DƯƠNG PHƯỚC THU
Bắt sáu tên giặc Pháp nhảy dù xuống huyện Phong Điền.
Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế thắng lợi, chiều cùng ngày, tại Sân vận động Bảo Long (về sau đổi gọi là Sân vận động Tự Do), trước hàng vạn đồng bào dự mít tinh, Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh Thừa Thiên được thành lập và ra mắt, do nhà giáo Tôn Quang Phiệt làm Chủ tịch.
Nhân dân tuần hành qua cửa Thượng Tứ tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế ngày 23/8/1945. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên Huế
Ngay lập tức, các tổ chức của chính quyền về quân sự, công an, ngoại giao, tuyên truyền, tài chính, y tế… của tỉnh ra đời; 38 học viên Trường Thanh niên Tiền tuyến - trường đào tạo quân sự của chế độ Nam triều kết thúc vai trò, chuyển hóa thành tổ chức Việt Minh, tự nguyện gia nhập lực lượng Giải phóng quân Thuận Hóa (tên gọi chung ban đầu chỉ cả lực lượng Giải phóng quân của tỉnh Thừa Thiên).
Chỉ hai ngày sau, Giải phóng quân Thuận Hóa đã kịp thời ra thông báo tuyển chiến sĩ. Vừa huấn luyện, vừa bổ sung quân số, tăng cường lực lượng bảo vệ thành quả cách mạng, chuẩn bị một đội vũ trang để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho buổi thoái vị của vua Bảo Đại giao quốc ấn và quốc kiếm cho đại diện của Ủy ban khởi nghĩa Trung ương từ Hà Nội vào tiếp nhận, dự kiến diễn ra vào chiều ngày 30 tháng 8 năm 1945 tại lầu Ngọ Môn, kinh đô cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam.
Trong các hoạt động của chính quyền cách mạng còn quá non trẻ, chiều ngày 29 tháng 8, Giải phóng quân Thuận Hóa nhận được tin “Sáu tên Pháp nhảy dù xuống địa phận làng Hiền Sĩ, huyện Phong Điền. Dân chúng ở Hiền Sĩ sẵn sàng đối phó với bọn chúng nhưng không dám tự tiện hành động mà đợi lệnh của chính quyền. Theo một chính sách hòa hảo, chính quyền đã phái đại diện đến thương thuyết. Nhưng bọn sĩ quan Pháp tỏ vẻ khinh thường và cứ một mực hỏi tin những nhân vật cũ của Nam triều”.
Theo mệnh lệnh của Ủy ban Quốc phòng Thừa Thiên, một đơn vị Giải phóng quân Thuận Hóa, với vũ khí thô sơ, khẩn trương tiến ra Hiền Sĩ bắt toán giặc này.
Để ghi nhận một cách trung thực về thời điểm, lực lượng phối hợp và để có cơ sở nghiên cứu một chiến công đầu tiên của Giải phóng quân Thuận Hóa bắt sáu tên giặc Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ, chúng tôi xin công bố nguyên văn tài liệu đầu tiên của chiến công này được in trên nhật báo Quyết Chiến - Cơ quan Ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng, thực chất là cơ quan ngôn luận của Thị ủy Thuận Hóa và Tỉnh ủy Thừa Thiên, số 7 ra ngày mồng 1 tháng 9 năm 1945:
“Sáu người Pháp nhảy dù xuống địa phận làng Hiền Sĩ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, hôm 28/8/1945 vừa rồi đã bị một đội “Giải phóng quân” (Thanh niên Tiền tuyến cũ) bắt chiều hôm qua và tước lột khí giới cùng máy vô tuyến điện và nhiều đồ đạc rất quan trọng như giấy tờ, địa đồ, máy điện v.v. Trong người họ ai nấy cũng đều có một tờ giấy do De Gaulle cấp. Nguyên văn giấy ấy như sau:
Calcutta, 24.8.1945
ORDRÉ DE MISSION
Le commandant X est chargé de mission en Indochine Française pour le compte du Gouvernement Provisoire de la République Française.
Les autorités civiles et militaires sont priées de lui apporter leur concours le plus total et de faciliter sa mission en tous points.
