NGUYỄN THỊ ÁI THOA
Thơ viết cho thiếu nhi của nhà thơ Trần Đăng Khoa có một vị trí khá đặc biệt trong việc làm nên thành tựu của văn học thiếu nhi thế kỷ XX.
Ảnh: internet
Từ "Góc sân và khoảng trời" của riêng mình, Trần Đăng Khoa đã quan sát và phác họa nên bức tranh toàn cảnh về thiên nhiên nông thôn và con người nông thôn Việt Nam trong chiến tranh. Tuy nhiên, điều làm nên thành công cho thơ anh không chỉ từ đề tài phản ánh mà còn từ các giá trị nghệ thuật. Hiện thực đời sống được chắt lọc và cảm nhận qua đôi mắt xanh non của một tâm hồn thơ trẻ, qua cái nhìn tinh tế, nhạy cảm của một thi nhân và đặc biệt là sự vận dụng sáng tạo những thủ pháp nghệ thuật của văn học dân gian khiến cho thơ Trần Đăng Khoa có sức hút vô cùng mạnh mẽ trong lòng độc giả.
Trước hết, thơ Trần Đăng Khoa mang đậm phong vị đồng dao trong việc xây dựng những hình ảnh nghệ thuật. Bằng tài quan sát của cậu bé lớn lên từ đồng ruộng, Trần Đăng Khoa đã tái hiện một nông thôn rất Việt Nam thông qua những hình ảnh dung dị, gần gũi và thân thuộc. Từ những hình ảnh thiên nhiên trữ tình như khu vườn, lũy tre, dòng sông, cánh đồng…, đến những sự vật mộc mạc, chân chất như chổi, nồi đồng, cái cối xay lúa, chiếc máy bơm…, đều được tác giả đưa vào thơ. Tất cả đều tự nhiên, tươi mới, cuốn hút mà không hề gượng ép. Để làm được điều này, ngoài trí thông minh và tài năng thiên bẩm, nhà thơ ít nhiều hấp thụ của đồng dao. Ở đây, nghệ thuật liệt kê được sử dụng nhằm kể vật, kể việc (có hay không có cốt truyện). Dạng bài thơ có cốt truyện, có đầu có cuối như Đánh tam cúc, Mẹ ốm, Nói với con gà mái có lời kể chậm rãi, dàn trải, thiết tha, chú trọng sự phát triển chuỗi hành động… Dạng kể một hiện tượng hay miêu tả sự vật, sự việc gắn với một đặc điểm tiêu biểu mà không có cốt truyện, theo nhà nghiên cứu Triều Nguyên, cứ “hai dòng thơ thể hiện một đơn vị nghĩa” (6, tr.17). Và cứ thế, trong một bài thơ, Khoa có thể kể, tả, đề cập đến nhiều loài vật, sự vật khác nhau (Ò…ó…o, Buổi sáng nhà em, Kể cho bé nghe, Mưa…):
Hay nói ầm ĩ
Là con vịt bầu
Hay hỏi đâu đâu
Là con chó vện
Hay chăng dây điện
Là con nhện con
Ăn no quay tròn
Là cối xay lúa
(Kể cho bé nghe)
- Sắp mưa
Sắp mưa
Những con mối bay ra
Mối trẻ bay cao
Mối già bay thấp
Gà con rối rít tìm nơi ẩn nấp
(Mưa)
Bên cạnh nghệ thuật liệt kê, nhân cách hóa cũng là một thủ pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến trong đồng dao. Trần Đăng Khoa đặc biệt sử dụng thành công thủ pháp nghệ thuật này khi xây dựng hình ảnh nghệ thuật. Ta dễ dàng bắt gặp ở thơ Trần Đăng Khoa hình ảnh một cậu bé có thể lắng nghe, cảm nhận tâm hồn của cỏ cây, hoa lá, vạn vật xung quanh. Bởi, cậu bé ấy biết trân trọng và yêu quý tự nhiên, muốn giao hòa cùng tạo vật đất trời, muốn xem thế giới tự nhiên là bạn bè thân thiết. Bằng biện pháp nhân hóa, nhà thơ đã thổi hồn vào sự vật, hiện tượng, khiến chúng có tính cách, suy nghĩ, nói năng, hoạt động như con người. Lá trầu biết mở mắt, đàn chuối biết vỗ tay cười, tre biết chải tóc, mây chẳng khác nào cô thôn nữ đang ngắm dáng mình qua mặt nước trong ao:
