Chiếc cầu mưa trong thơ Hải Bằng(1)

14:44 23/03/2020

HỒ THẾ HÀ

Mấy mươi năm cầm bút đi kháng chiến, Hải Bằng chỉ vỏn vẹn có 1 tập thơ in chung Hát về ngọn lửa (1980) ra mắt bạn đọc.

Gần 10 năm sau mới có Trăng đợi trước thềm (1988), rồi thơ tình Hải Bằng (1989) và gần đây nhất là Mưa Huế(1991). Quả là con đường nghệ thuật của anh không dễ dàng và thuận lợi. Những gì bạn đọc biết và hiểu về anh hãy còn ít ỏi so với kết quả anh có: Hàng nghìn bài thơ, hằng trăm bức tranh và bức tượng bằng rễ cây. Điều ấy cũng có thể gọi là thiệt thòi đối với Hải Bằng, dẫu biết rằng sức mạnh nghệ thuật có quy luật riêng của nó, không phải ở số lượng mà là ở chất lượng, ở hồn thơ, ở nỗi đau nhân tình thế thái...

Có thể nhận xét một cách khái quát hành trình thơ của Hải Bằng là hành trình đi từ cái riêng đến cái chung và về lại cái riêng; từ ngợi ca hào hùng về với trữ tình đời tư và chiêm nghiệm. Đấy cũng là hành trình chung của nhiều nhà thơ Việt Nam, nhưng ở Hải Bằng lại mang những nét riêng gắn với những thăng trầm của cuộc sống và những vui buồn, khuyết lõm của đời anh nên dễ được người đọc yêu mến, cảm thông.

Anh đi nhiều và nhạy bén trong việc quan sát và nắm bắt hiện thực khách quan. Mọi sự vật và hiện tượng đối với anh đều có chất thơ và có ma lực truyền vào anh sự rung cảm tinh tế để trở thành tiếng thơ sâu nặng. Hiện nay, anh vẫn miệt mài lao động nghệ thuật. Có lẽ, khi anh ý thức về tuổi đời và sức khỏe của mình thì việc sáng tạo đối với anh như một nhu cầu bức thiết, như một cuộc chạy đua với thời gian - và lạ thay - nó như một phép dưỡng sinh, giúp anh quên đi bệnh tật thiếu thốn để sáng tác và hy vọng, để đọc thơ tình trước khán giả sôi nổi như một tráng niên.

Nghĩ về Hải Bằng, tôi cứ nghĩ về điều đó, và tự nhiên, tôi yêu quí anh - một tấm gương lao động nghệ thuật miệt mài.

Mưa Huế ra mắt bạn đọc trong dịp nhà thơ tròn 60 tuổi với lời cảm ơn trân trọng ở đầu sách của tác giả đối với bằng hữu và bạn đọc gần xa đã giúp đỡ anh về vật chất lẫn tinh thần, càng làm cho mọi người xúc động - qua đó - mới biết phần thưởng mà Hải Bằng có được thật là quí giá.

Chọn mưa làm đối tượng để miêu tả, hẳn Hải Bằng đã tâm đắc và gắn bó sâu nặng với nó như thế nào, nhưng ở đây là mưa Huế thì ý nghĩa lại khác. Mưa ở đây không còn là khái niệm mà đã thành mưa cụ thể? Mưa Huế - mưa quê hương - mưa của những vui buồn kỷ niệm ám ảnh suốt đời anh.

100 bài thơ mưa được tái hiện bằng lối thơ 4 câu nhưng không gò bó, gượng ép, không lặp lại mình, trái lại, mỗi bài thơ là mỗi nỗi niềm, mỗi suy tư, chiêm nghiệm. Điều ấy, đủ biết Hải Bằng làm chủ đề tài và làm chủ mình đến mức nào.

