Chất thơ trong "Vang bóng một thời"

14:39 10/08/2023

ĐỖ ĐỨC HIỂU

Chất thơ bao quanh tác phẩm văn chương và cuộc đời nghệ sĩ Nguyễn Tuân như một "huyền sử".

Bản in lần thứ sáu năm 1988 - Ảnh: tư liệu

Có thể cảm nhận Vang bóng một thời (1) của Nguyễn Tuân như một bài thơ, - một bài thơ với những nhịp mạnh xen lẫn với những nhịp nhẹ, với những trùng điệp day dứt, những rung động mãnh liệt hay nhẹ nhàng, tỏa lan thành những đợt sóng và những làn sương. Vang bóng một thời mang chất thơ của một thời lịch sử quyết liệt, được biểu hiện bằng những nhịp mạnh - những buổi chiều máu lửa, những va chạm dữ dội; của những giấc mơ trong sáng, thanh khiết, được diễn đạt bằng những nhịp nhẹ - sương khói mờ ảo của chén trà sương, nắng chiều tàn; của trí tưởng tượng thần tiên hay ma quái - oan hồn xõa tóc, những màu vàng ghê sợ, đỉnh non Tản huyền bí. Có thể thấy ở Vang bóng một thời ba mô-típ nghệ thuật, tôi tạm gọi là mô-típ "buổi chiều máu", mô-típ "sương mờ" và mô típ "Liêu trai". "Vang bóng" là chất thơ bao trùm ba mô tip trên, "một thời" chỉ rõ thời kì lịch sử cụ thể của nước ta, nhân dân ta, tức "giao thời" như nhà văn nói. Nguyễn Tuân, con người lãng tử, khí phách, độc lập ấy, đã nhìn sâu vào lịch sử bằng con mắt nghệ sĩ, tìm ra một phương diện cái đẹp của văn hóa dân tộc, cái hào hùng, bất khuất và cái thuần khiết của tâm hồn trong buổi giao thời nhập nhoạng, một thời kỳ lịch sử bị bạo lực vi phạm vô cùng thô bạo. Từ thời kỳ "hỗn loạn và xô bồ" ấy, với hình ảnh trận lụt mênh mông, cơn mưa dai dẳng, vườn chuối tả tơi, cơn đau bụng "hắc loạn", tiếng gió gào khóc..., Nguyễn Tuân chắt lọc một chất thơ sáng láng, trong sạch để sáng tạo một bản nhạc mười hai cung bậc - mười hai truyện của tập "Vang bóng một thời".

Trong tiếng thơ ngân dài của tập văn xuôi Vang bóng Chữ người tử tù, Ngôi mả cũ, Một đám bất đắc chí... là những nhịp điệu dằn dữ, hằn lên những âm thanh, màu sắc, những cảnh tượng dữ dội, những khuôn mặt kiên cường, những cử chỉ ngang tàng, gang thép. Ông Huấn Cao, người anh hùng bất khuất, suốt đời không hề viết chữ "vì ngọc vàng hay vì quyền thế", một đêm, đã "cho chữ" người quản ngục, một tấm lòng trong thiên hạ. Trong một không gian khác thường - một phòng giam chật chội, đầu mạng nhện và tổ rệp, ẩm ướt; ở một thời gian khác thường, - một đêm khuya tĩnh mịch, chỉ có tiếng mõ cầm canh vẳng lại, một bó đuốc rực cháy, khói lửa mịt mù như một đám cháy, ba con người chụm đầu trên một tấm lụa bạch, là một cảnh tượng hùng tráng: người quản ngục khúm núm căng phiến lụa, thầy thơ lại gầy gò, run run bưng chậu mực, Cao Bá Quát, chân vướng xiềng, viết những chữ vuông tươi tắn, những chữ tung hoành, dọc ngang trên lụa trắng "nói lên hoài bão của một đời con người". Khí tiết ông Huấn Cao, thiên lương viên quản ngục và thầy thơ lại, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, biến cái không gian ngột ngạt, nhơ nhớp của lịch sử bạo lực thành ngọn lửa rực sáng, thành hương thơm bốc tỏa từ chậu mực, lấn át cái âm u, lạnh buốt.