- Chị tre chải tóc bên ao
Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương
(Buổi sáng nhà em)
Lá trầu được miêu tả như em bé đang say ngủ:
- Trầu ơi hãy tỉnh lại
Mở mắt xanh ra nào
Lá nào muốn cho tao
Thì mày chìa ra nhé
(Đánh thức trầu)
Sấm lại được xem như một ông khách lớn tuổi, vui tính:
- Sấm ghé xuống sân
Khanh khách cười
(Mưa)
Hàng bưởi như người mẹ hiền đang ra sức bảo vệ đàn con trước cơn thịnh nộ của đất trời:
Hàng bưởi đu đưa
Bế lũ con
Đầu tròn trọc lóc
(Mưa)
Cây dừa vừa như người lính kiên định, vừa có phong thái ung dung, tự tại của người nghệ sĩ:
Đứng canh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi
(Cây dừa)
Thơ Trần Đăng Khoa đặc biệt ấn tượng với người đọc thông qua việc tiếp nhận có sáng tạo những hình tượng nghệ thuật từ dân gian. Ánh trăng, hạt gạo, con trâu… vốn là những hình ảnh quen thuộc gắn liền với cuộc sống sinh hoạt, vui chơi của trẻ thơ và được nhắc đến nhiều trong những sáng tác dân gian. Khi bước vào thơ anh, chúng được nâng tầm lên thành những hình tượng nghệ thuật độc đáo và đầy sáng tạo. Trong Trăng sáng sân nhà em, ánh trăng hiện lên vô cùng quyến rũ. Ánh trăng chan hòa khắp nơi. Trời càng khuya, trăng càng sáng. Vẻ đẹp ấy lan tỏa cả không gian “soi rõ sân nhà em”, chiếm lĩnh cả thời gian, càng về khuya càng sáng “trăng khuya sáng hơn đèn”:
Ông trăng tròn sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em
Trăng khuya sáng hơn đèn
Ơi ông trăng sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em
Ở đây, qua cách gọi “ông trăng” và tín hiệu “trăng - đèn”, người đọc không khó để nhận ra ánh trăng quen thuộc trong bài đồng dao trẻ con hay hát:
- Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?
- Ông trăng xuống nhà tôi chơi
Có nồi cơm nếp, có đệp bánh chưng…
- Ông giẳng ông giăng
Ông giằng búi tóc
Ông khóc ông cười…
Nhưng nếu trong đồng dao, trăng và đèn không ai chịu nhường ai thì trong thơ Trần Đăng Khoa, trăng hiện hữu với một tâm thế khác “Trăng khuya sáng hơn đèn”. Trước sự thức dậy của ánh trăng, cảnh vật như mờ đi, chìm đi. Hơn thế nữa, mọi vật đều lặng im, sững sờ đến bất động khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp huyền diệu của trăng. Dường như, trăng không chỉ đẹp vì có chú Cuội, có chị Hằng mà còn đẹp vì trăng đã chạm vào miền sâu thẳm của những ẩn ức tuổi thơ, gọi mời bao cảm xúc:
Hàng cây cau lặng đứng
Hàng cây chuối đứng im
Con chim quên không kêu
Con sâu quên không kêu
Chỉ có trăng sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em
Cùng với trăng, hình tượng con trâu, hạt gạo trong thơ Trần Đăng Khoa vừa tiếp nhận từ văn học dân gian, vừa sáng bừng một sức sống mới. Các sáng tác dân gian nhắc nhiều đến trâu, người bạn thân thiết của người nông dân, bằng cái nhìn đồng cảm và chia sẻ:
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cái cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
- Nghé ơi ta bảo nghé này
Nghé ăn cho béo, nghé cày cho sâu
Ở đời khôn khéo chi đâu
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.
