nó hót mới căng!

Mấy lần, chủ nhà say mê trò chuyện với một gã ở xưởng phim, quên hẳn cả anh đang ngồi, những thuật ngữ chơi chim làm anh như lạc trong một phòng điểu học.

Chơi chim rồi chơi chó. "I-nu! I-nu Ị". Con chó trắng, lông xồm, mũi đỏ, mắt lồi, oăng oẳng sủa, ngoan ngoãn nhảy tẹt vào lòng chủ. Chủ nhà hãnh diện ôm chó bảo anh:

- Giống Nhật này khôn lắm, không như loại riềng mẻ của ông đâu.

Để cho câu nói thực sự nghiêm túc, anh ta nghiêm nghị cắt nghĩa:

- Hémisphère cérébrale (3) của nó to hơn chó ta nhiều.

Bán cầu não phát triển, dĩ nhiên nhu cầu chất đạm cũng phải cao hơn. Chủ nhà vui vẻ bảo anh:

- Ngồi đây tí nhé.

Chủ nhà chạy đi độ mười phút cầm về một bát hoa nhỏ Giang Tây cháo thịt, tay kia bao thuốc lá, thổi cháo cho nguội cho I-nu ăn, và thuốc lá bóc mời anh.

Một nàng I-nu, rồi một chàng I-nu, rồi thai nghén, rồi lâm bồn, mãn nguyệt khai hoa, một lũ I-nu con quấn quýt, nhà phải tháo cửa lùa chặn lại, sợ chúng bò ra ngoài phố. Mùi nước đái chó khai mù, ẩm ướt. Lần ấy anh đã lưỡng lự định không vào.

- Hàng ngày phải lau rửa à?

Người vợ nhăn nhó trả lời anh:

- Quá hộ lý, ông ạ.

Trên chim, dưới chó, nhưng chủ nhà lại có thẻ nhà báo, có cả thẻ ra vào câu lạc bộ quốc tế. Gọi là nhà báo thì đúng nhất, nhưng gọi là nhà thơ cũng được vì đã có thơ đăng từ báo "Tia sáng" với bút danh Thanh Lang; gọi là nhà biên kịch cũng xong, vì đã có kịch bản phim hoạt hình, phim đèn chiếu... và lúc đó đã hơn hẳn anh về ngoại ngữ vì đã học thêm tiếng Đức.

Nhà báo Thanh Lang sau khi khoe đã học thêm tiếng Đức, rút từ túi trong áo Veston ra cuốn sổ nhỏ giở những trang ghi chép tiền nhuận bút từ năm này sang năm khác cho anh xem, nếu đánh số thứ tự ắt phải tới non trăm tác phẩm, kể cả ý kiến ngắn, chuyện lạ đó đây, thơ trào phúng, vui cười... và không ít những thứ đó rút ra từ thế giới chim chó của anh ta...

- Còn thiếu khoản chuyến đi Kiếc-ghi nữa chứ?

- Cái đó không phải nhuận bút.

- Nhưng với danh nghĩa "Trưởng đoàn”, ít ra cũng khiến vài ba cô lác mắt?

"Trưởng đoàn" Thanh Lang bấm anh:

- Suỵt, khẽ chứ, hồ ly tinh nghe thấy thì bỏ mẹ.

Mùa xuân rón rén - Tượng: Phan Thế Bính

Nhưng đấy là những chuyện dăm bảy năm về trước. Bây giờ, nghĩa là từ ngày đứa con gái đi học nghề ở Tiệp về, thì Thanh Lang chỉ còn con Phốc để giữ nhà và mua thêm con yểng để "all right", mặc dầu lũ chim chó trước đây không phải không làm dồi dào thêm cảm xúc, xức thêm những tưởng tượng phi thường trong kịch bản, chuyện trẻ con, và chắc chắn còn đem lại số thu nhập lớn hơn cả quyển sổ nhỏ kia cộng lại, và mỗi lần nghe nói đến giá tiền một con Hồng, con Bạch, hoặc một nhóc I-nu, anh không thể không giật mình, vì thế nhất định chối từ nhã ý của Thanh Lang định tặng anh một con Thanh, loại hót căng nhất, vin cớ thích nghe tiếng chíu chít tự nhiên của chim chóc trong vườn, lại vụng về và biếng lười không đủ kiên trì chăm sóc chim lồng.