Cũng như vậy, truyện Ngôi mả cũ gợi lại, qua vài nét chấm phá, một trang lịch sử hào hùng và bi kịch lúc giao thời. Trong không khí buồn bã của cuộc sống thanh bạch, với ký ức "màn trời chiếu đất", cô Tú, cậu Chiêu, con gái và con trai cụ Ấm, người đã cùng binh mã Cờ Đen chống giặc, nhớ đến nét chữ rất tốt của cha, chữ "có gân có mác", những "nét sổ thẳng và khỏe". Trong cái cảnh cô đơn, cô Tú thức khuya dệt vải dưới vành trăng khuyết, trăng tròn, trăng lại khuyết trên đầu ngọn tre, trong cái cảnh cậu Chiêu mặc áo trắng, thấp thoáng dưới giàn bầu nậm xanh biếc, phảng phất xa xôi hình bóng cụ Hồ Viễn với một lá cờ đen to bằng cánh buồm thuyền lớn, xuất quân lẫm liệt, thắt lưng điều; ông già cưỡi ngựa, cầm cờ đen, đánh Tây, bắn súng. Bộ ba người - cụ Hồ Viễn bao bọc trong huyền sử, là cái vang cái bóng một thời oanh liệt; cô Tú; cậu Chiêu là giấc mơ tương lai, mong chờ tháng ngày "yên ổn xanh màu ngọc bích", bộ ba người ấy là những vang bóng một thời.

Cao Bá Quát, Cờ Đen; rồi Đề Thám trong truyện Một đám bt đắc chí ("Cai Xanh hay bàn với những người thân tín về việc ông Thám ngoài Yên Thế"). Vẫn cái chất thơ mênh mông của bóng dáng những người khởi nghĩa làm nền cho hành tung, hoạt động dữ dội của đám người hảo hán, những "tay giang hồ phóng khoáng", "những khách ngang tàng" chuyên "đánh những tiếng bạc lớn". Truyện của Nguyễn Tuân thường bao gồm những cảnh miêu tả hào hùng xen lẫn những giấc mơ vời vợi. Trong truyện này, giấc mơ: "Ở đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi" của đám người "nghèo, cực, khái", "lấy tiền bạc của bọn bất nghĩa chia cho anh em khác nghèo như mình", là một giấc mơ máu lửa. Bộ ba Lý Văn, Phó Kình, Cai Xanh là những chân dung quyết liệt của ngòi bút đầy chất thơ của Nguyễn Tuân. Một trong những phương thức nghệ thuật xây dựng nhân vật của ông là nghệ thuật bao bọc nhân vật bằng huyền thoại: hoặc gợi lên, bằng đôi nét chấm phá, hình bóng nhân vật qua màn sương mờ thời gian (cụ Hồ Viễn), hoặc đặt nhân vật trong một khoảnh khắc thời gian và không gian dữ dội (Cao Bá Quát cho chữ), hoặc như ở truyện Một đám bất đắc chí, nhân vật có một hào quang truyền thuyết, mỗi xuất hiện chốc lát với ngón võ "bút chì", "bút chùng", hay "lá chắn" siêu phàm, tạo cho truyện một âm thanh sống động. Những ấn tượng các nhân vật lịch sử ấy để lại cho người đọc mang nhiều chất thơ. Người đọc khó quên những huyền thoại bao quanh con dao thép, hộp thuốc lào khắc hổ phù của Cai Xanh, người đọc còn như nghe thấy từ thẳm sâu lịch sử tiếng "phập" của lưỡi mai của Phó Kình đánh ngã cây chuối "kêu đánh roạt", hoặc lưỡi mai của Lý Văn phóng ra "kêu đánh vụt". Đó là những âm thanh ghê rợn của lịch sử lúc giao thời.

Và Bãi Sậy, với hình ảnh của mười hai nghĩa sĩ bị hành hình. Một buổi chiều âm u, trong vườn chuối, chim kêu thưa thớt. Ở đây là tàn phá, là chém giết, là những thân cây chuối đổ, là phá phách, điêu tàn. Bát Lê, đao phủ, như một con quỷ, nhảy nhót, múa thanh quất giữa vườn chuối tan hoang. "Roạt, roạt, roạt" và "roạt, roạt", và "một buổi chiều thu quyết đã đổi màu", và "con đường máu" và "trời chiều dữ dội", và "mây quái rợ vẽ những bức tranh mây chó" đè sát mặt đất. Và, cuối cùng, một trận lốc xoáy rất mạnh lật tung cái mũ trắng trên đầu viên công sứ, quăng xuống đất. Những cảnh tả trong các truyện trên của Nguyễn Tuân là biểu tượng của những biến động đầy bạo lực rối ren, phi lý của một thời kỳ lịch sử đầy màu vàng hoen ố của cây hòe giữa mùa bão lụt, đầy gió thổi vào đống lửa vàng hóa bùng bùng, lửa kêu vù vù giữa "âm u và không quạnh". Trong hoang tàn ấy, vẳng lại những lời van xin hèn hạ của những kẻ nguyện làm "tôi tớ", "chó ngựa" cho chủ - đao phủ Bát Lê và đao phủ Tổng đốc kiêm Đổng lý quân vụ, và cũng vẳng lại những tiếng chiêng ai oán: "tùng bi li! bi li!".

