Minh họa: Đặng Mậu Tựu
Hằng đứng im lặng. Im lặng vì Hằng buồn, vì Hằng là một cô gái câm. Hằng không thể nói được như một cô gái bình thường. Hằng cũng không buồn vớt túi xách lên vì trong ấy cũng chẳng có gì đáng giá. Chỉ là một ít son phấn rẻ tiền, bộ đồ nhàu nát, một chiếc gương con đã cũ để hành nghề. Di vật quý nhất là tấm ảnh nhỏ của mẹ thì Hằng đã ép nilon và đeo nó bên mình. Tấm ảnh ấy, quý còn hơn vàng. Nó là lá bùa hộ mệnh của Hằng. Những lúc cô đơn và buồn tủi quá, Hằng lại cởi ra và ngắm nhìn gương mặt dịu hiền của mẹ. Đôi mắt buồn trong ảnh đang nhìn Hằng, thương yêu và đùm bọc. Bao năm rồi trong ảnh mẹ chẳng chịu già đi. Có khi mẹ còn trẻ hơn cả Hằng bây giờ. Không bao giờ Hằng trách mẹ đã sinh ra Hằng mà không cho Hằng được làm người bình thường biết nói năng. Giá như Hằng biết nói, Hằng nói được tiếng người, hẳn cuộc đời Hằng đã khác. Không phải chịu nhiều khổ đau, không phải bị vùi dập hằng đêm, không phải trơ trọi một mình trong những ngày đau ốm. Lão Hinh vẫn chửi mỗi lúc một hung hãn hơn. Độ này, lão đã nát rượu lắm rồi. Khi say người ta chửi nhiều hơn bình thường. Người lão run bần bật. Bàn tay gầy trơ xương xăm xói vào mặt Hằng. “Mày cút khỏi nhà tau, mày là con đĩ, con đĩ rạc, con đĩ đã hết màu…”. Khi say, lão Hinh chỉ nói toàn những điều độc địa đối với đứa con gái câm. Hằng đứng nhìn cha trân trân. Hằng đã làm điều gì khiến cha phải tủi hổ. Nếu không có Hằng, lấy cơm đâu cha ăn, lấy rượu đâu cha uống, lấy quần áo đâu cha mặc. Hằng đem cái thân xác bất hạnh cha cho ở đời để mà trả nghĩa sinh thành. Ấy vậy sao cha còn không biết, cha còn nhục mạ Hằng. Hằng vào bếp rót cho lão Hinh một ly nước. Bàn tay run run lão Hinh hất ly nước rơi xuống nền gạch vỡ một tiếng choang. Hằng bật khóc nức nở khi nghe tiếng thủy tinh vỡ lao xao đánh vào lòng nàng hoang vắng. Lão Hinh có biết là mỗi bát cơm lão ăn, mỗi ly rượu làm lão mềm môi đã đong bao nhiêu tủi nhục của Hằng. Có những đêm rét mướt Hằng đã thâm tím mình mẩy vì giá lạnh. Gió từ ngoài sông hun hút, quất lên da thịt trần truồng của Hằng như những ngọn roi đau đớn. Có ngày xui xẻo gặp khách vũ phu Hằng bị vần tả tơi như một bông hoa trong mưa gió, cả người bầm tím tê dại. Những lúc như vậy, Hằng lại gọi thầm “Mẹ ơi”, tiếng gọi câm như một tiếng tru buồn lọt thỏm trong đêm tối. Hằng rất sợ mưa, sợ mùa đông, không phải chỉ vì vắng khách và đói, mà là cô đơn. Có đêm Hằng đội áo mưa ra đứng một mình bên bến vắng. Dưới cây liễu rũ thân thuộc bao năm, Hằng nghe tiếng mưa rơi trên mặt sông rộng. Trong đêm tối mơ hồ những tiếng nói, nhưng không phải tiếng người. Hằng chỉ thích nghe lời của cỏ cây. Chúng hát những lời ca dịu êm. Những cây cỏ mật lặng lẽ vuốt ve đôi chân Hằng bằng đôi bàn tay ram ráp nhân hậu. Trong đêm tối, ngồi bó gối lặng lẽ ngắm những vì sao lấp lánh xa xôi, Hằng thấy lòng mình dịu lại như vừa đi qua một cánh đồng rất nhiều hoa cúc vàng tươi. Có lúc Hằng nhớ con ghê gớm, nỗi nhớ cồn cào day dứt ở bên trái lồng ngực.
