Chiến tranh

17:14 03/12/2013

THÁI BÁ TÂN

Các bạn thử hình dung một chuyện thế này: Có đôi trai gái yêu nhau, rất yêu nhau. Cưới xong được ít hôm thì chàng trai lên đường ra trận, để lại người vợ trẻ ở nhà một mình vừa làm lụng vất vả, vừa mỏi mòn chờ đợi.

Ảnh: internet - chỉ mang tính minh họa

Mà nào chờ đợi một hai năm! Không, đúng mười năm. Và trong suốt mười năm dài ấy, cô gái không hề nhận được tin tức nào về chồng. Vì sao thì khó ai biết được. Thế rồi chiến tranh kết thúc, chàng trai trở về, sung sướng cảm động khi thấy vợ vẫn chung thủy. Nhưng khi hai người lên giường nằm, đặt một tay lên bụng vợ, chàng trai bỗng ngồi bật dậy:

- Em có chửa?
- Vâng.
Im lặng.
- Với ai?
- Với anh, tất nhiên, - cô gái bình thản đáp - Em còn có chửa với ai được nữa, ngoài anh?

Chàng trai không nói gì, lẳng lặng chui ra khỏi màn, mặc quần áo rồi đến ngồi hút thuốc bên bàn - một giờ, hai giờ, cũng có thể lâu hơn. Sau đó, vì cả nhà chỉ có một giường, anh lục ba lô lấy tấm vải nhựa trải xuống sàn.

Mọi chuyện bắt đầu từ đêm ấy, cái đêm chấm dứt mười năm chờ đợi, nhớ thương của một cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt, và cũng là đêm mở đầu những thử thách mới, nơi con người lần nữa phải mặt đối mặt với chiến tranh, loại chiến tranh không súng đạn sau cuộc chiến tranh súng đạn mà họ vừa vượt qua một cách thắng lợi.

Liệu lần này họ lại đứng vững hay sẽ bị đánh gục? Trả lời câu hỏi này thật khó, vì những thử thách mới thời bình đòi hỏi không phải sức chịu đựng ghê gớm về hy sinh và thiếu thốn, mà là cái gì đấy còn lớn hơn, phức tạp, tế nhị hơn: đó là sự tỉnh táo, tình thương và lòng vị tha.

Bạn đọc thân mến, bức tranh tôi miêu tả trên không phải lấy từ cuốn sách nào đó, cũng không do tôi nghĩ ra mà là chuyện có thật ở làng tôi.

Đôi trai gái ấy là Nam và Xuyến. Suốt đêm đó không ai nói thêm một lời nào, dù cả hai không hề chợp mắt. Sáng hôm sau, Nam đi một vòng quanh làng thăm hỏi mọi người, thực ra là để dò hỏi tin tức vợ những năm anh đi vắng. Anh ngạc nhiên, bối rối khi nghe mọi người nhận xét rất tốt về Xuyến, rằng cô cần cù, nết na và đặc biệt nghiêm túc trong quan hệ.

"Chắc cô ta khéo giấu nên mọi người không biết".

Về nhà, không kìm được, anh lại hỏi vợ, vẫn câu hỏi cũ:
- Cô chửa với ai?
- Với anh - vẫn cái giọng nhỏ nhẹ, bình tĩnh ấy.
- Với tôi? Sao lại có thể với tôi? Cô coi thường tôi quá! - Nam giận dữ quát to - Cô thử giải thích tôi nghe đi.

Xuyến ngước lên nhìn chồng, hai mắt rơm rớm như muốn khóc, khuôn mặt cô ửng đỏ vì ngượng ngùng.

- Nào, cô nói đi, nói đi!