Thanh Lang và anh trước đây cùng dạy văn một trường cấp ba tỉnh Bắc. Hai người đều mong ước trở thành nhà báo. Từ năm 1954, khi anh gửi một bài tùy bút "Hội xuống đồng ở Bản Là" cho báo Nhân Dân, thì ở Hà Nội, học sinh trung học Thanh Lang cũng đã gởi thơ cho tờ "Tia Sáng". Tất nhiên tùy bút không được đăng, có lẽ vì lập trường chưa vững, vả lại không phù hợp với nhật báo, tòa soạn cám ơn và khuyên anh nên gởi cho Văn Nghệ nhưng anh không dám. Còn thơ của Thanh Lang thì được "Tia sáng” đăng, bài thơ đã được cắt khung để trong ví tiện cho bạn bè xem, và nhuận bút đã được kê biên trong sổ nhỏ. Thanh Lang bao giờ cũng may mắn hơn anh. Anh ta đạt ý nguyện và được chuyển về một tờ báo ngành. Hơn một năm sau, gặp nhau, Thanh Lang lúc này từ quần áo, dáng điệu đã ra dáng một nhà báo, những tin tức giật gân, những nhận định tầm cỡ, và tất nhiên cả những chuyện tằng tịu, dan díu của ông này cô khác, anh nọ bà kia... khiến anh không khỏi cảm thấy mình có đôi chút quê mùa. Nhìn bộ mặt vẫn đặc sệt tỉnh lẻ của anh, Thanh Lang ái ngại, như sực nhớ ra điều gì bỗng reo lên:

- À, báo Tổ Quốc đang thiếu một phóng viên!

- Thế à? - Anh chợt vui lên rồi lại ỉu ngay - Nhưng biết nhờ ai giới thiệu?

Thanh Lang chậc lưỡi:

- Cậu cứ gặp tay Sơn, phụ trách biên ủy đấy.

- Nhưng sao cậu biết?

Thanh Lang giơ hai ngón tay làm bộ quan trọng:

- Top secret!(4) Không được bảo tao mách, nghe không.

Anh không tin Thanh Lang lắm, nhưng mất gì, cứ thử xem, biết đâu. Xưa nay anh chỉ quen nói về những thất bại, những say mê ngốc nghếch của mình. Tự giới thiệu đã có truyện được đăng ư? Nhưng đó là thứ bèo bọt, mấy ai để ý. Đọc và dịch được vài ngoại ngữ, biết chụp ảnh, công tác từ chống Pháp, bỏ cái nào, nói cái nào. Liệu có vượt qua được nỗi xấu hổ nói về mình không. Tuy vậy Sơn tiếp và nghe anh rất tự nhiên, hào hứng, khiến anh vượt qua được tất cả, không lúc nào đỏ mặt, và mãi mãi về sau vẫn còn trân trọng thái độ lịch sự, hiểu biết ấy của Sơn.

- Tôi sẽ xếp anh phóng viên 4 - À mà anh tốt nghiệp Đại học Văn khóa nào nhỉ?

- Khóa 56.

- Khóa 56, khóa đầu à?

Sơn hỏi lại như một phản ứng, một phản ứng đã được đánh dấu rồi nhìn anh bằng một cái nhìn hơi khác lúc ban đầu, khiến anh không khỏi cảm thấy xao động trong lòng. Hình như Sơn cũng nhận ra được điều ấy, vội nói để anh yên tâm:

- Thôi được, sáng mai tôi sẽ sang bên anh làm việc ngay, nếu xong, chiều mai xong mọi thủ tục. Nếu không, coi như không xong, anh khỏi phải gặp lại tôi nữa.

Chưa bao giờ anh hồi hộp như thế. Sáng hôm sau, bài "Luận về chính học và tà thuyết", bài anh thường giảng rất thành công, nhưng buổi ấy chẳng ra sao cả. "Thật là con oanh học nói, xằng xiên bậy bạ... Ôi, Trịnh Khải đời Đường mà làm thủ tướng thì sự đời không nói cũng đủ biết rồi". Dạy xong, anh ra Ty xem kết quả ra sao, vẫn ân hận chưa giảng hết những ý ấy thì đã trống hết giờ. Cô đánh máy văn phòng Ty vui vẻ cho anh biết có chiếc xe Pabêđa sang lúc 8 giờ đã đi khoảng 9 giờ. Anh hồi hộp bước vào phòng quyền Trưởng Ty:

- Chào bác.

- Có việc gì đấy anh?

- Anh Sơn báo Tổ Quốc có sang gặp bác không ạ?

- Không, không có anh Sơn nào cả.

Mặc dầu vẫn linh cảm sẽ phải đón nhận cái tin hẫng hụt, người anh vẫn cứ run lên và không kìm được một câu khẳng định sỗ sàng:

- Tôi đã hỏi Văn phòng, rõ ràng anh Sơn có đánh xe sang?

Quyền trưởng ty đỏ mặt và còn khẳng định sỗ sàng hơn:

- Anh ấy có sang, nhưng không lấy anh nữa.

Không chào, anh bước ra, lòng chán ngán, rã rời. Cô đánh máy và mấy nhân viên văn phòng nhìn theo anh thông cảm. Về trường, cơm canh chắc đã ôi nguội. Anh rẽ vào một hiệu thịt chó. Vừa bước vào, anh đã giật mình:

- Yểng ơi, nhà có khách.