Giờ này có lẽ bé Hoa đã ngủ với dì của nó. Hằng nhớ đôi mắt con đen lay láy khi nhìn Hằng và hỏi nhỏ “Cô là ai? Cô có phải là cô tiên không?”. Giá như nói được, Hằng sẽ nói với con, con chính là con của mẹ, giọt máu yêu thương mà mẹ đành đoạn chia lìa. Hằng vẫn thường xuyên dành dụm tiền để gửi nuôi con và lo cho lão Hinh. Những lúc nhớ con quá, nàng mò đến trường học, đứng thẫn thờ suốt cả buổi sáng để mong nhìn thấy con. Mắt Hằng cũng đã yếu đi rất nhiều, chỉ thấy chập choạng những gương mặt trẻ thơ hồng hào. Hằng ra hiệu mua một chong chóng tre. Người bán hàng thối lại tiền lẻ, Hằng cho luôn người ăn xin bên đường. Cái chong chóng đẹp quá. Nó cứ quay tít trên tay Hằng. Đứng suốt buổi sáng vẫn không nhìn thấy bé Hoa, Hằng thất vọng đặt chiếc chong chóng vào hốc cây trước cổng trường rồi lầm lũi đi về. Dễ đã hơn nửa năm rồi Hằng chưa được gặp con. Tóc con bé bây giờ chắc cũng đã dài lắm. Hằng mong tích cóp được một ít tiền để sau này cho bé Hoa học may. Bé Hoa không phải hàng đêm đứng trong mưa rét mà ú ớ mời khách như Hằng. Bé Hoa là niềm tin của đời Hằng, là chút hy vọng nhỏ nhoi như ngọn lửa để cho Hằng sống, níu kéo Hằng ở lại với cuộc đời này. Nếu phải chết cho bé Hoa hạnh phúc, chắc là Hằng chẳng ngần ngại một chút nào. Hằng đêm, tình mẫu tử xoắn lấy ruột gan Hằng. Nhìn thấy những đứa trẻ có cha mẹ hạnh phúc chở nhau đi trên phố, Hằng vẫn hay nhìn theo ước ao, lòng thấy nuối tiếc điều mà chẳng bao giờ Hằng có được trên đời. Cầm lòng vậy thôi mà lòng Hằng tan nát. Cả cái gã đàn ông mà Hằng yêu dấu cũng đã bỏ Hằng ra đi từ lâu. Hắn không cần nhìn dù chỉ một lần giọt máu mà hắn đã để lại trên đời này. Điều bất nhẫn ấy Hằng không bao giờ tha thứ. Hắn có thể bỏ Hằng, nhưng hắn không bao giờ được bỏ bé Hoa. Vì đơn giản một điều bé Hoa là con của hắn. Trong cái đêm lạnh lẽo ấy cũng trên bến sông này, Hằng đã lặng lẽ trao thân cho hắn. Bé Hoa đã hoài thai trên tấm chăn hoa ngũ sắc. Cánh hoa nhiều màu rơi rụng và tứa ra một chất dịch hương thơm màu trắng dưới chân Hằng… cảm giác hiến dâng và được chia sẻ yêu thương khiến trái tim Hằng như muốn vỡ tung. Lồng ngực đập choi choi niềm hạnh phúc. Một cô gái câm bất hạnh như Hằng đã có một tình yêu… Hằng thở dài ngắm mặt sông rộng đã sáng dần dưới ánh trăng hạ huyền. Cái đêm hôm ấy đã xa lắm rồi, nó chỉ còn là những hồi ức vang vọng như ánh trăng tỏ mờ đêm nay. Hằng cố quên mà không thể nào quên được mối tình lương thiện duy nhất của đời Hằng. Nhưng cũng không nên trách hắn làm gì, vì Hằng chỉ là một cô gái câm bất hạnh, bị hắt bỏ ra khỏi cuộc đời như một chiếc lá hoan lạc