Chiêm ngưỡng nhan sắc Hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn

15:08 15/01/2014

Đương thời, vua Bảo Đại từng nhận xét về vẻ đẹp của Nam Phương Hoàng hậu rằng: “Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người con gái miền Nam, thùy mị và quyến rũ, pha một chút Tây phương làm tôi say mê”.

Hai con tem cổ có in hình Nam Phương Hoàng hậu.

Nam Phương Hoàng hậu, tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan (1914-1963). Bà là vợ vua Bảo Đại, cũng là vị hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Sinh ra tại huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường, nay là thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, bà vốn xuất thân trong một gia đình Công giáo giàu có bậc nhất miền Nam thời bấy giờ.

Cha mẹ bà sinh được hai con gái, bà là thứ hai. Cuộc sống của hai chị em vô cùng sung sướng. Họ đã sống tuổi thanh xuân êm đềm, đẹp đẽ. Đó có lẽ cũng là giai đoạn hạnh phúc nhất đời của người thiếu nữ sau này sẽ trở thành Hoàng hậu.
Năm 1926, khi được 12 tuổi, bà được gia đình cho sang Pháp học tại trường nữ sinh danh tiếng Couvent des Oiseaux ở Paris do các nữ tu điều hành. Tháng 9/1932, sau khi học xong, bà Nguyễn Hữu Thị Lan về nước trên cùng một chuyến tàu với vua Bảo Đại nhưng hai người không gặp nhau.

Tới khi đã về Việt Nam được gần một năm, nhân dịp vua Bảo Đại lên Đà Lạt nghỉ mát, trong một buổi dạ tiệc có sự sắp xếp trước, bà đã gặp vua Bảo Đại lần đầu tiên.

Hoàng hậu Nam Phương sau này từng nhắc lại một cách chi tiết về buổi gặp gỡ đầu tiên đó:

“Hôm đó, giấy mời gửi tới cậu Lê Phát An tôi, mời cậu và tôi đến dự dạ tiệc ở Hotel Palace. Tôi không muốn đi nhưng cậu An tôi năn nỉ và hứa là chỉ đến tham dự một chút, vái chào nhà vua xong là về nên tôi phải đi một cách miễn cưỡng.
Tôi cũng chỉ trang điểm sơ sài, mặc cái áo dài bằng lụa đen mua bên Pháp. Chúng tôi đến trễ nên buổi tiệc đã bắt đầu từ lâu. Cậu tôi kéo ghế định ngồi ngoài hiên thì ông đốc lý trông thấy, ông ta chạy đến chào chúng tôi rồi nắm tay cậu tôi kéo chúng tôi vô nhà.

Vừa đi ông vừa nói: Ông và cô phải đến bái yết Hoàng thượng mới được. Khi cánh cửa phòng khách vừa mở, tôi thấy vua Bảo Đại ngồi trên chiếc ghế bành chính giữa nhà. Ông đốc lý bước tới bên cạnh vua rồi nghiêng mình kính cẩn nói bằng tiếng Pháp: Tâu Hoàng thượng, đây là ông Lê Phát An và người cháu gái, cô Marie Thérèse.

Nhờ các nữ tu ở trường Couvent des Oiseaux chỉ dạy nên tôi biết phải làm gì để tỏ lòng tôn kính đối với nhà vua, tôi đã không ngần ngại đến trước mặt hoàng thượng và hành lễ. Vua gật đầu chào tôi đúng lúc tiếng nhạc vừa trỗi dậy theo nhịp Tango, ngài ngỏ lời mời và dìu tôi ra sàn nhảy rồi chúng tôi bắt đầu nói chuyện.

Về sau, khi đã trở thành vợ chồng, ngài mới cho tôi biết hôm đó ngài rất chú ý cách phục sức đơn sơ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi được nhà vua lưu ý một phần do trong suốt buổi dạ tiệc chỉ có tôi là người phụ nữ Việt Nam duy nhất nói tiếng Pháp và hành lễ đúng cung cách với ngài”.

Về cuộc tình duyên này, vua Bảo Đại về sau có viết trong cuốn “Con rồng Việt Nam” như sau:

“Sau lần hội ngộ đầu tiên ấy, thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp nhau để trao đổi tâm tình. Marie Thérèse (tên thánh của bà Nguyễn Hữu Thị Lan) thường nhắc đến những kỷ niệm ở trường Couvent des Oiseaux một cách thích thú.

Cũng như tôi, Marie Thérèse rất thích thể thao và âm nhạc. Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người con gái miền Nam, thùy mị và quyến rũ, pha một chút Tây phương làm tôi say mê. Do vậy mà tôi đã chọn từ ghép Nam Phương để đặt danh hiệu cho nàng”. Nam Phương theo lý giải của vua Bảo Đại có nghĩa là “người con gái miền Nam”.