Sử dụng nghệ thuật tả cảnh, màu sắc, âm thanh, cảnh tượng, sử dụng nghệ thuật xây dựng chân dung mờ ảo, Nguyễn Tuân tái hiện một thời kỳ lịch sử bi kịch, anh hùng, đầy chất thơ.

* * *

Bên cạnh cái mô típ "buổi chiều máu" ấy, là mô típ "sương mờ". Sương mờ bao phủ nhiều truyện trong tập Vang bóng một thời: Chén trà hương, Những chiếc ấm đất, Hương cuội, Thả thơ, Đánh thơ, Đèn đêm thu... Sương mờ bao phủ, những nhân vật thanh khiết, với biết bao luyến tiếc: cụ Ấm, quan Đốc, Bõ già, cụ Điều, cụ Phủ, cụ Kép, cụ Tú, ông Ấm Cả, ông Ấm Hai, cô Tú, cậu Chiêu, Mộng Liên, cậu bé Ngộ Lang, cô bé Tố Tâm..., những cái tên mang nghĩa đại diện cho một nền văn hóa xưa, nay còn đó. Sương mờ bao phủ những ngày cuối cùng của lớp nhà nho như bóng người hiền phảng phất. Sương mờ bao phủ một thế giới hoa lan: lan Tiểu Kiều, lan Đại Kiều, Nhất Điểm, Mặc Lan, Đông Lan, Loạn Điểm, Yên Từ, Bạch Ngọc... Hương thơm bao phủ những mảnh vườn, tỏa vào gió nhẹ. Hương trà thơm ngát hoa sen, hoa thủy tiên, - trà Bạch Mao Hâu, trà Trảm mã, Vũ Di Sơn, Lý Tú Uyên... tỏa khắp các trang sách Vang bóng một thời. Trong sương mờ, trong chút nắng đào, trong làn khói trà, ẩn hiện bóng hình cụ Ấm, lặng thinh, với phong thái một triết nhân. Chén trà sương triết lý về sự sống, luận đàm về trà đạo, lễ nghi dùng trà. Ấm trà ngon đậm hương thơ và triết lý. Phương thức nghệ thuật xây dựng ở đây là sự hòa hợp nhịp nhàng giữa bóng dáng nhân vật và màu sắc cỏ cây, một buổi sáng sương mờ, hay một buổi chiều tàn nắng: tóc bạc, lông màu bạc, áo trắng của cụ Kép mờ ảo trong đám cây cỏ xanh rờn (Hương cuội).

Nhà văn lựa chọn trong kho từ vựng hết sức phong phú của mình những từ rất đẹp để ngợi ca cuộc sống trong sạch của lớp người xưa: cuộc sống tao nhã, khoáng đạt, thanh đạm, lành mạnh; đời người phong lưu, lịch sự, c ch thành kính, tâm tưởng cao quý, trong trẻo, thuần khiết; tài và hạnh; trong sáng; đạm bạc v.v...

Điều đáng chú ý là trong các truyện mô típ "sương mờ" này, nhiều, rất nhiều, câu văn xuôi nhịp ba của Nguyễn Tuân có nhịp điệu của thơ, gợi mở những chân trời mờ ảo, có thể xếp thành những câu thơ trong suốt. Cảnh tả cái hỏa lò đun nước pha trà sáng sớm:

Hòn la rất ngon lành
trở nên một khi đ tươi
trong suốt như thỏi vàng thổi cháy.