- Anh Nam - Xuyến nói - Anh đừng mắng em như thế. Oan em... Em yêu anh, bao giờ cũng yêu anh và bao giờ cũng chung thủy với anh. Giá anh biết, dù chỉ một phần thôi, rằng em đã phải vất vả, đau khổ và lo sợ thế nào trong suốt mười năm chờ anh vừa qua. Còn việc vì sao em có chửa thì đơn giản thôi. Vì trong suốt chừng ấy năm, tối nào đi ngủ em cũng kê sẵn một chiếc gối cho anh cạnh gối em. Nhiều hôm sáng dậy, em thầm xấu hổ khi nhớ lại chuyện anh và em tối trước. Cách đây không lâu, anh cũng về với em như thế. Lần này hình như em cảm thấy anh gần hơn, cụ thể hơn. Khi tỉnh dậy, em vẫn một mình như bao lần khác, nhưng em biết chắc là anh vừa ở bên em, thậm chí hơi ấm của anh còn bám vào da thịt em, thậm chí chăn còn nhàu nát...

- Cô phịa ra chuyện ấy để bắt tôi tin và rồi dần dần chính cô cũng tin cái điều nhảm nhí ấy chứ gì?

- Xin anh đừng nói thế, oan em. Em không hề...

Nhưng Nam đã bỏ ra ngoài.

Những lời Xuyến vừa nói, thực ra không phải không làm anh suy nghĩ. Anh hiểu và thông cảm với Xuyến, vì bản thân anh trước đây cũng nhiều đêm nằm mơ có vợ bên cạnh. Nhưng không lẽ vì thế mà vợ anh có chửa? "Không! Không thể như thế được!" - anh nghĩ, tuy rất muốn tin vào điều vợ nói. Anh tìm mọi cách bào chữa cho cô, thậm chí viện cả cái thuyết đồng giao cách cảm mà gần đây người ta hay nhắc tới, nhưng cuối cùng anh vẫn phải đau khổ mà thừa nhận rằng Xuyến đã không chung thủy với anh, đã ăn nằm với một người đàn ông khác. Mà điều ấy thì quá sức anh chịu đựng, một trở ngại quá lớn anh không vượt qua nổi, thậm chí cả khi anh rất yêu thương vợ, trước kia cũng như bây giờ. Biết làm thế nào được, con người anh là thế, anh không thể lại ôm một người đàn bà khi người ấy đã từng trong vòng tay một người đàn ông khác.

Họ, hai vợ chồng và thằng bé mới sinh, vẫn ở chung trong cùng căn nhà chật hẹp. Không ai nghe họ to tiếng với nhau lần nào. Chồng - anh Nam - là người đàn ông khỏe mạnh chí thú. Anh chí thú ruộng vườn, không những đủ ăn mà còn thừa thóc bán cho nhà nước. Trong một thời gian ngắn anh sắm đủ thứ cần thiết cho gia đình. Tính anh hiền, ít nói. Cả với vợ, anh cũng chỉ nói khi thật cần thiết. Ban ngày anh làm luôn tay, làm hùng hục mọi việc. Hết việc, anh ngồi im, thường nhìn trân trân một điểm nào đó trước mặt. Và rất buồn. Tối đến anh vẫn ngủ riêng, tất nhiên không phải giữa sàn nhà, mà trên chiếc giường nhỏ mới mua, đặt sát cửa sổ. Chị vợ sau sinh đẻ, vốn nhỏ bé lại càng nhỏ bé hơn, bao giờ cũng lặng lẽ như cái bóng. Với ý thức của người có lỗi, chị rất muốn chiều chuộng chồng, muốn san sẻ bớt những ý nghĩ nặng nề anh đang chịu đựng, nhưng mọi cố gắng của chị đều vô ích trước vẻ lãnh đạm tàn nhẫn của anh, nên chị cố tránh gặp mặt và thường ngồi im ở một góc nào đấy.