Mưa trong thơ Hải Bằng có nhiều cung bậc và tâm trạng. Trước hết, nó gắn bó với suốt tuổi ấu thơ, với Huế - nơi anh cất tiếng khóc chào đời qua lời ru của mẹ

"Thuở sinh con mẹ mong trời tạnh mưa
Nhưng trời chẳng chiều theo ý mẹ
Tờ giấy khai sinh có tên con tên Huế
Ngày lọt lòng con khóc giữa mùa mưa"

Và vì vậy, chẳng thể nào khác được nếu hiểu mưa của anh mà thiếu lời ru của mẹ, thiếu hình ảnh quê hương: Mưa trong lòng rơi giọt thương giọt nhớ. Giọt cất dành cho nơi mẹ sinh ta. Suốt cuộc đời mình, anh đã ấp ủ và cất giữ mưa như hành lý để yêu thương và khát vọng.

Mưa là nhân chứng, là bài học làm người của anh. Có mưa, đời biết buồn vui, hờn giận, và có cuộc sống xanh tươi:

Mưa tuổi thơ hồn nhiên, vô tư lự:

"Tôi đã tắm tuổi thơ vào mùa mưa
Con đò giấy trôi sâu vào tiếng khóc”

Mưa tuổi vào yêu với bao ước ao, rung cảm lặng thầm:

"Mùa thu về dáng em đi thầm lặng
Trong lặng thm ánh la cháy lan xa"

Và rốt cuộc, chỉ có mưa được đi cùng dáng nhỏ sang bến bờ xa cách để riêng anh thành nỗi nhớ phía bên ni.

Đối lập với cảm xúc tinh nhạy, mãnh liệt của tuổi biết yêu của Hải Bằng là một tâm hồn nhút nhát, vụng về, do vậy, từ tình yêu thầm lặng anh chỉ còn biết mơ mộng, tưởng tượng. Nó như 1 âm bản ước mơ của anh.

"Gặp em trong mắt thm xao động
Tóc chảy xuống vai mm ai biết đó là mưa”

Từ mơ mộng, tưởng tượng anh không ngừng đẩy nó đến tận cùng của sự lãng mạn, và cũng chỉ có mưa làm nhân chứng mà thôi.

"Em là ngoại ô của tâm hồn sâu lắng
Sau cơn mưa, nơi đó có trăng về"

Tình yêu tuổi thơ như thế lại đẹp chứ sao. Nhưng đến tuổi trưởng thành mà không có tình yêu thì đó là nỗi đau khó bù đắp, Hải Bằng lại rơi vào trường hợp ấy. Không phải anh ngu ngơ, nhút nhát mãi đâu. Chính cái lý do anh nói ra sau đây là lời tự bạch pha chút xa xót nhưng nó chân thật, mãnh liệt làm sao.

"Tôi không có mối tình đầu nơi cắt rốn chôn nhau
Vì ngày ra đi tuổi còn bé quá
Thuở chia tay, Huế vào mùa tầm tã
Giờ gặp em rồi tôi bỗng hóa cánh thơ mưa"

Hình như cứ mỗi biến động trong đời anh thì cơn mưa lại đến, mưa như duyên nợ để trở thành ám ảnh.

Yêu mà không được yêu, thường tình, con người tự thỏa mãn mình bằng những giấc mơ hoặc có những cảm giác đê mê, đau buồn như trẻ nhỏ. Quả thật, Hải Bằng đã lọc được cảm giác ấy một cách mãnh liệt tuy ở tuổi muộn mằn. Anh được yêu, được hạnh phúc nhưng rồi bỗng chốc tan biến, mỏng manh để mãi mãi, bài hát ấy, tình yêu ấy, giọt mưa ấy thành dư âm không tắt.

"Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi
Lời ca ấy đã trôi đi những điều mơ ước"

Và dẫu biết rằng niềm vui không thể có lần thứ 2, còn nỗi buồn thì dai dẳng, anh vẫn đón từng cơn mưa mang khúc nhạc của riêng mình. Thế mới biết Hải Bằng khát yêu và độ lượng.

Biết mình, hiểu người, không oán trách bởi dù sao Giọt mưa thu vẫn còn mãi dư âm. Dư âm ấy đủ để anh hiểu hết sức mạnh của tình yêu và không ngừng nuôi hy vọng, không ngừng khám phá và giao cảm.