Một chút nắng đào lóng lánh trong đám cây
một chiếc lại một chiếc
đang rụng lá năm cũ

Tài hoa và đức hạnh, đó là tâm hồn ước mơ của Nguyễn Tuân trong buổi giao thời ngu ngốc và phản bội ấy. Cái đẹp thanh cao của sự sống được biểu hiện bằng một thế giới thơ. Không phải những truyện thuộc mô típ này chỉ gồm toàn nhịp nhẹ. Nhiều khi nhà văn đệm vào văn chương thanh tú của mình những nhịp mạnh, để biểu đạt cái nhơ nhớp của "thời buổi tây tàu nhố nhăng"; những màu vàng tàn héo, những trận mưa xối xả, những cơn gió xoáy; và hình ảnh ông Cử Cả, tri huyện Thọ Xương, "tâm thuật hèn kém", kẻ đem lính kiểu kiêu binh thời vua Lê chúa Trịnh, ra thăm bố ở phố Hàng Gai, là một nốt nhạc lạc điệu giữa một bản nhạc êm ả. Những trí thức "vô sở bất chí" này, những kẻ tham dự quyền lực thấm máu của dân chúng này, là một mảng màu nhức nhối giữa một bức họa cây cỏ ngát hương của những trí thức chân chính, ngoài vòng cương tỏa, những trí thức trong sáng tuyệt vời. Thời đại nào cũng vậy. Trí thức là một vấn đề xã hội lớn, rất lớn, đặt ra cho loài người, từ xưa đến nay vẫn thế.

Hai truyện Trên đnh non TnKhoa thi cuối cùng thuộc mô típ "Liêu Trai", thần tiên và ma quái. Những ngày cuối của đời ông, Nguyễn Tuân dự kiến viết cho một Tạp chí văn học, một bài về tính hiện thực của Liêu Trai chí dị (xem báo Văn Nghệ số 32/1987, trang 14). Có thể tạm hiểu "tính hiện thực" ở đây, như sự sáng tạo cái hư ảo (hồn ma, biến hóa, Thiên Thai, thần tiên...) trên cái có thật. Liêu Trai mang tính dân gian. Truyện kiểu Liêu Trai của Nguyễn Tuân mang tính tự nhiên, dân dã, của Việt Nam: đền Thương trên núi Tản Viên, những khoa thi cuối cùng ở Trường nam. Cái thật và cái hư ảo xen lẫn nhau: những người thợ mộc, thợ ngõa và vương quốc Thần Non Tản; cái chàng, cái đục và mũi tên bạc, tên vàng; khoa thi Mậu Ngọ, sĩ tử bì bõm trong bùn và người đàn bà trẻ xõa tóc hiện lên, gào khóc rồi cười sằng sặc, hắt nghiên mực tàu lên quyển của ông đầu xứ Anh. Và bên dưới cái thực cái ảo đó, là những hiện thực lớn, những vấn đề xã hội: Giấc mơ hạnh phúc của con người hàng bao thế kỷ, không nguôi (Trên đnh non Tn) và một hành động thất đức của cụ Huấn để lại cho con một ân oán khủng khiếp và dai dẳng (Khoa thi cui cùng).

Mười hai truyện trong Vang bóng một thời biểu hiện tài năng nhiều mặt của Nguyễn Tuân. Làm sống lại "một thời" đầy bạo lực hắc ám của lịch sử - mà ông phủ nhận quyết liệt, ông sáng tạo những "vang bóng" diễn đạt một phương diện sức sống của cái đẹp lúc bấy giờ, - tâm hồn thanh cao của những trí thức trong sáng như "nước đọng trên lá sen thơm lành", tức là giấc mơ đẹp của chính nghệ sĩ Nguyễn Tuân.

Đ.Đ.H
(TCSH54/03&4-1993)


---------------------
(1) Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời, in lần thứ sáu, Văn học Hà Nội, 1988.

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Xô Viết là một bản anh hùng ca bất tử của dân tộc Nga trong thế kỷ XX (1941-1945). Nó mãi mãi đi vào lịch sử vẻ vang và oanh liệt, không chỉ của đất nước Xô Viết mà còn cả với nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới, khẳng định bản chất tốt đẹp và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con ngưòi Xô Viết.