Trong thơ Trần Đăng Khoa, hiện lên hình ảnh con trâu được đặc tả về ngoại hình: “Cái sừng nó vênh vênh/ Nó cao lớn lênh khênh/ Chân đi như đập đất”, vẫn gắn bó với ruộng đồng có “bờ mương xanh mướt cỏ”, uống “nước mương trong”, ăn cỏ gà, cỏ mật. Điều thú vị là việc cày ruộng của chú trâu trở nên nhẹ nhàng hơn nhờ có sự hỗ trợ từ những chiếc máy bơm, những chiếc máy cày - tín hiệu của đời sống cơ khí hóa. Vì thế, con trâu đã trút bỏ được sự nhọc nhằn, nặng nề thường gặp trong văn học dân gian và trở nên lạc quan, hóm hỉnh, tươi vui như chính thế giới trẻ thơ đầy sôi động:
Trâu chỉ còn vui chơi
Hếch cái mũi trâu cười
Nhe cả hàm răng sún
(Con trâu lông mượt)
Tuy nhiên, dấu ấn đậm nét của thơ Trần Đăng Khoa phải kể đến sự khắc họa thành công hình tượng hạt gạo - người nông dân. Đây không phải là lần đầu tiên hạt gạo được khai thác những giá trị cao quý của nó. Ca dao, đồng dao đã nói nhiều, nói rất hay về hạt gạo/ bát cơm:
- Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
- Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Cho đầy bát cơm…
Với tư cách là chủ nhân làm ra hạt gạo, hơn ai hết, người nông dân thấm thía những cơ cực mà mình đã trải qua. Họ tìm đến các sáng tác dân gian không ngoài ước muốn được giãi bày, thấu hiểu. Ở nền nông nghiệp lúa nước phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên như ở nước ta, có thể nói mối quan hệ thời tiết - người nông dân - hạt gạo là mối quan hệ không thể tách rời. Đời sống áo cơm của họ là sự nối dài của bao âu lo, khắc khoải:
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng.
Kế thừa những thành quả từ quá khứ, thơ Trần Đăng Khoa là sự tái hiện có sáng tạo hình tượng hạt gạo và người nông dân. Hạt gạo có từ ngàn xưa, là hình ảnh cụ thể, gần gũi, thân thuộc trong đời sống hằng ngày của tác giả, của mọi người, là kết tinh của những giá trị văn hóa truyền thống (có vị phù sa, có hương sen thơm, có lời mẹ hát…). Hạt gạo được làm nên từ nỗi nhọc nhằn, vất vả, lam lũ của người nông dân. Trong đời sống hằng ngày của người Việt Nam, gạo vốn là nguồn lương thực thiết yếu. Trong chiến tranh, gạo càng trở nên cần thiết. Để làm nên hạt gạo, người nông dân phải chiến đấu với thiên nhiên khắc nghiệt (bão tháng Bảy, mưa tháng Ba…). Đặc sắc hơn cả là hình ảnh chịu thương chịu khó và đầy hy sinh của người mẹ:
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy
(Hạt gạo làng ta)
Không chỉ đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt, người nông dân trong chiến tranh còn đối mặt với bom đạn khốc liệt của kẻ thù. Hạt gạo đã được làm ra trên vùng đất vốn bị bom đạn tàn phá và giày xéo (bom Mỹ trút lên mái nhà…). Nhưng dẫu có tàn bạo đến đâu, kẻ thù vẫn không hủy diệt được sự dũng cảm, kiên cường, chịu khó của người nông dân, không giết chết được khát vọng vươn lên và chiến thắng của toàn dân tộc Việt Nam (bát cơm mùa gặt, thơm hào giao thông).
Đến với Hạt gạo làng ta, người đọc bắt gặp một thế giới rất quen mà cũng rất lạ. Quen, vì hạt gạo trong thơ anh là hình ảnh hiện hữu trong đời sống thực, trong các sáng tác dân gian, lạ vì nó được nâng tầm thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo, giàu ý nghĩa biểu tượng và mang tính thời đại. Mối quan hệ thời tiết - người nông dân - hạt gạo - thời đại được nhà thơ khai thác tinh tế và hiệu quả.