Còn thằng bé thì thật lạ, càng lớn càng giống Nam như đúc. Một sự ngẫu nhiên? Hay lần nữa buộc phải suy nghĩ về lời giải thích vô lý của Xuyến? Điều này quả có làm Nam băn khoăn không ít. Đứa bé thật kháu. Nam không chút ác cảm nào với nó, dù chính nó là trở ngại ngăn cách hai vợ chồng anh, là nguyên nhân mọi bất hạnh trong gia đình. Ngược lại anh thương nó như thương Xuyến, vợ anh, và anh cảm thấy thực sự khổ sở khi phải cố giấu không bộc lộ tình cảm đó. Nhiều lúc cao hứng, hoặc vì vợ bận, anh còn bế con và giặt tã giúp vợ. Tuy nhiên, sau những lần đấu tranh, dằn vặt như vẫn thường xảy ra, cuối cùng cái con người định kiến, cố chấp trong anh vẫn thắng. Anh cương quyết không chịu cho thằng bé mang họ anh, vẫn bắt chữa lại thành "bác" mỗi khi nó quen miệng gọi "bố". Nhiều đêm nghe vợ ôm con khóc ở giường bên, anh những muốn lại gần vợ vuốt ve, an ủi cô, muốn làm điều gì đó thật tốt đẹp cho cô, thế mà anh vẫn nằm yên, trân trân nhìn lên trần nhà hoặc bỏ ra sân hút thuốc cho tới sáng. Những lúc ấy anh rất cáu giận. Anh giận Xuyến, giận đứa bé và nhất là giận bản thân anh. Con người anh, cái tính anh là thế, biết làm thế nào được?

Một hôm, Nam sang nhà tôi chơi.

- Được mấy ngày về thăm quê mà cứ ngồi lì ở nhà mãi thế à? - Vào tới ngõ, anh nói to thay cho lời chào - Lại viết lách?

- Ừ, nghề mà - tôi đáp - Mời anh ngồi chơi.

Lúc này đứa bé đã lớn, biết chạy lon ton khắp làng, nhưng gia đình anh thì vẫn như cũ. Nghe nói bà con, chính quyền nhiều lần khuyên anh làm lành với vợ nhưng anh không chịu. Thế đấy, người dân làng tôi, tôi biết - rất chân thành và cả tin, nhưng một khi có ý nghĩ nào đó chui vào đầu thì không dễ mà giũ ra nổi.

- Thế nào, anh Nam, vẫn "chiến tranh" à? - tôi ướm hỏi.

Nam không đáp, nhưng nét mặt buồn hẳn xuống. Mãi lúc sau anh mới nói:

- Anh xem đấy, tôi còn biết làm thế nào khác được?

- Sao lại không? - tôi cao giọng - Thì "hòa bình" đi! Anh không thấy anh đang làm khổ chị ấy à?

- Thế anh tưởng tôi sung sướng lắm chắc?

- Chính vì vậy mà cần bỏ qua cho nhau và càng sớm càng tốt.

Nam ngồi im, bất chợt nghiêm mặt hỏi tôi:

- Có điều này, tôi hỏi thật anh nhé?
- Vâng, anh cứ hỏi.
- Anh có tin cô Xuyến không? Tin chuyện cô ấy có chửa ấy?
- Tin, tôi tin - tôi đáp.
- Vì sao?
- Vì sao thì không biết, nhưng tôi tin.
- Còn tôi thì không! - anh bật đứng dậy nói to một cách giận dữ - Không! Không bao giờ!

- Suy cho cùng điều ấy không quan trọng - tôi cũng nổi nóng. - Quan trọng là cô ấy đã chờ anh chừng ấy năm. Quan trọng là cô ấy vẫn yêu anh. Quan trọng là anh không thể và không có quyền đối xử với cô ấy như thế.

- Anh nói dễ lắm, anh nhà văn ạ - Nam nhếch mép cười với vẻ mỉa mai không che giấu - Với các anh, mọi chuyện thật đơn giản.

Rồi không nói thêm một lời nào, anh bỏ đi.