Rồi con yểng, lần đầu tiên anh nhìn thấy con yểng, con yểng trong lồng tíu tít nịnh anh:

- Hoan hô, hoan hoan hô!

Anh ngồi ăn lại nghĩ đến bài "Luận về chính học và tà thuyết”. Thật là con oanh học nói, xằng xiên bậy bạ. Con yểng chằm chằm nhìn anh rồi nhắc nhở:

- Yểng ơi, đời đẹp lắm Ị

Anh nhìn những bức tranh bờ hồ treo trên tường rồi nhìn gã chủ quán! Lạy chúa, cái bụng gã. Anh đã nhìn thấy ở đâu cái bụng này. Gã cười. Anh bảo gã:

- Ông dạy con yểng khéo quá.

- Khó nhất là việc gọt lưỡi nó.

- Lại phải gọt lưỡi kia à?

- Vâng, sáo cũng thế, vẹt thì không cần.

- Thế thì khó lắm nhỉ.

- Hẳn rồi, ông tính đâu phải như chuyện đập chó, mấy chầy là xong.

Mấy món ăn như quá nhiều tương mẻ, anh bỏ dở, đứng dậy trả tiền ra về. Trước khi về, anh lại gần nhìn con yểng. Con chim lông đen mượt, mỏ vàng. Nó ngơ ngác nhìn anh. Anh muốn bảo nó:

- Nào, chia buồn cùng tao một câu đi.

Nhưng nó nguây nguẩy và kêu thất thanh:

- Có trộm, có trộm!

Thế đấy, nó cũng nghi ngại anh.

Sau đó hình như Sơn tiếc anh, có đến thêm cả Bộ chủ quản để xin, nhưng vì khóa tốt nghiệp đã được đánh dấu và bản thân anh nằm trong số được đánh dấu, nên vấn đề vượt quá sự tế nhị thông thường, cần tự hiểu.

Còn Thanh Lang, tại sao hắn lại phải dấu chuyện mách bảo, hay hắn sợ bị lây dấu, nhưng anh vội gạt ngay cho là mình võ đoán.

Tuy vậy lần ấy anh buồn lắm.

Nhưng không có cái lần ấy, thì chín năm sau, một chiều đông giá lạnh, anh làm sao biết được tiếng hót kia, cái tiếng hót say đắm, trầm lắng mãi trong lòng anh, chính là tiếng hót của con yểng.

Anh vẫn vừa ầm ừ trả lời chủ nhà vừa nhớ lại tất cả. Nhưng một chiếc xe Toyota Corolla mầu sữa mới tinh, nhấp nháy đèn đến đậu ở lề đường, cắt đứt dòng hồi ức của anh. Vợ con Thanh Lang cuống cả lên:

- Bác Phương, kìa bác Phương đến.

Tài xế mở cửa xe. Một người đàn bà sang trọng, mỡ màng, trạc tuổi anh và Thanh Lang, ngần ngại đặt chân xuống hè. Thằng con lớn Thanh Lang biết ý, chạy ra ném cái nhìn giận dữ về phía anh, bê chiếc Jawa mầu vàng, rách yên để dọc hè phố như muốn quăng ra chỗ khác. Anh để dọc mép vỉa hè, cốt để khỏi vướng người đi lại, lại nào tính đâu đến chuyện nó cản bước chân người đàn bà mỡ màng kia.

Cả nhà Thanh Lang xô cả ra đón. Con yểng cũng nhảy lên, nhảy xuống như sợ chậm chân:

- Welcome, great pleasure! (5)

Chỉ còn mỗi mình anh trong nhà. Người đàn bà giơ tay vẫy con yểng, cùng tài xế theo mọi người vào, và khẽ nghiêng đầu chào anh. Anh bất đắc dĩ phải máy môi đáp lễ. Thanh Lang trịnh trọng:

- Chị Phương vợ anh... phó giám đốc sân bay...

Rồi quay về phía anh lúng túng:

- Anh... bạn cũ, giáo viên bên tỉnh Bắc.

Thanh Lang móc túi trong áo veston lấy ra bao Marl-boro giống như ngày nào móc cuốn sổ ghi nhuận bút, bóc thuốc mời tài xế, rồi mời anh.

Anh cám ơn vì đã hút quá nhiều, và cảm thấy ngồi lại sẽ vô duyên, anh đứng lên cáo lỗi mọi người. Thanh Lang ngạc nhiên nhắc lại việc hẹn nhau xem phim.

- Sao, không đến viện tư liệu à?

- Xin lỗi, vừa nhớ ra có chút việc riêng.

Thanh Lang tiễn anh ra tận ngoài đường:

- Nếu xong việc, sáu giờ lại đây cùng đi nhé.