Ngoài ra, hình tượng người bố, ông trời… cũng được khắc họa khá thú vị. Con người vốn hữu hạn và bé nhỏ trước tự nhiên, thế mà, chỉ qua những câu thơ ngắn ngủi cũng đủ để xây dựng nên chân dung và tâm thế của một người bố - người nông dân: dũng cảm, kiêu hùng, kiên định và bản lĩnh trước sự cuồng nộ từ tự nhiên. Tất cả xuất phát từ sức nén và sức gợi của điệp từ “đội”:
Bố em đi cày về
Đội sấm
Đội chớp
Đội cả trời mưa
(Mưa)
Điệp từ “đội” khiến người đọc dễ dàng liên tưởng đến kỳ tích đội trời của vị thần trụ trời bước ra từ thế giới thần thoại xa xôi của dân tộc.
Hay cảnh ông trời kéo mây đen vần vũ lại được hình tượng hóa thành cảnh ra trận hùng tráng và đầy uy lực của Thánh Gióng trong thần thoại Thánh Gióng:
Ông trời
Mặc áo giáp đen Ra trận
(Mưa)
Bên cạnh đó, thơ Trần Đăng Khoa cũng cho thấy sự hiện diện ấn tượng của những câu đố dân gian. Trong giáo trình Văn học trẻ em, tác giả Lã Thị Bắc Lý cho rằng, từ một câu đố dân gian về quả dừa: “Chân không tới đất/ Cật không tới trời/ Lơ lửng nửa vời/ Mà đeo bụng nước” đã giúp Trần Đăng Khoa viết rất hay về cây dừa:
Ai mang nước ngọt, nước lành
Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa
(Cây dừa)
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi còn phát hiện, ngoài hình ảnh cây dừa thì hình ảnh của những cây bưởi, quả na… trong thơ Trần Đăng Khoa có nhiều điểm tương đồng với cách miêu tả trong các câu đố vật, đố việc của dân gian. Cụ thể, đề cập đến cây bưởi, dân gian có câu đố: “Mẹ đầu trọc, con trọc đầu” thì trong thơ Trần Đăng Khoa, vẫn cây bưởi với dáng hình “trọc đầu” ấy nhưng mang sắc thái tinh nghịch, dí dỏm và có hồn hơn rất nhiều:
Hàng bưởi
Đu đưa
Bế lũ con
Đầu tròn
Trọc lóc
(Mưa)
Quả na trong câu đố cũng biết mở mắt, nhưng đó là đôi mắt của người già:
Trẻ thì không mở mắt
Đến khi về già mới mở mắt trông
Xuất hiện hơn một lần, quả na trong thơ Trần Đăng Khoa luôn được bắt gặp trong trạng thái choàng tỉnh sau giấc ngủ say, đôi mắt tròn xoe như con trẻ:
Giục quả na
Mở mắt
Tròn xoe
(Ò…ó…o)
Cái na đã tỉnh giấc rồi
Đàn chuối đứng vỗ tay cười vui sao
(Buổi sáng nhà em)
Ở đây, cái hay, cái độc đáo trong thơ Trần Đăng Khoa bắt nguồn từ khả năng liên tưởng của nhà thơ. Và khởi nguồn cho những trường liên tưởng ấy chính là hệ thống hình ảnh nghệ thuật trong văn học dân gian. Từ ánh trăng, hạt gạo, con trâu… trong đồng dao, ca dao, từ thần trụ trời, Thánh Gióng trong thần thoại cho đến những cây dừa, cây bưởi, quả na… trong câu đố dân gian như được khoác thêm áo mới, sống động, cuốn hút nhưng cũng thật ý nhị, duyên dáng vô cùng. Qua đó cho thấy, sự tiếp nhận các chất liệu của văn học dân gian trong thơ Trần Đăng Khoa không chỉ là sự tái tạo đơn thuần, gợi lại hồi ức mà còn là quá trình sáng tạo, làm nên những kết hợp mới mẻ, bất ngờ.