lòi. Nhiều lúc buồn tủi quá, Hằng cố nhai một chiếc lá dại để lấy sức. Vị lá đắng sít khiến đầu lưỡi tê buốt cho Hằng cảm giác là mình đang sống, đang tồn tại dẫu là vất vưởng. Hằng thường ngắm sao trời qua vai những gã đàn ông tìm hoa. Những lúc ấy, bờ vai tối tăm chỉ còn là một cái gờ nhỏ thảm hại. Qua vòm lá rậm rạp, Hằng ngắm mê mải thứ ánh sáng lạnh giá vẫn đêm đêm an ủi Hằng, nhen nhóm trong Hằng một chút niềm tin. Dưới ánh sao đêm rạng rỡ, Hằng nhìn thấy gương mặt con xinh xắn vô ngần. Bé Hoa bay lên trong đôi cánh thiên thần màu trắng. Bầu trời như một tấm lụa sáng óng ánh những sợi tơ mịn. Hằng muốn nói với con gái rằng mẹ đã tủi nhục biết bao nhiêu. Mẹ bị giày vò khinh miệt nhưng mẹ không nản lòng. Mẹ là một cô gái câm, mẹ còn biết lựa chọn điều gì. Số phận đã lựa chọn mẹ làm vật hiến tế kiếp này… Hằng vẫn còn nhớ mãi những ngày mang thai bé Hoa. Hằng lo lắng không biết con ra đời có câm như mình không. Người ta bảo câm không di truyền, biết là vậy nhưng Hằng vẫn sợ. Hằng muốn con phải nói được tiếng người, phải là một đứa con gái bình thường để có thể học may vá, sống bằng một nghề bình thường, không phải tôi đòi như Hằng. Vì vậy mà Hằng dành dụm, chắt bóp, chỉ dám ăn sắn khoai trong những ngày vắng khách... Tháng Tám. Ngày mưa to. Lão Hinh chết. Nước mưa ngập kín căn lều nhỏ bên hồ Động. Trên chiếc bàn gãy một chân vẫn còn lưng xị đế, một ít ổi xanh và những đóa hoa sen trắng muốt. Lão Hinh chết vì uống rượu say mà lội hái sen hồ. Từ lúc còn cởi truồng lão đã sống giữa những đóa hoa sen. Lão yêu những đóa hoa sen cuối mùa thu như yêu đứa con gái hư hỏng mà lão không thôi nguyền rủa. Hằng biết miệng cha tuy độc địa, nhưng lòng cha rất lành, tâm cha sáng trong đến cả rượu cũng không thể nào làm bẩn cha được. Lão Hinh có chửi Hằng cũng là chửi nỗi bất hạnh, chửi cả ông trời xanh sao không cho lão được một mụn con biết nói được tiếng người. Có lúc Hằng đã thấy cha khóc một mình dưới hồ sen lạnh. Đôi vai gầy rung rung như những cánh hoa sen mỏng manh cuối ngày. Những lúc như vậy, Hằng muốn ôm đôi vai yêu thương đã từng cường tráng ấy, nhưng Hằng biết lão Hinh chẳng muốn ai nhìn thấy nỗi khổ đau của mình. Lão Hinh vẫn khóc một mình. Đó là chút kiêu hãnh còn sót lại của một đời người tàn tạ. Sau ngày đưa tang lão Hinh, trời vẫn có mưa hoài. Mưa như ai đó khóc than giữa lòng phố vắng. Hằng về lại ngôi nhà nhỏ hoang phế, lòng buồn tênh. “Bây giờ thì cha đã không còn chửi rủa con. Bây giờ thì cha đã thanh thản. Rượu vẫn còn để cho cha trên bàn thờ…” Hằng ú ớ nói những điều câm nín ấy, đôi mắt cô trống hoắc một nỗi