Tous les éléments de la résistance intérieur qui n’auraient pas encore pris contact avec les services extérieurs clandestins sont priés de se mettre à sa disposition et de solliciter de lui des directives.
Le commandant X assurera le moment venu l’occupation de tout bâtiment administratif civil, militaire ou privé si d’intérêt général. Il représentera le Gouvernement Provisoire de la République Française et aura tous pouvoirs en ce qui a trait aux questions administratives, civiles et militaires dans la région intéressée, étant bien entendu qu'il abandonne ses fonctions dès l'arrivée des représentants oficiels qualifiés.
Pour le Général de Gaulle et par son ordre.
Signé: Illisible
Directeur des Affaires civiles de la Délégation générale.
![]() |
![]() |
| Trang báo Quyết Chiến và phần trích nguyên văn tài liệu chiến công đầu tiên của Giải phóng quân Thuận Hóa bắt sáu tên giặc Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ |
Dưới đây chúng tôi xin dịch bản giấy ấy ra quốc văn.
Calcutta, 24.8.1945
Lệnh phái đi công cán.
Thiếu tá X (Xin được giấu tên) được Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp quốc phái đi công cán ở Đông Pháp.
Các nhà chức trách văn võ hãy hết sức giúp đỡ thiếu tá và làm đủ cách để cho công cán của thiếu tá được dễ dàng.
Tất cả các phần tử nội kháng mà chưa liên lạc được với các cơ quan ngoại công bí mật hãy tự đặt dưới quyền thiếu tá và phục tòng huấn luyện của thiếu tá. Lâm thời, thiếu tá X sẽ lo liệu việc chiếm đóng các công sở hành chính và binh bị hay tư sở có tính cách công ích.
Thiếu tá sẽ đại diện cho Chính phủ lâm thời nước Pháp và có toàn quyền về các vấn đề hành chánh hay quân sự trong vòng sở quan. Cố nhiên lúc có đại biểu chính thức đến thì nhiệm vụ của thiếu tá sẽ hết.
Thừa lệnh tướng De Gaulle Chủ tịch Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp quốc.
Ký tên: không rõ.
Giám đốc Văn phòng tại tòa Tổng đại lý.
Vụ bắt sáu phi công nhảy dù ấy đã thi hành một cách chớp nhoáng và thần diệu. Chính các phi công quân Pháp không ngờ đến chiến thuật lạ lùng của “Giải phóng quân Huế” và bọn người bị bắt không thể chống cự một tí nào cả. Họ phải giơ tay đầu hàng và đứng yên trong nửa giờ để cho “Giải phóng quân” ta lục soát.
Thái độ ương gàn của bọn chúng hai hôm trước đã mất hẳn. “Giải phóng quân” đối đãi với họ rất tử tế nhưng rất cương quyết nên bọn này đã mất hết nhuệ khí.
Cái dã tâm của De Gaulle đã rõ rệt. Quốc dân đồng bào ta hãy sẵn sàng phá tan tất cả các mưu mô xâm lược của chúng, bằng đủ mọi cách”.
Về chiến công bắt sáu tên giặc Pháp nhảy dù xuống làng Hiền Sĩ, ngày 28 tháng 8 năm 1945, báo Chiến sĩ, Cơ quan của Vệ Quốc đoàn, số ra tháng 8 năm 1946, xuất bản tại Huế, trên mục Chuyện bắt giặc đã viết: “Chính quyền Nhân dân mới thành lập thì những tin không lành đã đến làm dân chúng sục sôi: Nhật không có ý tốt với cách mạng và muốn làm trở ngại, Pháp lăm le khôi phục địa vị cũ. Ở khắp nơi, đồng bào vũ trang sắp đặt sẵn sàng. Trong chốn thôn quê khẩu hiệu đánh Nhật chưa kịp thay đổi và người ta kể chuyện một tốp lính Nhật chở khí giới bằng thuyền trên một đoạn sông, họ đã bị tự vệ tay không bơi ra cướp giật hết. Một em bé đã có gan vác rựa chặn đánh một tên Nhật vác súng chạy thoát thân và đã bị tên này dùng lưỡi lê đâm chết tại trận.