Khi vua Bảo Đại hỏi cưới, gia đình bà ra điều kiện bà phải được tấn phong Chính cung Hoàng hậu ngay trong ngày cưới, được giữ nguyên đạo Công giáo và các con khi sinh ra phải được rửa tội theo giáo luật Công giáo. Riêng vua Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.

Do bà Nguyễn Hữu Thị Lan theo Công giáo nên cuộc hôn nhân của bà và vua Bảo Đại đã gặp phải nhiều lời phản đối. Trước Hoàng tộc, vua Bảo Đại đã phải “nói cứng” rằng: “Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho… triều đình”.

Hôn lễ được tổ chức ngày 20/3/1934 ở Huế. Khi đó, vua Bảo Đại 21 tuổi, còn bà Nguyễn Hữu Thị Lan 20 tuổi. Ngay ngày hôm sau, lễ tấn phong Hoàng hậu được diễn ra. Nhà vua phong cho bà tước vị Nam Phương Hoàng hậu.

Sự kiện Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng hậu ngay sau khi cưới là một biệt lệ. Vì 12 đời vua Nguyễn trước, vợ vua chỉ được phong tước vương phi, đến khi chết mới được truy phong Hoàng hậu.

Hoàng hậu Nam Phương cùng vua Bảo Đại có tất cả 5 người con. Khi đó công việc hàng ngày của hoàng hậu Nam Phương là dạy dỗ các hoàng tử, công chúa. Thỉnh thoảng bà cùng các quan ở Bộ Lễ bàn thảo việc tổ chức lễ tiệc trong cung đình, lo việc cúng giỗ các tiên đế và đi vấn an các bề trên. Hoàng hậu Nam Phương còn tham gia các hoạt động xã hội và từ thiện.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, vua Bảo Đại thoái vị. Nam Phương Hoàng hậu rời Việt Nam sang Pháp năm 1947. Những năm cuối đời, bà sống lặng lẽ cùng các con tại Perche, một làng cổ ở Chabrignac, tỉnh Corrèze, vùng Limousin nước Pháp. Bảo Đại có đến thăm bà vài lần.

Dân làng kể rằng cuộc sống của bà tuy không khó khăn nhưng cũng không hạnh phúc. Bao năm chỉ thấy cựu hoàng về thăm bà mấy lần. Thường bà chỉ sống âm thầm trong ngôi nhà vắng vẻ, thỉnh thoảng lắm mới về Paris thăm các con. Có lẽ vui nhất đối với bà là những dịp nghỉ hè khi các con về chơi với mẹ.

Một lần, bà thấy đau cổ. Bác sĩ tới thăm bệnh, nói bà bị viêm họng. Không ngờ sau đó, càng lúc bà càng khó thở hơn và trái tim đã ngừng đập ở tuổi 49. Ngoài hai người giúp việc trong nhà, không có một người ruột thịt nào có mặt bên bà trong giờ phút lâm chung. Khi đó, các con bà đang đi học hoặc đi làm ở Paris.

Đám tang của bà được tổ chức một cách sơ sài, lặng lẽ, không tiếng khóc than, không lời điếu văn. Ngày tổ chức tang lễ, ngoài 5 người con bên cạnh quan tài mẹ, không còn một người bà con nào khác.

 

Theo Hồ Bích Ngọc (Dân Trí)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Cho rng ch tch xã đã xúc phm “thn linh” nên người dân đòi “x” ch tch xã đ bo v miếu c. Câu chuyn l này xy ra ti xã Phú Thun, huyn Phú Vang, tnh Tha Thiên - Huế.

  • SHO - Chiều 14/4, Tạp chí Sông Hương  tổ chức buổi giới thiệu tập thơ “Phục hưng tôi & em” của nhà thơ Từ Hoài Tấn tại trụ sở Tạp chí, số 9 Phạm Hồng Thái, thành phố Huế.

  • SHO -  Chào mừng Festival Huế 2014, vào chiều ngày 11/4, Tạp chí Sông Hương đã tổ chức khai mạc triển lãm tranh "Về về lại" tại trụ sở Tạp chí, số 9 Phạm Hồng Thái, thành phố Huế.

  • Vịnh Lăng Cô thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế là 1 trong 10 vịnh đẹp của Việt Nam, thu hút rất nhiều du khách bởi vẻ đẹp kỳ vĩ của núi rừng nhiệt đới rộng lớn và biển cả trong xanh bao la.

  • Làng quê Việt Nam hiếm nơi nào như làng Phước Tích (thuộc xã Phong Hòa, H. Phong Điền, TT-Huế) có con sông Ô Lâu hiền hòa chảy bao quanh như dải lụa mềm ôm ấp cuộc sống thanh bình, yên ả của người dân. Trải qua 544 năm, nơi đây còn lưu giữ nguyên vẹn dáng dấp một ngôi làng cổ Việt Nam với những đặc trưng kiến trúc, văn hóa, và tín ngưỡng..., được Bộ VH-TT&DL công nhận di tích quốc gia...