Anh lên xe và tiếp tục trở về với con yểng. Lần sau, có lẽ lần sau con yểng nói tiếng Đức. Tiếng Đức thì anh chịu. Qua cầu Chương Dương, anh loạng choạng suýt lao vào thành cầu, giống buổi chiều nào anh loạng choạng lao vào bờ dứa dại vì đuổi theo con yểng, nhưng đấy là con yểng khác, con yểng trong bầu trời.

Đó là một buổi chiều giá buốt vào những ngày cuối năm 1972, khi B52 dội bão lửa xuống Hà Nội và những vùng phụ cận. Thị xã vắng ngắt. Khu vực phía Bắc nơi anh ở cũng sơ tán hết. Chỉ còn bác thương binh cụt tay, bảo vệ bệnh viện, một số người coi kho, những kho tàng đầy ắp các khoa phòng bệnh viện, kho đỗ tương, mì chính, thịt hộp, vải vóc, nghe đâu cả đồng hồ, pin đèn, điện máy... Ông già hàng xóm đã rút từ hai hôm trước. Con rể lão đã bán xong lợn, trước đó lão còn ở lại chính vì con lợn bảy tám chục cân của con gái lão. Qua hàng rào dứa ngăn cách hai nhà, lão hẹn hò anh: "Đêm, có gì tôi, bác gọi nhau nhé". Vậy mà nhá nhem tối, lão rón rén khóa cổng, lấm lét nhìn quanh rồi nhẩy lên xe đạp, phớt thẳng. Lão không biết anh vô tình nhìn thấy hết.- Nghe chuyện, bác bảo vệ nổi cáu: "Sao không túm lại hỏi luôn cụ đi đâu, cụ bảo đêm có gì gọi nhau cơ mà?, mẹ kiếp, lừa người ta trông lợn hộ à?"

Anh không đi chẳng phải vì bất cứ cái gì cụ thể. Chẳng có gì phải giữ. Ở nơi sơ tán chẳng có gì đáng kể. Ở nhà lại càng không. Một cái xe đạp, một giường cá nhân, một chăn bông, một xoong nhôm nhỏ, vài cuốn sách và ngoài vườn mấy luống rau cải đang nở hoa. Hàng ngày anh cắt vài cây mang xuống nơi vợ con sơ tán rồi đến trường cũng ở nơi sơ tán dạy vài tiết, rồi lại đạp xe về ăn ngủ ở nhà. Bác thương binh thỉnh thoảng xuống anh hút thuốc, chuyện gẫu, và đêm bất chợt gặp nhau bên bờ hồ, cái hồ nhỏ trước mặt nhà anh cùng nhìn về bầu trời Hà Nội rực hồng, pháo gầm, bom nổ, những vạch đỏ vun vút rạch nền trời, bất giác nhìn nhau như muốn hỏi: "Đêm nào thì đến lượt thị xã mình?”.

Anh ở lại chẳng phải vì nhiệm vụ gì, bảo vệ không, chiến đấu không, chẳng lẽ trông coi cái xác nhà chưa bằng cái bếp của một hộ nông dân? Vậy thì vì cái gì, chính anh cũng không biết, cũng chẳng tự hỏi, tại sao cứ thích ăn ngủ ở nhà lạnh buốt và hoang vắng. Có thể đó là do bản tính, anh thích chứng kiến, anh thích chứng nghiệm tâm hồn mình trong những sự kiện, anh thích lặng lẽ đi tới tận cùng của sự chứng giải. Cũng giống như anh phải đến lớp cho tới buổi cuối cùng những ngày cuối năm 46, khi vắng hết bạn học, không còn thầy giáo, mình anh trong cái sân trường Felix Faure lúc đó là của trường Chu Văn An, mênh mông, vắng lặng. Anh tiếc mãi đã về quê ngày 15, ngày 17 giặc chiếm Gia Lâm, đường tắt, anh không thể trở lại để sống cùng Hà Nội đêm 19 tháng 12. Ngay từ thời niên thiếu, anh đã thích lang thang một mình trong những đền chùa cổ kính, những nghĩa địa tha ma hoang vắng suy nghĩ về giáo lý, về sống chết. Thời chống Pháp, anh thường thích những lần đi công tác một mình. Một lần ở cao nguyên Hoàng Xu Phì, anh đi theo con đường dọc một triền núi đất, đến đoạn con đường uốn cong và như ngoặt lại phía bên kia, anh quyết định trèo tắt băng qua, nhưng rồi trước mắt anh triền miên những núi, con đường mất hút, dưới chân anh thảm cỏ xanh mượt, và có lẽ trên đời không còn nơi nào sạch bằng nơi đây, anh tháo ba lô, cởi áo, bỏ mũ, nằm xuống cỏ, nhìn trời trong veo xanh thẳm, bỗng từ một bụi sim sườn núi bên kia, một tiếng chim mi cất lên cao vút, chói chang, anh nằm mãi như thế nghe chim hót rồi trèo xuống trở lại con đường cũ.