buồn xa vắng. Hương hoa sen cuối mùa thảnh thót bay quyện với hương trầm dịu nhẹ khiến lòng Hằng dịu lại. Đêm nay mưa to, vắng khách. Hằng mượn chiếc chổi của người phu quét đường, gom một ít lá rụng dồn lên miệng cống. Những chiếc lá ướt chậm rãi bắt lửa, từng sợi khói nhỏ bốc lên mỏng manh. Khói nhạt đi và ngọn lửa to dần rồi cháy đỏ rừng rực. Hằng ngồi như muốn ôm lấy ngọn lửa. Nàng đưa đôi bàn tay gầy xanh xao hơ lên vòm sáng đỏ cháy màu hoàng hôn. Những đường gân trong tay nàng giần giật theo ánh lửa. Bất chợt nàng nghe tiếng lão Hinh chửi rủa, tiếng khóc thơ dại của bé Hoa ngày nào nàng bỏ con, tiếng chiếc chong chóng tre quay vù vù trước cổng trường… Gió thổi mạnh làm cây liễu rũ bên bờ sông vặn mình kêu răng rắc. Những chiếc lá nhỏ như đứt rời bay xuống mặt sông. Hằng ngồi bên đống lửa cho đến khi tàn lụi. Vuốt gương mặt xanh xao đầy nước mắt, nàng ngã sấp xuống đống tro tàn vẫn còn sót lại một chút hơi ấm. Tháng 10-2003 N.X.H (263/01-11) |
Tải mã QRCode
LÊ VĂN… Rồi cũng xong … Anh lơ xe nhảy lên cuối cùng, la lớn:- Tới đi chú Tám ơi!
QUỐC THÀNH - Xin người hoàn lại xiêm y cho ta - một thiếu nữ ngâm mình trong làn nước thơm khẩn khoản. - Mộng ba năm, bây giờ mới có, ta chỉ muốn nàng hứa một lời là được - chàng trai trẻ quay lưng về phía mặt hồ vòi vĩnh.
NGUYỄN THẾ TƯỜNG Sáng nay, ông Tổng biên tập gọi tôi tới bảo đi ngay dự lễ khánh thành một chiếc cầu. Tôi loáng quáng xách máy chạy ra xe, không kịp cả dặn vợ cắt cơm trưa.
L.T.S: Trần Duy Phiên, người thôn Thanh Thủy Chánh, huyện Hương Điền, Bình Trị Thiên, là một trong những cây bút truyện ngắn chủ chốt của chóm “Việt” - nhóm sáng tác trẻ trong phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy xuất phát ở Huế trước đây.
DƯƠNG PHƯỚC THUNgôi nhà lợp phi-brô xi-măng rộng chừng ba chục thước vuông, nằm sát cổng ra vào xí nghiệp dệt, biệt lập ngoài khu sản xuất, núp dưới tán lá cây bàng, được xây từ ngày xí nghiệp xảy ra các vụ mất cắp vật tư.
LÊ CÔNG DOANHChuyến đò dừng lại ở bến cuối cùng khi mặt trời vừa khuất sau rặng tre bên kia sông. Hiếu nhảy lên bờ và bước đi trong cảm giác chòng chành bởi gần trọn một ngày phải ngồi bó chân trong khoang đò chật.
L.T.S: Tác giả Hoàng Nguyệt Xứ tên thật là Hoàng Trọng Định, từng in truyện và thơ trên Sông Hương và nhiều tạp chí văn nghệ khác. Tác phẩm của anh để lại dấu ấn trong dòng chảy văn học của Huế với những truyện ngắn đậm tính triết lý, văn phong ám gợi sâu xa.Truyện dưới đây được Sông Hương dàn trang lúc anh còn sống... trân trọng gửi tới bạn đọc; cũng là nén tâm nhang xin chia buồn cùng người thân của anh.