Đấy, các bạn xem: một con người đã mười năm lăn lộn khói lửa chiến trường, có thể đã lập nhiều chiến công phi thường, đã vượt qua trăm nghìn thử thách ghê gớm, thế mà bây giờ con người từng trải được tôi luyện ấy không vượt qua nổi cái trở ngại tưởng như rất bé kia, để chấm dứt đau khổ cho chính bản thân và cho người mình yêu quý nhất. Thật bất công và cũng thật chua xót. Nhưng cả tôi, cả các bạn thử thuyết phục anh ta đi.

Tháng hai năm 1979, khi xảy ra chiến tranh ở biên giới phía Bắc, Nam tình nguyện gia nhập lại quân đội. Vợ anh không giữ, chỉ nói:

- Anh đi, em sẽ chờ. Bao lâu em cũng chờ...

- Và cô sẽ tiếp tục đêm đêm mơ tôi về thăm. Có thể cô sẽ lại có chửa? - anh châm chọc.

- Vâng - vợ anh đáp như không nhận thấy sự châm chọc ấy - Nhưng anh hãy tin bao giờ em cũng yêu anh, và nếu có chửa thì cũng chỉ với anh, một mình anh...

Nam không đáp, chỉ lặng lẽ lên đường. Và không bao giờ trở về nữa.

***

Từ ấy nhiều năm đã trôi qua. Cô Xuyến nay đã là bà Xuyến. Bà già và yếu hẳn đi một cách nhanh chóng. Bà vẫn mòn mỏi chờ chồng như năm nào. Vẫn như năm nào, bà không hề nhận được một bức thư nhỏ nào của chồng, xưa là anh, bây giờ là ông Nam.

Đây là chuyện riêng của hai người, lúc đầu tôi không có ý định viết lên giấy nhưng rồi cân nhắc kỹ nhiều mặt, cuối cùng, bắt chước nhà văn Pháp Angđrê Môroa trong truyện Cuộc trở về của người tù, tôi viết và cho đăng báo chuyện này, với hy vọng mỏng manh rằng nếu ngẫu nhiên đọc nó, biết đâu ông Nam sẽ nghĩ lại. Tôi, ông Nam và bà Xuyến dẫu sao cũng là người cùng làng với nhau. Mà đã là người cùng làng thì, tôi nghĩ, không ai có quyền thờ ơ với số phận người khác.

T.B.T
(SH28/12-87)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÊ THỊ KIM SƠN

    Đừng có cười nữa, đừng có cười nữa mà. - Lời nói nửa như van nài, nửa như ra lệnh của Thy làm cho cơn cười ngặt nghẽo của Kha trở nên im bặt.

  • NGUYỄN VĂN UÔNG

    Không biết cái tục thờ ngài đội Cóc ở làng ấy xuất phát từ bao giờ. Có người bảo là chỉ mới hơn trăm năm trở lại đây, khi làng thỉnh tôn tượng tự nhiên của ngài vào an vị trang nghiêm trong gian đầu tả nội đình, hướng mặt nhìn bao quát tiền đường, nơi mỗi kỳ tế tự, các bô lão lễ bái hiến tế, cung nghinh long thần thổ địa.

  • NGUYÊN QUÂN

    Gã đi dọc dãy hành lang của tầng năm, cái hành lang dài hun hút gần như không còn chút ánh sáng nào sót lại, ngoài chút mơ hồ xanh lẻo trên cái mặt số lân tinh của chiếc đồng hồ đeo tay. 0 giờ, đã qua thêm ngày nữa, một ngày trong mười lăm ngày về ẩn trú ở thành phố bên chân biển cả.

  • PHẠM DUY NGHĨA   

    Chẳng gì thú bằng đón bão trên đại ngàn, thằng bé nhận ra điều đó từ ngày đem đàn dê lên núi cao.

  • VĨNH QUYỀN

    Nước loạn, sứ quân nổi lên cát cứ khắp nơi. Động chủ họ Trương ngủ mơ rồng vàng. Đám văn nhân môn khách quả quyết điềm lành, ứng chân mạng đế vương, thống nhất thiên hạ.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

    Dưới cơn mưa sơn cước tầm tã, Hòn Đá Thiêng cheo leo bên sườn núi tự thiên thu kể cho già bản Thào A Phạ nghe, chuyện rằng:

  • NGUYỄN THỊ THANH LƯU

    Tôi chìa cuốn sách đã mở sẵn trang lót bìa ngập ngừng đưa cho ông nhà văn tuổi ngũ tuần đang cúi đầu trên những chồng sách mới tinh đợi kí.