Anh đang ngồi phơi nắng ngoài thềm cho đỡ giá, ôn lại những kỷ niệm "một mình" như thế thì Thanh Lang ở đâu tò tò bước vào. Sáu bẩy năm không gặp nhau, dù chẳng phải bạn bè tâm đắc, nhưng vào cái thời khắc này, anh xúc động thật sự lắc mạnh tay Thanh Lang:

- Kìa, nhà báo, cơn lốc nào, hay quả bom nào?

- Intéressant hả (6)

- Đi công tác hay...

- Từ nơi vợ con sơ tán về.

- Vậy ngủ đây chứ. Cơm lạc rang thôi.

- Ngủ chứ, anh thấy không, không ngủ lại với vợ lại về ngủ với bạn. Đáng một bài tùy bút chưa?

Anh xem đồng hồ, gần bốn giờ chiều, giữa mùa đông, đêm sập xuống rất nhanh, anh giục Thanh Lang:

- Ra giếng rửa mặt đi, mình đi nấu cơm kẻo tối.

Nhưng đúng lúc ấy, tiếng loa điện vang lên:

- Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Phòng không nhân dân thị xã nhận được tin điện: đêm nay, địch sẽ đánh phá thị xã ta, tất cả những ai hiện còn ở lại, khẩn trương rời khỏi thị xã, chúng tôi nhắc lại, yêu cầu mọi người rời ngay khỏi thị xã.

Hai người nhìn nhau. Anh bỗng thấy thích thú theo dõi những biến đổi trên bộ mặt Thanh Lang và nhắc lại điều vừa nói:

- Rửa mặt đi, khăn ở dây phơi, mình đi nấu cơm. Thanh Lang ngần ngừ:

- Khoan đã, làm gì mà vội, sớm chán.

Rồi móc túi lấy ra bao Điện Biên, bật diêm mời anh:

- Hút thuốc đã.

Thanh Lang vừa hút thuốc vừa nhìn về phía Hà Nội, rồi quay lại nhìn về phía sau, nhìn xung quanh. Sau tiếng loa, lúc này không khí xung quanh càng vắng lặng hơn, chìm hẳn xuống. Đột nhiên Thanh Lang hỏi anh:

- Xung quanh đây còn ai không?

- Đi cả rồi, chỉ còn bác thương binh bảo vệ bệnh viện - anh hất hàm chỉ về phía sau nhà anh - và những nhân viên coi kho.

- Kho gì?

- Kho hàng. Đủ thứ, đỗ tương, mì chính, vải vóc, đồng hồ... đầy ắp các khoa, phòng bệnh viện.

- Thế à? - Thanh Lang sững sờ, lặng im, ngẫm nghĩ một lát rồi nghiêm nghị bảo anh - Thế thì cậu nên đi thì hơn, nguy hiểm đấy.

- Nói chung, nó không đánh bệnh viện đâu, trừ phi được tin tình báo.

- Thôi đi ông ạ, chúng nó không mù đâu, nó lạ gì cái trò chứa gạo, chứa hàng ở trường học, bệnh viện.

Anh đang định nói thì có tiếng bác thương binh gọi trên cổng:

- Chuẩn bị đi chưa?

- Bác cũng đi à?

- Đi chứ, lệnh đi cơ mà, bọn coi kho cũng đang xem xét kho khóa, niêm phong, rồi chuồn.

Như chỉ đợi có thế Thanh Lang thao thao tràn lấp cả những lúc anh định cắt ngang tranh cãi:

- Đấy, thấy chưa, với một phóng viên, bão lửa là chuyện thường, và sẽ được một bài phóng sự nóng hổi, nhưng anh, anh có nhiệm vụ gì? Người ta sẽ nêu những nghi vấn về anh, anh định hôi của chăng, nếu kho bị đánh phá. Nếu kho bị ăn trộm, anh ở lại làm gì, có dính líu gì không? Nếu anh chết, không một chút vinh quang, một thằng dại dột, vợ con anh côi cút, mà vì cái gì mới được chứ? For none! (7) Không, tôi chẳng chơi, sao lại có thể vì tôi mà anh ngoẻo. Tôi phải về Hà Nội. Đêm nay tôi sẽ ở Hà Nội. Với những người chiến đấu, những người có nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng. Người ta chỉ hy sinh vì nhiệm vụ.

Nói rồi, Thanh Lang một tay dắt xe, một tay chìa ra cho anh vui vẻ:

- Bye! (8)

Anh bắt tay mà không chào lại, tiễn Thanh Lang ra khỏi cổng. Khi lên xe, Thanh Lang còn ngoái lại:

- Sorry!(9)

Anh lại nghĩ đến ông già hàng xóm. Ôi, giá anh biết được ra tới quốc lộ Thanh Lang đi về phía Nam, về Hà Nội, hay về phía Bắc, nơi vợ anh ta sơ tán!