  • LƯƠNG THỰC THULTS: Lương Thực Thu, sinh năm 1903 tại Bắc Kinh, thời nhỏ học ở trường Thanh Hoa. Năm 1923 du học tại Mỹ. Năm 1926 về nước, lần lượt dạy học ở trường Đại học Đông Nam, Đại học Thanh Đảo, Đại học Bắc Kinh, và Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Năm 1949 sang ở Đài Loan, chủ yếu giảng dạy ở Đại học Sư phạm Đài Loan. Năm 1966 nghỉ hưu, năm 1987 ốm chết tại Đài Bắc.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG   (Đọc “Lý luận và văn học”, NXB Trẻ 2005 của GS.TS Lê Ngọc Trà)Ra mắt bạn đọc năm 1990, năm 1991, cuốn sách “Lý luận và văn học” của Giáo sư - Tiến sĩ Lê Ngọc Trà được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. 15 năm qua, những tưởng một số vấn đề về lý luận văn học mà cuốn sách đề cập đã không còn mới, đã “lạc hậu” so với tiến trình phát triển của văn học. Nhưng không, khi đọc lại cuốn sách được nhà xuất bản Trẻ tái bản lần thứ nhất năm 2005, những vấn đề mà GS.TS Lê Ngọc Trà đề cập vẫn còn nóng hổi và giữ nguyên tính thời sự của nó.

  • TRẦN ĐÌNH SỬLí luận văn học Việt Nam thế kỉ XX đã trải qua ba lần thay đổi hệ hình tư duy. Lần thứ nhất diễn ra vào những năm 1932 đến 1945 với việc hình thành quan niệm văn học biểu hiện con người, xã hội, lấy thẩm mĩ làm nguyên tắc, chống lại quan niệm văn học thời trung đại lấy tải đạo, giáo huấn, học thuật làm chính tông, mở ra một thời đại mới trong văn học dân tộc.

  • HỒ THẾ HÀĐà Linh - Cây bút truyện ngắn quen thuộc của bạn đọc cả nước, đặc biệt, của Đà Nẵng với các tác phẩm Giấc mơ của dòng sông (1998), Nàng Kim Chi sáu ngón (1992),Truyện của Người (1992) và gần đây nhất là Vĩnh biệt cây Vông Đồng (1997). Bên cạnh ấy, Đà Linh còn viết biên khảo văn hoá, địa chí và biên dịch.

  • NGÔ MINHBữa nay, người làm thơ đông không nhớ hết. Cả nước ta mỗi năm có tới gần ngàn tập thơ được xuất bản. Mỗi ngày trên hàng trăm tờ báo Trung ương, địa phương đều có in thơ. Nhưng, tôi đọc thấy đa phần thơ ta cứ na ná giống nhau, vần vè dễ dãi, rậm lời mà thiếu ý.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ     Ba công trình dày dặn nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của cùng một tác giả, cùng được xuất bản trong năm 2005 kể cũng đáng gọi là "hiện tượng" trong ngành xuất bản. Ba công trình đó là "Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa" (NXB Văn hóa Thông tin, 315 trang), "Hồ Chí Minh - một nhân cách lớn" (NXB Văn hóa thông tin, 510 trang) và "Đạo Khổng trong văn Bác Hồ" (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).

  • PHAN CÔNG TUYÊNLTS: Cuộc thi tìm hiểu “60 năm Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Ban Tư tưởng - Văn hoá trung ương, website Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát động trong cả nước. Tại Thừa Thiên Huế, cuộc thi được phát động từ ngày 7/5/2005 đến ngày 10/7/2005; Ban tổ chức cuộc thi đã nhận được 160.840 bài dự thi của rất nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều thành phần trong xã hội tham gia. Điều này chứng tỏ cuộc thi mang nhiều sức hấp dẫn. Sông Hương xin trích đăng báo cáo tổng kết cuộc thi của đồng chí Phan Công Tuyên, UVTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Trưởng Ban tổ chức cuộc thi tại Thừa Thiên Huế.

  • TRẦN THỊ THANHTừ Hán Việt là một lớp từ khá quan trọng trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Việt Nam. Với con số 60% - 70% từ Hán Việt có trong tiếng Việt, nó đã và đang đặt ra một nhiệm vụ cấp thiết làm thế nào để cho mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên viết và nói đúng tiếng Việt trong đó có từ Hán Việt.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN LTS: Bài dưới đây là tham luận của nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đọc trong Hội nghị Lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương, tháng 12-2008. Tác giả có những nhận định khá mới mẻ, những đề xuất khá hợp lý và khá mạnh dạn, tất nhiên bài viết sẽ không tránh phần chủ quan trong góc nhìn và quan điểm riêng của tác giả. Chúng tôi đăng tải gần như nguyên văn và rất mong nhận được những ý kiến phản hồi, trao đổi, thạm chí tranh luận của bạn đọc để rộng đường dư luận.S.H

  • MAI HOÀNGCẩm cù không nổi tiếng bằng một số truyện ngắn khác của Y Ban như Thư gửi mẹ Âu cơ, I am đàn bà, Đàn bà xấu thì không có quà… Không có những vấn đề hot như sex, nạo phá thai, ngoại tình… tóm lại là những sự vụ liên quan đến “chị em nhà Eva”.

