Đương thời, vua Bảo Đại từng nhận xét về vẻ đẹp của Nam Phương Hoàng hậu rằng: “Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người con gái miền Nam, thùy mị và quyến rũ, pha một chút Tây phương làm tôi say mê”.
Hai con tem cổ có in hình Nam Phương Hoàng hậu.
Nam Phương Hoàng hậu, tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan (1914-1963). Bà là vợ vua Bảo Đại, cũng là vị hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Sinh ra tại huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường, nay là thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, bà vốn xuất thân trong một gia đình Công giáo giàu có bậc nhất miền Nam thời bấy giờ.
Cha mẹ bà sinh được hai con gái, bà là thứ hai. Cuộc sống của hai chị em vô cùng sung sướng. Họ đã sống tuổi thanh xuân êm đềm, đẹp đẽ. Đó có lẽ cũng là giai đoạn hạnh phúc nhất đời của người thiếu nữ sau này sẽ trở thành Hoàng hậu.
Năm 1926, khi được 12 tuổi, bà được gia đình cho sang Pháp học tại trường nữ sinh danh tiếng Couvent des Oiseaux ở Paris do các nữ tu điều hành. Tháng 9/1932, sau khi học xong, bà Nguyễn Hữu Thị Lan về nước trên cùng một chuyến tàu với vua Bảo Đại nhưng hai người không gặp nhau.
Tới khi đã về Việt Nam được gần một năm, nhân dịp vua Bảo Đại lên Đà Lạt nghỉ mát, trong một buổi dạ tiệc có sự sắp xếp trước, bà đã gặp vua Bảo Đại lần đầu tiên.
Hoàng hậu Nam Phương sau này từng nhắc lại một cách chi tiết về buổi gặp gỡ đầu tiên đó:
“Hôm đó, giấy mời gửi tới cậu Lê Phát An tôi, mời cậu và tôi đến dự dạ tiệc ở Hotel Palace. Tôi không muốn đi nhưng cậu An tôi năn nỉ và hứa là chỉ đến tham dự một chút, vái chào nhà vua xong là về nên tôi phải đi một cách miễn cưỡng.
Tôi cũng chỉ trang điểm sơ sài, mặc cái áo dài bằng lụa đen mua bên Pháp. Chúng tôi đến trễ nên buổi tiệc đã bắt đầu từ lâu. Cậu tôi kéo ghế định ngồi ngoài hiên thì ông đốc lý trông thấy, ông ta chạy đến chào chúng tôi rồi nắm tay cậu tôi kéo chúng tôi vô nhà.
Vừa đi ông vừa nói: Ông và cô phải đến bái yết Hoàng thượng mới được. Khi cánh cửa phòng khách vừa mở, tôi thấy vua Bảo Đại ngồi trên chiếc ghế bành chính giữa nhà. Ông đốc lý bước tới bên cạnh vua rồi nghiêng mình kính cẩn nói bằng tiếng Pháp: Tâu Hoàng thượng, đây là ông Lê Phát An và người cháu gái, cô Marie Thérèse.
Nhờ các nữ tu ở trường Couvent des Oiseaux chỉ dạy nên tôi biết phải làm gì để tỏ lòng tôn kính đối với nhà vua, tôi đã không ngần ngại đến trước mặt hoàng thượng và hành lễ. Vua gật đầu chào tôi đúng lúc tiếng nhạc vừa trỗi dậy theo nhịp Tango, ngài ngỏ lời mời và dìu tôi ra sàn nhảy rồi chúng tôi bắt đầu nói chuyện.
Về sau, khi đã trở thành vợ chồng, ngài mới cho tôi biết hôm đó ngài rất chú ý cách phục sức đơn sơ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi được nhà vua lưu ý một phần do trong suốt buổi dạ tiệc chỉ có tôi là người phụ nữ Việt Nam duy nhất nói tiếng Pháp và hành lễ đúng cung cách với ngài”.
Về cuộc tình duyên này, vua Bảo Đại về sau có viết trong cuốn “Con rồng Việt Nam” như sau:
“Sau lần hội ngộ đầu tiên ấy, thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp nhau để trao đổi tâm tình. Marie Thérèse (tên thánh của bà Nguyễn Hữu Thị Lan) thường nhắc đến những kỷ niệm ở trường Couvent des Oiseaux một cách thích thú.