TRẦN THÙY MAINếu cuộc đời được hình dung như một con đường thỉnh thoảng lại băng qua ngã tư, ngã ba hay rẽ ngoặt thì trong đời tôi có hai khúc quanh lớn nhất.
THÙY ANHồi nhỏ, tôi có cái tật làm nớt. Hở một chút là nước mắt tuôn ra giọt ngắn giọt dài. Anh chị xúm lại chọc: “Lêu lêu, mu khóc móc kh… ruồi bu kiến đậu…”, nhưng mẹ thì không, chỉ an ủi dỗ dành.
TRẦN HỮU LỤCKhi từ biệt làng nổi trên sông, ông Ngự tưởng mình quên được chiếc bóng vật vờ trên sông nước, quên bốn mươi năm gắn bó với những vạn đò. Ông Ngự chỉ mang theo đứa con gái duy nhất và cái máy bơm nước hiệu Yama của Nhật Bản đến vùng đất mới.
NGUYỄN QUANG LẬPQuá nửa đời người anh chị mới gặp nhau. Âu đó cũng là chuyện thường tình. Sau hai mươi mốt phát đại bác vang trời báo tin ngày toàn thắng, có hàng ngàn cặp vợ chồng cách biệt hàng chục năm đã tìm lại nhau.
Câu đối vô danh
PHẠM NGỌC TÚYMột buổi chiều như bao buổi chiều khác, Kim ngồi ở bàn giấy với trang viết đang chi chít chữ. Tiếng chuông điện thoại kêu vang dòn dã vào một thời điểm không thích hợp; thầm mong người nào gọi lộn máy Kim uể oải nhấc ống nghe lên.
BẠCH LÊ QUANG(Người đàn bà gối giấc ngủ trên cánh tay của biển - Thơ LHL)
MAI SƠNRa khỏi cổng cơ quan quân sự tỉnh, ông Năm gần như muốn la lên - niềm sung sướng vỡ òa trong lòng ông, hiện thành đường nét trên mặt mũi. Dù biết có người lính cảnh vệ đang đứng nghiêm nhìn theo, ông không ngăn được, vẫn bật lên tiếng cười “khà, khà”…
HOÀNG GIÁBên kia sông, làng Mả-Mang, có cụ già trăm tuổi quy tiên, Thầy Khâu-đà-la chèo con thuyền nhỏ vượt dòng sông Dâu sang làm lễ.
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC1.Hiu hiu gió thổi qua quán nhậu vỉa hè một xế trưa năm ba người tranh thủ chút thì giờ ngồi tán chuyện chỉ đủ phơ phất mấy tờ giấy lau đũa dùng xong được quẳng xuống nằm lớt thớt dưới đất.
NGUYÊN QUÂNQuyết thận trọng len qua khoảng vườn, đêm tối mịt mùng, không gợn chút ánh trăng sao, anh đi lần bước theo ký ức, cố gắng tránh gây tiếng động. Những cái lá khô giòn, nhành cây mục vương vãi làm anh bực mình chửi thầm “Mẹ nó, biết thế này hồi chiều chịu khó quét dọn chừ đỡ khổ”.
NGUYỄN ĐẶNG MỪNG Để tưởng nhớ nhà thơ Hoàng Cầm
PHAN THỊ THU QUỲVợ chồng Bình và Lựu đang sống ở Kim Long một làng ven sông Hương thơ mộng, nổi tiếng có quán ăn ngon, khách lui tới tấp nập. Cả hai người lòng buồn tê tái khi Bình có lệnh đổi vô Tây Nguyên. Tốt nghiệp đại học Luật xong Bình bị chính quyền cũ bắt vô lính, chạy mãi được làm lính văn phòng tại quê, nay phải đi xa thật lo lắng, buồn nản. Mai Bình phải lên đường cấp tốc. Ôi! Rủi ro, khác gì một hoạn nạn đến.