Anh ra vườn cải, định cắt rau nấu cơm. Trời càng giá, hoa cải càng vàng tươi kỳ lạ. Nhìn hoa cải, anh lại như thấy hiện ra tuổi thơ. "Tại sao không muối cả hoa hở u?" "Đắng, không ăn được." Anh van nài bác vú em "Em lạy u, u cứ thử muối lẫn một ít hoa". "Ông bà mắng, em chịu nhé". "Vâng, em chịu hết, em nhận em bỏ trộm vào.". Anh đang mân mê những bông hoa chưa nỡ cắt, bỗng từ sau bếp, từ khu vườn quả bỗng vang lên một tràng dài tiếng hót trong trẻo đến lạ lùng. Anh ngây người ra nghe. Tiếng hót dài, không ngừng, không nghỉ, bao nhiêu cung bậc, vang vọng những cộng âm, sâu xa, trầm lắng, trong đời anh, anh đã nghe bao nhiêu tiếng chim hót, nhưng chưa bao giờ anh được nghe tiếng hót dài hơi, khỏe, âm vực rộng mà sâu và nhiều âm giai khác nhau đến thế. Anh cứ ngẩn ngơ nghe mãi, một lúc lâu sau anh mới biết chim ngừng hót. Chim bay đi rồi chăng. Anh xao xuyến vòng ra sau bếp, ra khu vườn quả, ngơ ngác tìm kiếm trong các tán lá cây, và khi vừa nhìn thấy thì chim đã vỗ cánh bay đi. Trời, con chim đen, mỏ vàng, con yểng. Anh lao theo nó, ngã vào bụi dứa. Nó đã bay qua mặt hồ. Mặt mũi xây xước, anh thẩn thờ nhìn theo. Và từ khóm cây nào đó, bên kia hồ, chim lại cất lên, không ngừng, không nghỉ, bổng trầm bao nhiêu cung bậc, bao nhiêu âm sắc, khiến anh tưởng như khi bay qua hồ, chim đã buông rơi từng giọt, từng giọt chìm dần tận dưới đáy hồ, rồi lại từ đáy hồ vọng lên mặt nước, dội vào không gian.

Những âm thanh vang vọng từ mặt nước, mặc cho anh tiếc ngẩn ngơ bên rào dứa dõi nhìn về phía chim thôi hót, và chỉ còn một mặt trời đỏ giá đang hạ dần xuống dưới ngọn tre, cành tre và lá tre như đang bùng cháy.

Sương chiều nhờ tím trên cánh đồng trước mặt, sương phủ dần lên nhà cửa phố phường phía nam thị xã, nền trời chỉ còn in rõ hai tháp chuông nhà thờ. Mấy hôm rồi không thấy gióng giả tuần giáng sinh, chiều nay cũng vậy. Không tiếng gà, tiếng chó, tiếng người, tiếng xe cộ, thậm chí cả tiếng giun dế, yên tĩnh đến tuyệt đối.

Đêm xuống, đường phố tối đen như mực, không một ánh sao, không một ánh lửa, không một bóng người, lạnh buốt. Nhưng đêm đó thị xã không bị đánh phá. Còn anh thì được nghe tiếng yểng hót, và đối với tiếng hót khỏe, trong và ấm như từ một lồng ngực, một trái tim say mê không mệt mỏi, như tiếng đồng vọng của những dòng sông anh đã đi qua, những động nhũ anh từng thăm viếng, trầm lắng và suy tư này, thì tiếng hót chim mi trên cao nguyên ngày nào anh đi lạc núi, thật là ngây thơ, nhỏ dại, không thể nào sánh nổi.

Nhưng chín năm về trước, nếu không có chuyện suýt nữa anh trở thành nhà báo, thì anh sao biết được tiếng hót đó, chỉ có một lần trong đời nhưng đọng lại mãi mãi trong tâm hồn anh chính là tiếng hót của con yểng, cùng lắm anh chỉ biết đó là con chim lông đen mượt, mỏ vàng thích bay đâu thì bay, thích hót đâu thì hót.

Giáng sinh 1990.
N.B
(TCSH48/03&4-1992)

 

----------------
(1) Thế nào, mọi sự ổn cả chứ?
(2) Tuyệt vời, cô Brao ạ. (tiếng Anh)
(3) Bán cầu não (tiếng pháp)
(4)Tối mật! (tiếng Anh)
(5) Xin chào, rất hân hạnh (tiếng Anh)
(6) Thú vị hả (tiếng Pháp)
(7) Chẳng vì cái gì cả (tiếng Anh)
(8) Tạm biệt (tiếng Anh)
(9) Đáng tiếc! (tiếng Anh)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.