Cũng như tôi, Marie Thérèse rất thích thể thao và âm nhạc. Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người con gái miền Nam, thùy mị và quyến rũ, pha một chút Tây phương làm tôi say mê. Do vậy mà tôi đã chọn từ ghép Nam Phương để đặt danh hiệu cho nàng”. Nam Phương theo lý giải của vua Bảo Đại có nghĩa là “người con gái miền Nam”.
Khi vua Bảo Đại hỏi cưới, gia đình bà ra điều kiện bà phải được tấn phong Chính cung Hoàng hậu ngay trong ngày cưới, được giữ nguyên đạo Công giáo và các con khi sinh ra phải được rửa tội theo giáo luật Công giáo. Riêng vua Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.
Do bà Nguyễn Hữu Thị Lan theo Công giáo nên cuộc hôn nhân của bà và vua Bảo Đại đã gặp phải nhiều lời phản đối. Trước Hoàng tộc, vua Bảo Đại đã phải “nói cứng” rằng: “Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho… triều đình”.
Hôn lễ được tổ chức ngày 20/3/1934 ở Huế. Khi đó, vua Bảo Đại 21 tuổi, còn bà Nguyễn Hữu Thị Lan 20 tuổi. Ngay ngày hôm sau, lễ tấn phong Hoàng hậu được diễn ra. Nhà vua phong cho bà tước vị Nam Phương Hoàng hậu.
Sự kiện Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng hậu ngay sau khi cưới là một biệt lệ. Vì 12 đời vua Nguyễn trước, vợ vua chỉ được phong tước vương phi, đến khi chết mới được truy phong Hoàng hậu.
Hoàng hậu Nam Phương cùng vua Bảo Đại có tất cả 5 người con. Khi đó công việc hàng ngày của hoàng hậu Nam Phương là dạy dỗ các hoàng tử, công chúa. Thỉnh thoảng bà cùng các quan ở Bộ Lễ bàn thảo việc tổ chức lễ tiệc trong cung đình, lo việc cúng giỗ các tiên đế và đi vấn an các bề trên. Hoàng hậu Nam Phương còn tham gia các hoạt động xã hội và từ thiện.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, vua Bảo Đại thoái vị. Nam Phương Hoàng hậu rời Việt Nam sang Pháp năm 1947. Những năm cuối đời, bà sống lặng lẽ cùng các con tại Perche, một làng cổ ở Chabrignac, tỉnh Corrèze, vùng Limousin nước Pháp. Bảo Đại có đến thăm bà vài lần.
Dân làng kể rằng cuộc sống của bà tuy không khó khăn nhưng cũng không hạnh phúc. Bao năm chỉ thấy cựu hoàng về thăm bà mấy lần. Thường bà chỉ sống âm thầm trong ngôi nhà vắng vẻ, thỉnh thoảng lắm mới về Paris thăm các con. Có lẽ vui nhất đối với bà là những dịp nghỉ hè khi các con về chơi với mẹ.
Một lần, bà thấy đau cổ. Bác sĩ tới thăm bệnh, nói bà bị viêm họng. Không ngờ sau đó, càng lúc bà càng khó thở hơn và trái tim đã ngừng đập ở tuổi 49. Ngoài hai người giúp việc trong nhà, không có một người ruột thịt nào có mặt bên bà trong giờ phút lâm chung. Khi đó, các con bà đang đi học hoặc đi làm ở Paris.
Đám tang của bà được tổ chức một cách sơ sài, lặng lẽ, không tiếng khóc than, không lời điếu văn. Ngày tổ chức tang lễ, ngoài 5 người con bên cạnh quan tài mẹ, không còn một người bà con nào khác.
Theo Hồ Bích Ngọc (Dân Trí)
Tải mã QRCode
Sáng 23/10, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 tiếp tục làm việc, đây là phiên bế mạc của Đại Hội.
Chiều 22/10, đồng chí Tòng Thị Phóng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội đã đến thăm và tặng quà người dân bị thiệt hại do mưa lũ tại huyện Phong Điền và Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sáng ngày 22/10, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế phối hợp với Quỹ giáo dục hiếu học Huế tổ chức trao quà hỗ trợ cho người dân vùng lũ tại Làng Nam Thanh, xã Hương Toàn.
Nhằm chia sẻ khó khăn với người dân vùng lũ lụt Thừa Thiên Huế cũng như các cán bộ chiến sĩ làm công tác cứu hộ, cứu nạn tại Rào Trăng 3, nhiều doanh nghiệp đã hỗ trợ giúp nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định cuộc sống.