Nhưng những chuyện làm dư luận hồi hộp nhất là những chuyện bắt Tây nhảy dù đổ bộ xuống Hiền Sĩ: “Sáu tên Pháp nhảy dù xuống với một số quân nhu khí giới mà những kẻ nghèo thiếu như chúng ta cho là đồ sộ. Dân chúng sẵn sàng đối phó nhưng không dám tự tiện hành động phải đợi lệnh Chính phủ. Theo một chính sách hòa hảo, Chính phủ phái đại biểu đến thương thuyết. Bọn sĩ quan Pháp tỏ vẻ khinh khỉnh và cứ một mực hỏi tin những nhân vật cũ của Nam triều. Đoàn Giải phóng quân đầu tiên (Thanh niên Tiền tuyến cũ) nghe được tin ấy, giận lắm, liền kéo cả đội ra Hiền Sĩ. Bọn sĩ quan Pháp đang ngồi hóng mát… Một Giải phóng quân đến giao thiệp còn bao nhiêu vây xung quanh. Thấy mấy tên Pháp không bỏ thái độ ương ngạnh, anh em mới đổi mềm ra cứng, bắt giơ tay cả lên và tước hết khí giới. Lúc bấy giờ chúng mới tỉnh ngộ. Đấy là những phần tử của đội quân viễn chinh của Pháp định đổ bộ lên Đông Dương với Đồng minh nhưng vì Nhật đầu hàng sớm nên chương trình hành động của chúng bị sai lạc. Được đối đãi tử tế, chúng không có phàn nàn gì khác hơn là tự nghĩ tủi cho thân mình cũng là Đồng minh như ai mà không được tự do đi lại để ăn mừng thắng trận và hòa bình dân chủ.
Về việc này, công chúng hồi ấy chỉ nghe máy truyền thanh báo tin vắn tắt và thấy trên người phần đông binh sĩ có nhiều sợi dây trắng mướt rất đẹp, và bên hông một đôi anh Giải phóng quân một vài khẩu súng tối tân treo lủng lẳng… Dây dù, áo bằng vải dù, súng Canada là tất cả bề ngoài đẹp mắt của cuộc bắt giặc này”.
Đây là chiến công đầu tiên của quân và dân Thừa Thiên Huế sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khi vừa giành chính quyền về tay Nhân dân.
D.P.T
(TCSH414/08-2023)
Tải mã QRCode
TÔ NHUẬN VỸ
Lớp sinh viên chúng tôi tốt nghiệp Khoa Văn - Sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, đúng vào thời điểm Mỹ đánh phá miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam kêu gọi con em miền Nam đang ở miền Bắc hãy trở về chiến đấu cho quê hương.
Giải phóng quân Huế với phong trào Nam tiến
PHẠM HỮU THU
Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc. Nguyễn Du trở về, ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm «Chữ tình chốc đã ba năm vẹn», lưu lại trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương.
Báo Tin Tức Chúa Nhựt, 3.11.1940 mở đầu bằng mấy hàng như sau: “Hai mươi chín tháng Chín Annam (20 Octobre 1940). Thêm một ngày đáng ghi nhớ. Một người đã mất: cụ Sào Nam Phan Bội Châu”
Với giọng văn sinh động, pha chút hài hước, hình minh họa ngộ nghĩnh, phù hợp với lứa tuổi học trò: “Chuyện kể về thầy trò thời xưa”, “Những tấm lòng cao cả” hay bộ văn học teen “Cười lên đi cô ơi”… sẽ đem đến cho độc giả nhiều cung bậc cảm xúc và hoài niệm.
Trong tất cả các Ni sư Phật giáo mà tôi được biết và chịu ơn hoằng pháp vô ngôn, có lẽ người gần gũi với tôi nhất trong đời là Cố Đại Trưởng lão Ni chúng – Sư Bà Cát Tường - nguyên trụ trì chùa sư nữ Hoàng Mai ở Thủy Xuân – Huế.
LTS: Nhà thơ, nhà văn Thanh Tịnh năm 78 tuổi sức khỏe không còn như buổi thanh niên, nhưng ngòi bút của ông vẫn còn cái sung sức của một người đã từng yêu du lịch và làm nghề hướng dẫn khách du lịch toàn Đông Dương. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc những trang hồi ký đầy lý thú của Thanh Tịnh.