  • PHAN TUẤN ANHLớp Lý trong một chiều nhốn nháo. Vài đứa con gái ngồi sụt sùi cho nhân vật nữ trong phim trên ti vi chết sớm và nguyền rủa đạo diễn như một tay giết người. Những đứa con trai thì tiếc rẻ cho một vài pha bóng hụt tối qua, để lại hậu quả là mất hẳn một "tháng lương" mà nhẽ ra đã có thể lĩnh sáng nay tại... chủ quán.

  • NGUYỄN VIỆT HOÀLGT: Khi ánh sáng phản chiếu từ mặt trái đồng tiền ùa vào cánh cửa làng mở rộng, “sức nóng” của nó gần như thiêu rụi mọi nền tảng đạo đức một bộ phận không nhỏ đám thượng lưu gồm cả quan viên hương lý. Căn bệnh mà tác giả Nguyễn Việt Hoà mổ xẻ trong truyện ngắn dưới đây, dẫu chưa cao tay để diệt bằng hết những vi-rút-làng, song việc ngăn chặn một đại dịch bắt đầu là có thể...S.H

  • TRẦN HẠ THÁP1/ Người đàn ông đang huơ rìu. Liên tục những bi củi tươi bị xé phanh, toang toác. Gió lạnh một buổi tàn đông, sắp Tết nhưng trên khuôn ngực mồ hôi loang lổ như mưa. Xóm lò heo. Buổi sáng chưa mở mắt đã hỗn độn, mù trời hơi nước. Cái thế giới được khoanh vùng bằng tiếng kêu bi thiết các con vật thảm tử. Mùi phân chuồng phát tán, nghẹt thở. Tiếng người lê la trả giá, mặc cả. Tiếng cười rộ lên đắc ý trộn lẫn tiếng chửi thề tục tằn đe doạ. Đâu đó, mơ hồ giọng trẻ con khóc và tiếng ru hò ngái ngủ xa xôi…

  • NGUYỄN NGỌC LỢITôi diện bộ "téc gan" quân nhu, dắt súng vào người, dặn dò cậu lái xe rồi hoà vào dòng người đi ra sân bay. Được giao nhiệm vụ về nước sắm hàng, gặp một sự kiện quan trọng, tôi không muốn bỏ lỡ dịp được chứng kiến. Thị xã Lộc Ninh năm 1973 đã trở thành thủ đô của chính phủ cách mạng.

  • THÁI BÁ TÂN…Con chim hung dữ màu đen là trọng tâm của bức tranh, được ông giành hết tâm sức miêu tả rất sống động. Trong tranh, nó đang bám chân vào ngực Prômêtê, xoè hai cánh giữ thăng bằng, chiếc mỏ khoặm ngậm một miếng tim vừa moi từ lồng ngực khổng lồ của chàng…

  • NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾNMọi người đến Huế với những lí do khác nhau. Riêng các văn nghệ sĩ thì thường đến để tìm cảm hứng sáng tác. Tuy nhiên ý tưởng của mỗi người thì mỗi khác, chẳng ai giống ai. Họa sĩ Vĩnh Trung và nghệ sĩ Hải Lý là một trong những trường hợp như vậy.

  • XUÂN ĐÀIChuyện thằng Thanh con cô Ngoan ở làng Đông cuối tháng này tổ chức đám cưới với con Thuý con cô Lâm ở làng Nổi, dân xã Vĩnh Sơn ai cũng tỏ tường. Cái đận cô Lâm có chửa, điều tiếng khắp làng, người ta đoán già đoán non về cha của đứa bé. Đoán vụng đoán trộm, thì thầm nhỏ to sau lưng, chứ thấy bóng cô đi ngang qua là họ im bặt. Nó mà nghe được nó tế cho! Nó vén mồm, vén váy, réo tên cúng cơm ba đời nhà mình ra mà chửi.

  • PHẠM THỊ XUÂNChị Xoan trở mình nhè nhẹ, sợ làm đứa cháu giật mình thức giấc. Chị quay mặt  vào tường như cố tránh cái ánh sáng xanh dịu phát ra từ ngọn đèn ngủ. Chị nhắm kín mắt nhưng vẫn không sao ngủ được. Đầu óc chị rối bời bao ý nghĩ. Có một cái gì day dứt, một cái gì tiếc nuối, một cái gì hẫng hụt vừa đi vào cuộc đời chị. Chị bỗng thấy lòng mình trống trải đến vô vị...

  • PHẠM THỊ XUÂNLGT: Ấn tượng của một nữ tác giả mới lần đầu tiên gửi tác phẩm đến cho TCSH thật khá đậm đà. Ấy là Phạm Thị Xuân, một phụ nữ ở độ tuổi đã qua thời thanh xuân, đang công tác tại một đơn vị y tế huyện Quảng Điền.