Ngoài ra, xét về mặt thể thơ và kết cấu, thơ Trần Đăng Khoa cũng có tiếp nhận không nhỏ từ các sáng tác dân gian. Qua khảo sát, chỉ riêng trong tập thơ Góc sân và khoảng trời, chúng tôi phát hiện trong số 78 bài thơ của tập thơ thì có đến 33 bài viết theo thể lục bát, còn lại là thơ tự do, phổ biến nhất là thơ năm chữ (20 bài), thơ bốn chữ (8 bài). Thơ lục bát thì hầu hết là lục bát chính thể, tuân thủ nguyên tắc gieo vần truyền thống (Mẹ ốm, Đám ma bác giun, Cây dừa…). Thơ bốn chữ, năm chữ thì có cách gieo vần và ngắt nhịp giống đồng dao (2/2 hoặc 2/3), vần liền từng cặp là vần chân, bằng trắc luân phiên nhau (Kể cho bé nghe, Hạt gạo làng ta, Mặt bão, Đánh thức trầu…). Giọng điệu trong Góc sân và khoảng trời khá đa dạng, biến hóa linh hoạt. Thơ lục bát có nhạc điệu mượt mà, thiết tha, sâu lắng. Thể thơ 5 chữ khi thì diễn tả cảm xúc cô đọng, sâu lắng, khi khác lại thể hiện tâm trạng vui tươi như Nửa đêm thức giấc, Sao không về Vàng ơi, Trăng ơi từ đâu đến. Riêng thể thơ 4 chữ thì dùng để lể kể nhịp nhàng, thơ 2, 3 chữ phù hợp với những diễn biến dồn dập của sự vật, hiện tượng (Ò…ó…o, Mưa). Xét về kết cấu, tập thơ sử dụng kết cấu trùng điệp, một dạng kết cấu thường thấy ở đồng dao. Chẳng hạn như những bài đồng dao quen thuộc:
- Ăn một bát cơm
Nhớ người cày ruộng
Ăn đĩa rau muống
Nhớ người đào ao
- Gánh gánh gồng gồng
Gánh sông gánh núi
Gánh củi gánh cành
Ta chạy cho nhanh
Về xây nhà bếp…
Trong thơ Trần Đăng Khoa, Con bướm vàng, Hạt gạo làng ta, Khi mẹ vắng nhà, Trăng ơi từ đâu đến?, Thả diều,… là hàng loạt những bài thơ sử dụng hiệu quả và linh hoạt kết cấu này.
Nhìn chung, thơ Trần Đăng Khoa chịu ảnh hưởng của văn học dân gian khá rõ nét. Có thể khẳng định, gia đình là cái nôi văn hóa đầu tiên đã nuôi dưỡng tâm hồn nhà thơ, ươm mầm cho tài năng và sáng tạo. Ở đó, nhà thơ sớm được tắm mình trong không khí thơ ca. Trần Đăng Khoa từng tâm sự, chính mẹ là người có vai trò rất lớn trong việc bồi đắp tri thức dân gian cho tâm hồn anh. Mẹ anh vốn thuộc rất nhiều truyện Nôm khuyết danh, vô số thành ngữ, tục ngữ và ca dao đến mức mỗi khi có việc gì đó bà lại dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao để nói. Anh chịu ảnh hưởng và hấp thụ từ mẹ rất nhiều. Thứ đến, bức tranh làng quê trở thành nguồn thi liệu dồi dào cho thơ anh. Những ngọn mùng tơi, cây dừa, đàn chuối, luống khoai, ánh trăng, dòng sông... được thâu tóm trong tầm mắt nhà thơ với một tình yêu tha thiết như máu thịt, sự sống của chính mình. Và tất cả điều đó kết hợp với cái nhìn tinh tế, nhạy cảm, sáng tạo của một thi nhân, Trần Đăng Khoa đã mang đến cho thi ca Việt Nam những bài thơ đậm chất mục đồng. Nói như tác giả Lã Thị Bắc Lý thì: “Thơ anh đến với tuổi thơ trước tiên bằng những cảm xúc chân thành, nhân ái. Thơ anh còn khơi dậy những rung động trong tâm hồn người lớn, làm cho họ được trở về với tuổi thơ, tìm gặp lại mình trong cái trong trẻo, cái tinh nguyên của những xúc cảm đối với thiên nhiên, với nghệ thuật” (4, tr.172). Chính âm hưởng dân gian đã góp phần tạo nên sức sống rất riêng, giọng điệu rất riêng trong thơ Trần Đăng Khoa, khiến cho Trần Đăng Khoa trở thành hiện tượng thơ đặc biệt nhất, thành công nhất của văn học thiếu nhi Việt Nam.