"Hạt mưa dồn vào phía chiếc nón nghiêng
Giữa khuôn mặt ẩn mưa có chấm tròn hy vọng
Trong cơn mưa cái gì cũng bé bỏng
Chỉ còn em và đôi mắt mênh mông"

Có thể nói rằng mưa cũng là anh. Chiếc cầu mưa trong thơ Hải Bằng có lúc hữu hình, có lúc vô hình; có khi thực, có khi mộng nhưng nó đủ sức đưa tâm hồn anh đến mọi bến bờ. Có lúc anh quay về với quê hương tuổi thơ bên mẹ, có lúc anh chan hòa cùng thiên nhiên để thì thào cùng chim muông, cỏ cây hoa trái... Và tất cả những hiện thực ấy đi vào thơ anh đều trở thành tiếng nói đồng cảm, thành sự trở trăn về tình yêu và sự sống. Và không phải một lần, mỗi khi cảm thấy bất lực, anh trở lại với nó để tiếp tục suy tư, chiêm nghiệm. Vì vậy, mưa trong thơ Hải Bằng đa dạng, biến tấu qua nhiều màu sắc, âm thanh, hình ảnh.

"Đi tận đâu cũng trở v bên mẹ để Chở câu hò v giao mùa hạ cho em”. Và cứ thế, anh hiểu mình, anh hiểu đời.

"Tóc trắng đầu mới nhìn rõ mẹ hơn
Trăm bận ướt mới ngấm mùa mưa xứ sở
Đừng hỏi tại sao trời còn nức nở
Vì mẹ thường gạt nước mắt nuôi ta"

Hoặc:

"Ai đã liệm quan tài ngày đưa mẹ ra đi
Giờ bước trong mưa mới hiểu thêm đời mẹ
Nếu không có mùa mưa xứ Huế
Thì mai sau con chẳng biết nắng là gì"

Có thể nói rằng mỗi bài thơ mưa là mỗi hành động nhận thức. Rõ ràng nơi anh ra đi và cái đích phải là nơi anh trở lại nhưng với hành trang tâm hồn giàu có, phong phú hơn xưa. Từ chiếc cầu mưa mà Hải Bằng vẽ lên ta thấy cả hai bờ: Buồn đau và hạnh phúc. Giọt mưa hay giọt nước mắt? Giọt mưa hay giọt nắng? Có cả hai để làm thành bức tranh mưa kỳ lạ: buồn mà vẫn tươi màu nắng, buồn mà vẫn long lanh chấm tròn hy vọng. Đó là mưa Huế của Hải Bằng.

Như lúc đầu tôi đã nói: 100 bài thơ, cùng một thể loại, cùng một đối tượng mà thể hiện được biết bao tâm trạng, quả Hải Bằng là người thật sự nếm trải và giàu cảm xúc. Nhưng như thế không phải trong Mưa Huế không có nhiều bài chưa chín, chưa đều tay cần phải gọt giũa kỹ hơn và lẽ ra không nên đưa vội vào tập này nhưng thiết nghĩ, góp được cho Huế, cho đời bức tranh mưa mang hồn cuộc sống như vậy còn trách và đòi hỏi gì hơn nữa ở Hải Bằng - khi anh đã nhận ra điều ấy.

Tôi đã tham lam nói nhiều, trong khi lẽ ra chỉ thơ mưa Hải Bằng nói thôi là đủ. Nhưng tôi cứ nghĩ rằng những gì anh gửi gắm trong thơ chính là nỗi đau buồn, trăn trở của anh, không nói không đành, sợ anh bảo là không thông cảm. Bao giờ cũng thế; Nỗi buồn thường muốn được sẻ chia. Vì lẽ đó, tôi xin dừng những lời lạm bàn ở đây để cùng lắng nghe tiếng mưa rơi trong từng giọt buồn của thi sĩ Hải Bằng.

Huế, tháng 1 - 1992
H.T.H
(TCSH48/03&4-1992)

----------------
(1) Đọc tập thơ Mưa Huế - Hội Văn học nghệ thuật TT-Huế, 1991.