NGUYỄN XUÂN HOA
Tôi không có dịp được học với thầy Phạm Kiêm Âu, người thầy nổi tiếng ở Huế, nhưng lại có cơ duyên cùng dạy ở trường nữ trung học Đồng Khánh với thầy trong các năm 1974 - 1975.
Vậy là nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh đã về cõi thiên thu giữa một sáng mùa thu Hà Nội lay phay gió mù u!...Trước khi chưa kịp được vuốt mắt, dường như đôi đồng tử của ông vẫn còn lưu giữ lại hình ảnh đau đáu về con sông Cụt quê nhà.
Với một tướng lãnh võ biền, thì mục tiêu cuộc dẹp loạn là đánh tan loạn quân, rồi ca khúc khải hoàn, ăn mừng chiến thắng.
PHÙNG TẤN ĐÔNG
“Đời của nó như thể bềnh bồng
Cái chết của nó như thể an nghỉ”
F.Jullien
(Dẫn nhập cuốn “Nuôi dưỡng đời mình - tách rời hạnh phúc” - Bửu Ý dịch, 2005)
THANH TÙNG
Hiệp định Genève ký kết, sông Bến Hải tưởng chỉ là giới tuyến tạm thời, không ngờ đã trở thành ranh giới chia cắt đất nước Việt Nam hơn 20 năm. Nỗi đau chia cắt và biết bao câu chuyện thương tâm, cảm động đã diễn ra ở đôi bờ Hiền Lương kể từ ngày ấy. Nhiều cuộc tình đẫm máu và nước mắt. Có những đôi vợ chồng chỉ ở với nhau đúng một đêm. Có người chồng Bắc vợ Nam, khi vợ được ra Bắc thì chồng lại đã vào Nam chiến đấu, đời vợ chồng như chuyện vợ chồng Ngâu.
“Thưởng thức là ngưỡng cửa của phê bình. Chưa bước qua ngưỡng cửa ấy mà nhảy vào cầm bút phê bình thì nhất định mắc phải những sai lầm tai hại. Không còn gì ngượng bằng đọc một bài người ta đem dẫn toàn những câu thơ dở và những câu ca dao dở mà lại đi khen là hay”. (Vũ Ngọc Phan, trích từ Hồi ký văn nghệ, tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 4 năm 1983, trang 168).
VƯƠNG TRÍ NHÀN
I
Hè phố Hà Nội vốn khá hẹp, chỉ có điều may là ở cái thành phố đang còn lấy xe đạp làm phương tiện giao thông chủ yếu này, người đi bộ có phần ít, phía các phố không phải phố buôn bán, vỉa hè thường vắng, bởi vậy, nếu không quá bận, đi bộ lại là cái thú, người ta có thể vừa đi vừa nghỉ, thoải mái.
Gặp người thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm xưa, tôi có dịp biết thêm những tình tiết mới quanh câu chuyện hơn 30 năm về trước khi tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng được tái bản lần đầu.
THẾ TƯỜNG
Ký
"Quê hương là chùm khế ngọt
cho con trèo hái cả ngày"
Một nhà báo Pháp sắp đến Việt Nam để tìm lại một di sản chiến tranh, nhưng ở một khía cạnh nhân văn của nó - đó là những con người, địa điểm từng xuất hiện trong các bức ảnh mà nữ phóng viên chiến trường nổi tiếng Catherine Leroy ghi lại trong cuộc tấn công Mậu Thân vào thành phố Huế.
Thanh Minh là bút danh chính của Nguyễn Hưu(1), người làng Yên Tập, tổng Phù Lưu, huyện Can Lộc, nay là xã Tân Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
LTS: Nhà văn Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh năm Bính Ngọ 1906 ở Tuyên Quang, song lại có gốc gác dòng họ Nguyễn ở Huế. Ông nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ những năm 1930 - 1945, được mệnh danh là “nhà văn đường rừng”, để lại hàng trăm tác phẩm văn học, trong đó có gần 50 cuốn tiểu thuyết.
Thực tế lịch sử gần 70 năm qua đã khẳng định rằng Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ và là kết quả tất yếu từ công lao to lớn của Bác chuẩn bị cho việc tiến hành cuộc cách mạng giải phóng kể từ ngày Bác về nước.