  • QUÝ THỂCó ai đến nhà chơi, bà cụ Tuần chỉ mép tấm phản gỗ mời ngồi, bà nói:- Giang sơn của "bầy choa" (chúng tôi) chỉ có chừng ni. Không ghế bàn, xa lông, sập gụ tủ chè chi cả, chịu khó ngồi đỡ, ông bà mô áo quần trắng trẻo sạch sẽ sợ dơ, thì ngồi lên đây. Bà cụ xoè cái quạt giấy cũ đã rách, lộ ra mấy cái nan tre lót cho khách ngồi. Nhưng không ai nỡ ngồi lên cái quạt giấy của cụ.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO...Sáng hôm ấy bà con xóm đạo đi lễ rất đông. Người ta nhìn thấy một vệt sao băng vào lúc trời tảng sáng. Họ cho rằng Chúa thấu hiểu được nỗi đau đang dày xéo trên thân thể Xoan. Nhưng cũng chính vì thế mà bố cô lại quay về làm chính con người liêm khiết hồi xưa. Thiên đường cũng có những con đường riêng để người ta sám hối.

  • XUÂN ĐÀI 1. Mỗi lần từ quê trở về Sài Gòn, sống bên chồng và hai đứa con, tôi không nguôi nhớ đến chị. Năm nay chị đã ngoài bốn mươi, không chồng, không con, lủi thủi ra vào trong ngôi nhà một gian hai chái. Ngôi nhà vừa được xây dựng cách đây gần ba năm bằng số tiền chị tằn tiện, chắt bóp mười mấy năm và tiền vợ chồng tôi phụ giúp chút đỉnh. Vài ba năm, vợ chồng con cái chúng tôi mới về thăm chị một lần. Chị mừng, chị vui, trò chuyện với các cháu suốt ngày. Chị quấn quýt lũ trẻ, lũ trẻ cũng quấn quýt chị.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNGNgày trăng tròn lẻ. Tháng Trung Thu năm Đại Bảo thứ 3.Người hai lưỡi bảo là ngày Sao Thổ phạm vào Thái Âm.Người ngắn lưỡi nói Sao Chổi mọc ở phương Tây.Người dài lưỡi bảo có tinh vượn đen ăn mặt trời, ngày Nhật thực, nếu không yểm kỹ sông Nhị đang nảy vàng ròng sẽ ngừng.Động đất.

  • VIỆT HÙNGTrước đây, anh là người lừng danh, một tay "cua - rơ khét tiếng" trên xa lộ. Đã một thời anh chỉ biết chiến thắng. Người ta từng mệnh danh, anh là người sinh ra để đua xe đạp, anh không hề có đối thủ. Anh xem thường sự chiến thắng của mình, cho nó là điều hiển nhiên. Anh coi ánh hào quang của vòng nguyệt quế chỉ có tác dụng tô điểm thêm cho vẻ đẹp của mình mà thôi. Bởi, không có nó, anh vẫn là một thần tượng chẳng gì "khuất phục nổi".

  • NGUYỄN THÁNH NGÃĐêm nay trăng nhão, không biết là đêm trăng gì. Ở xa nhìn về đồi Kà Mạ vẫn một khối đen sì. Nếu có ai nhướn mắt nhìn thật kỹ sẽ thấy cái khối đen sì ấy nhô lên như một cái đầu người đôi mắt lấp láy đom đóm. Thỉnh thoảng gió hất cái đầu tóc rối bù xù bay về phía ruộng. Tiếng chim cú kêu mỗi lúc một thê lương, ớn lạnh từng đốt xương sống...

  • THÁI BÁ TÂNTháng trước, ở phường B. thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm, nơi tôi về nghỉ hưu mấy năm nay, đã xẩy ra một vụ trọng án có nhiều tình tiết rất kỳ lạ, có thể nói bí ẩn không sao giải thích nổi, đến mức cuối cùng người ta quay sang cho rằng nhất định phải có yếu tố thần linh ma quỷ trong vụ này.

  • PHẠM THỊ ANH NGA                  Truyện ngắn...trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể nào biết được...

  • PHAN VĂN LỢIBuổi giao lưu và trao giải thưởng cho các tác giả đoạt giải trong cuộc thi viết truyện ngắn do Hội Nhà văn tổ chức đã tiến hành được gần nửa giờ. Gã nhấp nhỏm trên chiếc ghế kê phía sau cánh gà sân khấu, bồn chồn không yên. Chừng thông cảm với tâm trạng của gã, cô gái phục vụ mặc áo dài đỏ bưng tới cho gã ly nước, nhẹ nhàng nói: "Chú cứ yên tâm ngồi nghỉ cho khoẻ. Giải A bao giờ cũng trao cuối cùng, chú ạ!"