N.T.A.T
(TCSH406/12-2022)
____________________
Tài liệu tham khảo:
1. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
2. Trần Đăng Khoa (1996), Góc sân và khoảng trời, Nxb. Kim Đồng, Hà Nội.
3. Trần Đăng Khoa (2016), Tuyển thơ Trần Đăng Khoa, Nxb. Văn học, Hà Nội.
4. Lã Thị Bắc Lý (2005), Giáo trình Văn học trẻ em, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội.
5. Nguyễn Đăng Mạnh (1995), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
6. Triều Nguyên, Sự vận dụng đồng dao vào việc làm thơ, Tạp chí Sông Hương, 6/2008.
7. Nhiều tác giả (2012), Đồng dao cho bé, Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội.
Tải mã QRCode
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP...Nguyễn Huy Thiệp không phải là người duy nhất đổi mới phương thức trần thuật. Trước ông đã có Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng... tích cực mở đường. Nhưng phải đến Nguyễn Huy Thiệp thì sự khai phóng về tư tưởng nghệ thuật mới được thể hiện một cách đậm nét. Tất cả được Nguyễn Huy Thiệp kiến tạo qua một trò chơi đầy tính bất ngờ. Giống như người nghệ sĩ ba lê tài năng, Nguyễn Huy Thiệp trình diễn một thế giới đa sắc trên đầu những đầu mũi ngón chân. Những ngón chân ấy bám trụ vào hiện thực một cách tinh diệu, xoay chuyển một cách nhịp nhàng với những vòng quay, những vũ điệu ngôn từ...
PHAN NGỌC THUTrong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, Xuân Diệu (1916-1985) là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất, đồng thời cũng là nhà phê bình văn học kiệt xuất. Từ những bài tranh luận văn học sôi nổi thời Thơ Mới (1932-1945) đến Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958); từ Phê bình giới thiệu thơ (1960) đến Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập I (1981), tập II (1982) và Công việc làm thơ (1984)... "chỉ tính riêng các tác phẩm lý luận phê bình, đã có thể gọi Xuân Diệu là một đại gia"(1)
BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v..v...
HÀ KHÁNH CHINgày 20 - 3 - 2003, siêu cường lớn nhất mọi thời đại là đế quốc Hoa Kỳ đã mở đầu cuộc chiến tranh kỳ quái nhất trong lịch sử bằng cách tấn công Iraq sau khi đã bắt quốc gia này phải tự phá huỷ vũ khí tự vệ của chính họ. Đó là bài học chưa hề thấy về chút hy vọng cuối cùng mà lương tri nhân loại có thể đòi hỏi. Để có thể hiểu rõ hơn những gì đang xảy ra hôm nay - có lẽ cũng rất cần ôn lại một trong những vấn đề lớn nhất mà loài người có thể nghĩ tới: cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây gần 30 năm.
HOÀNG ĐĂNG KHOA Văn học Việt từ sau 1975, nhất là từ thời kỳ đổi mới, là một quá trình văn học rất phong phú, đa dạng và không ít phức tạp, lại còn đang tiếp diễn. Cuốn sách Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy ra đời đáp ứng nhu cầu mang tính thời sự: nhu cầu nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về tiến trình văn học ba mươi năm qua, chuẩn bị cho sự ra đời của những công trình văn học sử và những chuyên khảo về giai đoạn văn học này.
NGUYỄN QUANG HÀTrong đời có những bài thơ người ta quên, mà chỉ nhớ một câu nằm lòng. Bởi đó là những câu thơ thực sự, những câu thơ thi sĩ. Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về thơ: Thơ là tiếng hát của trái tim; Thơ là hạt muối kết tinh của tình cảm; Thơ là phút giây rung động của tâm hồn... Nói chung, những định nghĩa ấy cho ta hiểu rằng ở đâu có được sự rung động của trái tim thì ở đó có thơ.