Mưa lớn nhiều ngày qua đã khiến cho nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế bị ngập lụt, giao thông bị chia cắt, tình trạng sạt lở đất hết sức phức tạp, cuộc sống của người dân bị đảo lộn và rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Trước tình hình đó, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Huế đã tổ chức quyên góp và trao những nhu yếu phẩm đến người dân vùng lũ nhằm chia sẻ khó khăn với người dân trong thời gian này.
Ngày 20/10, UBND tỉnh đã ban hành Công điện số 15/CĐ-UBND ngày 20/10/2020 về việc khắc phục hậu quả mưa lũ đặc biệt lớn và triển khai ứng phó với mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất.
Chiều ngày 19/10, tại Ủy Ban nhân dân tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã tổ chức buổi họp báo cung cấp thông tin báo chí về Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XVI – Nhiệm kỳ 2020 – 2015.
VĂN
- Giấc mơ lơ lửng - Lê Thị Kim Sơn
- Chiếc cù lao - Nguyễn Đức Sơn
Theo thông tin từ UBND tỉnh, lực lượng cứu hộ cứu nạn đã tiếp cận được hiện trường sạt lở tại thủy điện Rào Trăng 3.
Sáng ngày 18/10, Lễ viếng, truy điệu các cán bộ hy sinh khi làm nhiệm vụ khắc phục hậu quả lũ lụt tại tỉnh Thừa Thiên Huế được tổ chức trọng thể tại Nhà tang lễ Bệnh viện Quân y 268 (phường Thuận Lộc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế).
Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 1594/QĐ-TTg cấp Bằng "Tổ quốc ghi công" cho 13 cán bộ, chiến sỹ thuộc Bộ Quốc phòng và tỉnh Thừa Thiên Huế đã hy sinh ngày 13/10 khi đang thực hiện công tác tìm kiếm, cứu nạn tại công trình Thủy điện Rào Trăng 3, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sáng ngày 16/10, Sở Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Công văn về việc cho học sinh nghỉ học để phòng tránh bão số 8.
Sáng 16/10, UBND tỉnh đã có cuộc họp với Quân khu 4 và các lực lượng chức năng để đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm công tác tìm kiếm cứu nạn cứu hộ, cứu nạn và bàn phương án tìm kiếm 16 công nhân đang mất tích tại Thủy điện Rào Trăng 3.
Đến 19h30 hôm nay, lực lượng tìm kiếm cứu nạn Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 4 đã tìm thấy thi thể 13 thành viên trong đoàn công tác gặp nạn tại Trạm bảo vệ rừng 67.
Trong chiều 14 đến sáng 15-10, tại hiện trường vụ sạt lở núi ở thủy điện Rào Trăng 3, và Trạm bảo vệ rừng 67 (thuộc sơn phận xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), hàng trăm cán bộ, chiến sĩ vẫn đang được huy động tăng cường để nỗ lực đào bới, tìm kiếm người mất tích.
Thi thể nạn nhân đầu tiên trong số 17 công nhân gặp nạn tại công trình thủy điện Rào Trăng 3 đã được lực lượng chức năng đưa ra khỏi hiện trường bằng đường sông.
Ủy ban nhân dân tỉnh vừa thông tin về việc triển khai triển khai công tác cứu hộ, cứu nạn tại xã Phong Xuân, huyện Phong Điền.
Chiều ngày 13/10, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai đã có mặt tại tỉnh Thừa Thiên Huế để kiểm tra tình hình mưa lũ và công tác cứu hộ, cứu nạn tại thủy điện Rào Trăng 3.
Sáng 11/10, UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lê Trường Lưu; TUV, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy Hoàng Khánh Hùng đã đi kiểm tra tình hình ứng phó với mưa lũ tại điểm thấp trũng của huyện Phong Điền.
Sáng 12/10, Chủ tịch UBND tỉnh Phan Ngọc Thọ đã chủ trì cuộc họp trực tuyến với các sở, ban, ngành, địa phương về công tác ứng phó lũ lụt trên địa bàn tỉnh. Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cấp, các ngành theo dõi chặt chẽ diễn biến mưa lũ, tiếp tục chỉ đạo các biện pháp khẩn cấp ứng phó với mưa lũ kéo dài, tuyệt đối không để một ai bị thiếu đói, tính mạng của người dân phải được đặt lên hàng đầu.