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG KIM ĐÁNGÔng nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ này là một trong những nhà văn châm biếm đứng hàng đầu thế giới. Hai mươi năm trước, ông đã đến Việt . Sở dĩ tôi khẳng định chắc chắn như vậy, bởi tôi có trong tay dòng bút tích ghi rõ năm tháng và chữ ký của tác giả; thậm chí còn chụp ảnh kỷ niệm với ông nữa. Tấm ảnh ấy, những dòng bút tích ấy, hiện còn lưu giữ trong cuốn truyện "NHỮNG NGƯỜI THÍCH ĐÙA", sách đó Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới của Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản lần thứ nhất.

  • HỒ THẾ HÀ(Đọc Cho từng ánh lửa, tập thơ của Hải Trung, NXB Thuận Hoá - Huế, 1999)Sự hiện diện của thơ Hải Trung trong đội ngũ những người sáng tác trẻ ở Huế là một niềm vui sau nhiều năm lặng lẽ âu lo của nhiều người về thế hệ làm thơ kế cận của xứ sở được mệnh danh là giàu mơ mộng thi ca này.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG(Đọc tập truyện "Ngôi nhà hoang bí ẩn" của Phan Văn Lợi)Tôi đọc mê mải tập truyện đầu tay của tác giả Phan Văn Lợi. Cái tựa "Ngôi nhà hoang bí ẩn" gợi trong lòng người đọc một câu hỏi ban đầu: Cuốn sách viết về cái gì đây? Càng đọc, càng bị cuốn hút khi cùng anh trở lại miền ký ức, để đi qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt.

  • LÊ MỸ ÝSau một loạt tác phẩm và tác giả được giới thiệu trên nhiều lĩnh vực tôn giáo, triết học, văn hoá, khoa học và nghệ thuật để làm tư liệu nghiên cứu và tham khảo, trong quý một năm nay, Nhà xuất bản Văn học lại tiếp tục cho ra mắt bộ sách lớn:"Krishnamurti - cuộc đời và tư tưởng" do Nguyễn Ước chuyển ngữ. Đây là một bộ sách công phu và được nhiều độc giả chờ đợi đón đọc.

  • VĂN CẦM HẢI       (Nằm nghiêng - Thơ- Nxb Hội Nhà văn 5/2002)Trên đất Thư "viết buồn thành mưa". Dưới trời Thư "viết buồn thành gió". Giữa đời Thư "viết nỗi buồn sống".

  • TRẦN THUỲ MAIThơ Ngàn Thương bàng bạc một nỗi quan hoài. Trong thơ anh, ta luôn gặp một vẻ quyến luyến ngậm ngùi, đúng như ấn tượng từ cái bút danh của tác giả: Ngàn Thương.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOLTS: Vậy là đã đúng một chu kì World Cup, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường bị “cải bệnh hoàn đồng” và phải tập ăn tập nói, tập đi tập đứng lại từ đầu. Dù vậy, anh vẫn viết được và viết hay như trước.Trong dịp Festival Huế 2002, đã diễn ra một cuộc hội thảo văn học về Hoàng Phủ Ngọc Tường nhân bộ tuyển tập của anh được Công ty Văn hóa Phương ấn hành.Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một số ý kiến đã thành văn được trình bày trong hội thảo đó.

  • NGUYỄN THIỀN NGHIHai chữ "Trăng lạnh" trắng trên nền bìa màu lam do tác giả tự trình bày bềnh bồng một chút tôi bằng những bài thơ tự sự của mình.

  • VỌNG THẢO(Đọc sách "Nhà văn Thừa Thiên Huế" – NXB Thuận Hoá 2002).Trải qua nhiều thế kỷ, Huế bao giờ cũng là miền đất tụ hội nhiều nhân tài văn hoá - văn học của đất nước. Trong bảng quang phổ bản sắc Việt Nam vô cùng bền vững, miền đất hội tụ nhân tài ấy luôn đằm thắm, lấp lánh một bản sắc "thần kinh" riêng biệt - một bản sắc mà tiếng nói của văn chương là thuần khiết và đa dạng.