ĐỖ LAI THUÝPhê bình văn học Việt Nam, sau sự khởi nguồn của Thiếu Sơn với Phê bình và Cảo luận (1933) chia thành hai ngả. Một xuất phát từ Phê bình để trở thành lối phê bình chủ quan ấn tượng với Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (1942). Lối kia bắt nguồn từ Cảo luận tạo nên phê bình khách quan khoa học với Vũ Ngọc Phan của Nhà văn hiện đại (1942), Trần Thanh Mai của Hàn Mặc Tử (1941), Trương Tửu của Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1945). Sự phân chia này, dĩ nhiên, không phải là hành chính, mà là khoa học, tức sự phân giới dựa trên những yếu tố chủ đạo, nên không phải là không thể vượt biên. Bởi, mọi biên giới đều mơ hồ hơn ta tưởng, nhất là ở khoa học văn chương.
LTS: Marcel Reich-Ranicki, sinh năm 1920, người ở Đức được mệnh danh là "Giáo hoàng văn học", là nhà phê bình văn học đương đại quan trọng nhất của CHLB Đức. "Một lời biện hộ cho thơ" là bài thuyết trình đọc vào ngày 30.11.1980 nhân dịp ra mắt Tập 5 của "Tuyển thơ Frankfurt" trong khuôn khổ chuyên mục thơ của nhật báo "Frankfurter Allgemeine Zeitung" (FAZ) mà tác giả là chủ biên phần văn học từ 1973 đến 1988.Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài "Một lời biện hộ cho thơ" của ông sau đây do dịch giả Trương Hồng Quang thực hiện.
TRẦN HUYỀN SÂMGeorge Sand (1804-1876) là một gương mặt độc đáo trên văn đàn Pháp thế kỷ XIX. Cùng thời với những cây bút nổi tiếng như: A.Lamartine, V.Hugo, A.Vigny, A.Musset... nữ sĩ vẫn tạo cho mình một tầm vóc riêng không chìm khuất. George Sand bước vào thế giới nghệ thuật bằng một thái độ tự tin và một khát vọng sáng tạo mãnh liệt. Với hơn hai mươi cuốn tiểu thuyết đồ sộ, G.Sand đã trở thành một tên tuổi lừng danh ngay từ đương thời. Dĩ nhiên, bà lừng danh còn bởi nhiều mối tình bất tử, trong đó có nhà thơ Pháp nổi tiếng A.Musset và nhạc sĩ thiên tài Chopin người Ba Lan.
PHẠM QUANG TRUNGCó lần, dăm ba người có thiên hướng lý luận chúng tôi gặp nhau, một câu hỏi có thể nói là quan thiết được nêu ra: trong quan niệm văn chương, e ngại nhất là thiên hướng nào? Rất mừng là ý kiến khá thống nhất, tuy phải trải qua tranh biện, không đến nỗi quyết liệt, cũng không phải hoàn toàn xuôi chiều hẳn. Có lẽ thế mới hay!
NGUYỄN HỮU HỒNG MINH1- "Thơ trẻ- Những giá trị mới" là một "mưu mô" của nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn và nhóm "Văn nghệ mới" (bao gồm Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Vĩnh Tiến, Dạ Thảo Phương... và một số người khác) dự tính tập hợp, tuyển chọn 1 tuyển thơ của 10 (hay nhiều hơn) tác giả trẻ từ 30 tuổi trở xuống, xuất hiện trong vòng 3 năm cuối cùng của thế kỉ để trình làng giới thiệu chân dung thế hệ mình.
NGUYỄN HOÀN Trịnh Công Sơn là một hiện tượng độc đáo của âm nhạc và văn hoá Việt Nam được ái mộ không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Vì thế mà từ khi ông qua đời đến nay đã có trên chục đầu sách viết về ông, một số lượng hiếm thấy đối với các nhạc sĩ khác. Gần đây có cuốn “Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng” của Ban Mai do Nhà xuất bản Lao Động, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2008. Với niềm ngưỡng mộ tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi đã hăm hở tìm đọc cuốn sách mới này nhưng tiếc thay, chưa kịp trọn nỗi mừng đã phải thất vọng về những trang viết đánh giá đầy sai lệch và thiếu sót, phiến diện về Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam.