  • ĐẶNG MINH CHÂU

    Làng đang tẻ, tẻ muốn chết được. Vì chẳng có chuyện gì ồn ào để có cớ tán gẫu với nhau.

  • PHẠM NGỌC TÚY

    Bà Mận tháo cái giỏ trên vách xuống. Hôm nay có nắng bà định ra vườn hái ít trái đậu vào kho; đậu la ve ở miền cao thường trồng sớm do không lo có lụt.

  • TRU SA

    Tôi lấy bao thuốc ra và rút thêm một điếu. Tôi rít một hơi thật sâu rồi từ từ thở ra. Khói thuốc bay thành một vệt dài, uốn éo hồi lâu rồi từng lớp rã ra, tan biến vào khoảng không.

  • TRẦN BĂNG KHUÊ

    1.
    Mỗi buổi sáng thức dậy tôi đều thấy mình bị nhốt trong những chiếc hộp giả lập quen thuộc. Tôi sung sướng thụ hưởng và có nguy cơ thích thú ngày một rõ rệt đến độ không muốn [không còn] bất kỳ [ys][thức] rời bỏ nào hoặc tìm kiếm cơ hội rời bỏ cùng với những câu trả lời phiến diện cho riêng bản thân tôi về sự tồn tại, về hình hài của vũ trụ này.

  • NGUYỄN THỊ THANH LƯU

    Đó là bức ảnh bán khỏa thân của một phụ nữ trạc ngoại tứ tuần, được chụp theo trào lưu “tự sướng” trong không gian chật chội của một phòng tắm nhỏ, lổn nhổn khăn khố đủ màu, rất đặc trưng cho kiểu nhà tắm nhõn vài mét vuông nhưng kiêm đủ chức năng phòng vệ sinh chung cho cả gia đình ở các đô thị lớn của Việt Nam.

  • VŨ THANH LỊCH

    Làng mở hội lớn. Năm năm một lần. Người thập phương dồn về không biết bao nhiêu mà kể.

  • NGUYỄN THỊ DUYÊN SANH

    Ra khỏi quán cà phê một đoạn, tôi bước chậm lại. Gió đêm từ mặt sông hắt lên lành lạnh. Lần tay vào túi áo mới hay gói thuốc lá lúc nãy còn bỏ quên trên bàn, tôi vội quay về quán.

  • LÊ HÙNG VỌNG
                Tặng D.

  • AN PHÚ

    Trong không gian yên ắng của ngọn đồi, trên bầu trời không còn ngôi sao nào đêm nay, chỉ có những giọt mưa lả tả, gió và lớp rêu mờ lám xám bên bức tượng.

  • NHỤY NGUYÊN

         Truyện ngắn

  • ĐINH PHƯƠNG

    Khi tôi mười ba tuổi. Lần đầu tiên tôi nói với mẹ “Đừng rơi về phía bóng tối”. Mẹ không hiểu tôi. Bà không biết tôi đang diễn tả điều gì. Mẹ nhìn tôi đầy ngờ vực và cười khẩy.

  • LÊ HƯNG TIẾN

    Tự thức
    (Quý tặng nhà thơ Đinh Thị Như Thúy)

  • TRẦN BẢO ĐỊNH   

    1.
    Trường gà Bến Nghé vắng lặng từ rất lâu sau trận tử chiến giữa Kim Ô và Nhật Nguyệt. Đông Định Vương thẫn thờ đứng nhìn bầu trời Gia Định chớm vào tiết xuân, mùi máu gà vương vãi đấu trường hắt hơi theo gió khác chi mùi máu chiến binh ở chốn sa trường.