  • NGUYỄN VĂN HOA           Tôi đã đọc sách Ăn chơi xứ Huế của nhà thơ Ngô Minh (*) một mạch như bị thôi miên. 247 trang sách với 36 bài bút ký viết về triết lý ẩm thực Huế, về các món ăn Huế như tiệc bánh, cơm muối, mè xửng, tôm chua, chè Huế, bánh canh, bún gánh, nem lụi, hôvilô (hột vịt lộn), bánh chưng, bánh khoái, cơm chay, chè bắp, món vả trộn, cháo lòng, rượu Minh Mạng Thang...

  • KIM QUYÊNĐọc tản văn của nhà văn Mai Văn Tạo (*) và nhà văn Trần Hữu Lục (*) tôi như đứng trên những tảng mây lấp lánh sắc màu, theo gió đưa về mọi miền, mọi nẻo quê hương.

  • HƯƠNG LANGuy de Maupassant sinh ngày 5-8-1850 ở lâu đài xứ Normandie. Trong một gia đình quý tộc sa sút. Khi mà nước Pháp vừa trải qua cuộc đụng đầu lịch sử giữa giai cấp tư sản hãy còn nhức nhối những vết thương thất bại của cuộc cách mạng năm 1848.

  • TRẦN ĐÌNH SỬTôi có duyên làm quen với Trần Hoàng Phố đã hai chục năm rồi, kể từ ngày vào dạy chuyên đề thi pháp học ở khoa Văn Đại học Sư phạm Huế đầu những năm 80. Hồi ấy anh đã là giảng viên nhưng theo dõi chuyên đề của tổi rất đều, tôi biết anh rất quan tâm cái mới. Sau đó tôi lại tham gia Hội đồng chấm luận án tiến sĩ của anh, được biết thêm anh là một người đọc rộng, uyên bác.

  • TRẦN THUỲ MAI(Đọc tập thơ "Quê quán tôi xưa" của Trần Hoàng Phố, NXB Thuận Hoá - Huế 2002)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊNhà văn Nguyễn Quang Hà, trong lời bạt cuốn tiểu thuyết mượn câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Cao Bá Quát (“Trường giang như kiếm lập thiên thanh”) làm nhan đề, đã xem đây là “những kỷ niệm đầy yêu thương suốt dọc đường chiến tranh” của mình.

  • VỌNG THẢO(Về tập sách "Vì người mà tôi làm như vậy" của Hà Khánh Linh – NXB Hội Nhà văn – 2002)

  • NGUYỄN THỊ GIANG CHIF.Kafka là một trong những nhà văn lớn nhất của thế kỷ XX, một hiện tượng văn học rất phức tạp, có ảnh hưởng rộng lớn đối với tiến trình phát triển của văn học thế giới, đặc biệt là ở phương Tây.

  • YÊN CHÂU(Đọc “Gặp lại tuổi hai mươi”(*) của Kiều Anh Hương)Ngay bài thơ in đầu tập “Vùng trời thánh thiện” có hai câu đã làm tôi giật mình, làm tôi choáng ngợp:                “Những lo toan năm tháng đời thường                Như tấm áo chật choàng lên khát vọng”

  • VỌNG THẢO... " Đôi trai gái đến nhót từ trong thau ra mỗi người một con cá ngậm ngang mồm, trút bỏ áo quần, trần truồng dắt tay nhau xuống nước. Hai con cá ấy là lễ vật dâng Thần Đầm. Chúng sẽ chứng kiến cái giờ phút linh thiêng hòa nhập làm một của đôi vợ chồng mới cưới, ngay trong lòng nước... Cuộc giao phối xong, đôi trai gái mới được há miệng. Hai chú cá liền bơi đi...".

  • VŨ NGỌC KHÁNH.(Đọc sách Phan Bội Châu- Toàn tập do Chương Thâu sưu tầm, biên soạn. Nhà xuất bản Thuận Hoá và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây- 2000)