HOÀNG QUỐC HẢIThơ Lý - Trần có mạch nguồn từ Đinh - Lê, nếu không muốn nói trước nữa. Rất tiếc, nguồn tư liệu còn lại cho chúng ta khảo cứu quá nghèo nàn.Nghèo nàn, nhưng cũng đủ tạm cho ta soi chiếu lại tư tưởng của tổ tiên ta từ cả ngàn năm trước.
NGUYỄN VĂN THUẤN (Nhóm nghiên cứu - lý luận phê bình trẻ)Thời gian gần đây, tại Việt , các tác phẩm của nhà văn Nhật Bản H.Murakami thường xuyên được dịch và xuất bản. Là một giọng nói hấp dẫn trên văn đàn thế giới, sáng tác của ông thu hút đông đảo công chúng và dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình. Một trong những tiểu thuyết làm nên danh tiếng của ông là Rừng Nauy.
PHAN TÂMQuê hương Phan Đăng Lưu, xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, cách Kim Liên, Nam Đàn, quê hương Hồ Chí Minh khoảng 60 km.Hai nhân cách lớn của đất Nghệ An. Không hẹn mà gặp, xuất phát từ lương tri dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đến chủ nghĩa Mac - Lê nin, thành hai chiến sĩ cộng sản Việt Nam nổi tiếng.
THÁI DOÃN HIỂUNhà thơ Võ Văn Trực thuộc loại tài thì vừa phải nhưng tình thì rất lớn. Chính cái chân tình đó đã giúp anh bù đắp được vào năng lực còn hạn chế và mong manh của mình, vươn lên đạt được những thành tựu mới đóng góp cho kho tàng thi ca hiện đại của dân tộc 4 bài thơ xuất sắc: “Chị, Vĩnh viễn từ nay, Thu về một nửa và Nghĩa địa làng, người ta sẽ còn đọc mãi.
HÀ ÁNH MINHBài thứ nhất, Một cuộc đời "Ngậm ngải tìm trầm" của Vương Trí Nhàn, đăng trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số Xuân Canh Thìn năm 2000, và bài thứ hai "Sư phụ Thanh Tịnh làm báo tết" của Ngô Vĩnh Bình, đăng trên báo Văn Nghệ, số Tết cũng năm Canh Thìn 2000. Bài đầu tiên viết dài, giọng văn trau chuốt điệu nghệ. Bài sau ngắn, mộc mạc.
LÊ THỊ HƯỜNGDẫu mượn hình thức của thể kí, dẫu tìm đến vần điệu của thơ, điểm nhất quán trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cái tôi say đắm thiên nhiên. Đằng sau những tài hoa câu chữ là một cái tôi đa cảm - quá chừng là đa cảm - luôn dành cho cỏ dại những tình cảm lớn lao.
BỬU NAM1. Nếu văn xuôi hư cấu (đặc biệt là tiểu thuyết) chiếm vị trí hàng đầu trong bức tranh thể loại của văn học Mỹ - La tinh nửa sau thế kỷ XX, thì thơ ca của lục địa này ở cùng thời gian cũng phát triển phong phú và rực rỡ không kém, nó tiếp tục đà cách tân và những tìm tòi đổi mới của những nhà thơ lớn ở những năm 30 - 40.
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP1. Khi chạm vào cơn lốc và những điệu rock thơ mang tên Vi Thuỳ Linh, bất chợt tôi nhớ đến câu thơ dịu dàng và sâu thẳm của Paul Eluard: Trái đất màu xanh như một quả cam. Với P. Eluard, tình yêu là một thế giới tinh khiết, rạng rỡ và ngọt ngào: Đến mức tưởng em khỏa thân trước mặt. Còn Vi Thuỳ Linh, nếu ai hỏi thế giới màu gì, tôi đồ rằng nàng Vi sẽ trả lời tắp lự: Màu yêu.