  • Ngày 1/4 và 2/4, Lễ hội Điện Huệ Nam (hay còn gọi Điện Hòn Chén)đã diễn ra với lượng du khách rất đông đến từ các tỉnh trong cả nước. 

  • Buổi sáng, đường phố ở Huế không thức dậy một cách vội vã. Có lẽ nhộn nhịp nhất chỉ có khu vực cầu Tràng Tiền, những dòng xe cộ ngược xuôi chở hàng hóa về bên kia, bên này... Và những gánh hàng rong cũng theo đó rảo bước nhanh, nhịp nhàng đôi quang gánh về phố cho kịp phục vụ người ăn sáng.

     

  • Có thể nói, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế là nơi lưu giữ nhiều nhất, đầy đủ nhất những hiện vật ghi dấu về triều Nguyễn và cuộc sống vương triều xưa - một thuở vàng son nay đã trở thành ký ức.

  • "Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi/Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt/ Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt/Rọi suốt trăm năm một cõi đi về"  Tôi vẫn nhớ như in cái không gian cách đây gần hai mươi năm về trước, trong một quán cà phê lụp xụp, mái lợp tranh ở đường Đặng Thái Thân, Huế, lần đầu tiên được nghe ca khúc Một cõi đi về.

  • Cuộc thi do Báo Thừa Thiên Huế phát động từ giữa năm 2013. Hơn 500 tác phẩm của 30 tác giả gửi về dự thi. Qua tuyển chọn, 59 tác phẩm của 14 tác giả đã lọt vào vòng chung khảo.

  • Đó là làng chài hơn 250 năm tuổi nép mình ở vịnh Lăng Cô (Thừa Thiên Huế). Đến đây, du khách sẽ cảm nhận được vẻ đẹp của sự yên bình.

  • Tranh làng Sình xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên- Huế vốn là dòng tranh dân gian nức tiếng. Nhưng cũng có lúc tranh làng Sình mai một. Tuy nhiên, nhờ những  nghệ nhân tâm huyết mà nay dòng tranh này đã trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách.

  • Ngày 7/11/2003, Nhã nhạc triều Nguyễn (còn gọi là Nhã nhạc Huế) - Âm nhạc cung đình Việt Nam được chính thức ghi tên vào danh mục "Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại."

  • Một dự án nghiên cứu mới vừa công bố cho biết 136/720 di tích văn hóa trên thế giới “có thể sẽ biến mất sau 2.000 năm do mực nước biển dâng”, trong đó có quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận tháng 12-1993.

  • SHO - Chào mừng 104 năm ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và 1974 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chiều ngày 7/3, Liên hiệp các Hội VHNT và  Hội Mỹ thuật Thừa Thiên Thiên Huế đã tổ chức khai mạc triển lãm “Tặng phẩm tháng Ba” tại số 26 Lê Lợi, Huế. 

  • 46 tuổi mới có được triển lãm nghệ thuật đầu tiên nhưng chừng đó thời gian trở về sau cũng đủ dựng nên tượng đài sừng sững Điềm Phùng Thị - tên tuổi tiêu biểu của nền nghệ thuật điêu khắc thế giới thế kỷ XX. Nhưng, trước khi trở thành một nghệ sĩ lớn, nhiều người quên mất bà cũng đã là một bác sĩ tài đức.

  • Nếu như làng cổ ở Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội) mang dáng dấp đặc trưng của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, thì làng cổ Phước Tích (Phong Hòa, huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế) lại còn khá nguyên vẹn những yếu tố gốc của làng cổ vùng văn hóa Huế và miền Trung.

  • Nét trầm mặc cổ kính, đêm Hoàng Cung huyền diệu tái hiện lịch sử của chốn lầu son hay những lời ca ngọt ngào trên sông Hương đã tạo nên một Huế mộng mơ hấp dẫn du khách.

  • Nhà thơ Võ Quê vừa sưu tầm và ấn hành tập 1 Lời ca Huế (NXB Thuận Hóa) với 11 tác phẩm của Á Nam Trần Tuấn Khải, Tản Đà, Bửu Lộc… và các tác giả khuyết danh nhằm giới thiệu một cách đầy đủ phần lời các bài ca Huế vốn tồn tại dưới hình thức truyền khẩu. TT&VH có cuộc trò chuyện với ông về công việc thầm lặng này.

  • Tuồng Huế, đã có nhiều cuộc hội thảo với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nghệ sĩ lừng danh, tất cả đều đặt ra câu hỏi làm thế nào để bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật đã một thời được xem là quốc kịch dưới triều nhà Nguyễn.