  • INRASARATham luận tại Hội thảo “Nhà văn với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, Hội Nhà văn Việt Nam, Đồng Nai, 8-1-2009.

  • HOÀNG NGỌC HIẾNWallace Stevens ví hành trình của những nghệ sĩ Tiên phong (hoặc Tiền vệ) của chủ nghĩa hiện đại những thập kỷ đầu thế kỷ XX như những cuộc phiêu lưu của những nhà thám hiểm núi lửa, họ đã đến núi lửa, “đã gửi về tấm bưu ảnh cuối cùng” và lúc này không có ước vọng gì hơn là trở về nhà.

  • TRẦN HOÀI ANH1. Nhà thơ - Người đọc: Niềm khắc khoải tri âmKhi nói về mối quan hệ giữa nhà thơ và độc giả, Edward Hirsch đã viết: “Nhiều nhà thơ đã nắm lấy ý Kinh Thánh Tân Ước “Khởi thuỷ là lời”, nhưng tôi thích ý kiến của Martin Buber trong “Tôi và bạn” hơn rằng: “Khởi thuỷ là những mối quan hệ” (1).

  • VIỆT HÙNGCông tác lý luận phê bình văn học nghệ thuật đang là mối quan tâm lo lắng của giới chuyên môn, cũng như của đại đa số công chúng, những người yêu văn học nghệ thuật. Tình trạng phê bình chưa theo kịp sáng tạo, chưa gây được kích thích cho sáng tạo vẫn còn là phổ biến; thậm chí nhiều khi hoặc làm nhụt ý chí của người sáng tạo, hoặc đề cao thái quá những tác phẩm nghệ thuật rất ư bình thường, gây sự hiểu nhầm cho công chúng.

  • HẢI TRUNGVũ Duy Thanh (1811 - 1863) quê ở xã Kim Bồng, huyện An Khánh, tỉnh Ninh Bình là bảng nhãn đỗ đầu trong khoa thi Chế khoa Bác học Hoành tài năm Tự Đức thứ tư (1851). Người đương thời thường gọi ông là Bảng Bồng, hay là Trạng Bồng.

  • NGUYỄN SƠNTrên tuần báo Người Hà Nội số 35, ra ngày 01-9-2001, bạn viết Lê Quý Kỳ tỏ ý khiêm nhường khi lạm bàn một vấn đề lý luận cực khó Thử bàn về cái tôi trong văn học. Anh mới chỉ "thử bàn" thôi chứ chưa bàn thật, thảo nào!... Sau khi suy đi tính lại, anh chỉnh lý tí tẹo tiêu đề bài báo thành Bàn về "cái tôi"trong văn học và thêm phần "lạc khoản": Vinh 12-2001, rồi chuyển in trên Tạp chí Văn (Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh), số 4 (Bộ mới, tháng 3-4)-2002. Trong bài trao đổi này chúng tôi trích dẫn căn cứ theo nguyên văn bài báo đã in lần đầu (và về cơ bản không khác với khi đưa in lại).

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNGCùng với sự phát triển của một thế kỉ văn học dân tộc, lí luận văn học ở Việt Nam cũng đã có những thành tựu, khẳng định sự trưởng thành của tư duy lí luận văn học hiện đại.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNTrong vài ba thập niên đầu thế kỷ XX, trung xu thế tìm đường hiện đại hóa văn xuôi chữ quốc ngữ, các thể tài tiểu thuyết, phóng sự được một số nhà văn dụng bút thể nghiệm.

  • L.T.S: Trong ba ngày từ 03 đến 05 tháng 5 năm 2005, tại thành phố Huế đã diễn ra hoạt động khoa học quốc tế có ý nghĩa: Hội thảo khoa học Tác phẩm của F. Jullien với độc giả Việt Nam do Đại học Huế và Đại học Chales- de-Gaulle, Lille 3 tổ chức, cùng sự phối hợp của Đại sứ quán Pháp ở Việt Nam và Agence Universitaire  francophone (AUF). Hội thảo có 30 tham luận của nhiều giáo sư, học giả, nhà nghiên cứu Việt Nam, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc.