Câu thơ anh viết không ngoài nắng mưa

16:06 02/12/2008
NGUYỄN THỊ MAI(Nhân đọc tập thơ “Ra ngoài ngàn năm” của nhà thơ Trương Hương - NXB Văn học – 2008)


Thế là tròn mười thi phẩm trong cuộc đời sáng tạo của riêng mình. Trương Nam Hương với “Ra ngoài ngàn năm” – thi phẩm thứ mười - thêm một lần khắc đậm trong lòng độc giả một phong cách thơ: Tài hoa câu chữ, tinh tế cái nhìn và sâu nặng tình đời.
Không phải bỗng dưng mà Trương Nam Hương có nhiều “fan” hâm mộ, nhất là lứa tuổi “đang yêu” đến thế và được nhiều bạn đọc thuộc thơ, chép thơ anh vào sổ tay của họ. Nguyên do của lòng yêu ấy trước hết ở những câu thơ được viết tung tẩy bằng sự tài hoa mà đầu tiên phải kể đến là cách sáng tạo từ ngữ: “Anh cay đắng chạm lộc vừng lấm thấm/ Em cô đơn vịn ngao ngát dây bìm” (Tạp cảm),“Một hôm buồn đến rủ mình rong chơi/ Nhếch nhơ hè phố nhấp nhoi phận người”(Ghi vội trên đường). Tìm đâu ra trong từ điển tiếng Việt những từ lấm thấm, ngao ngát, nhếch nhơ, nhấp nhoi trên, cùng hàng loạt các từ sáng tạo khác như xao xít, cong quẹo, thung thẳng, ngung nguây, nhúm nhó, tươi mưởi, ngây ngoai, ấp ớ… và rất nhiều nữa có trong thơ Trương Nam Hương? Những từ ngữ đó không chỉ tạo ra âm sắc mới lạ khiến người đọc thích thú mà quan trọng hơn đã diễn đạt đúng bản chất sự đời và tâm trạng con người. Nó góp phần không nhỏ tạo nên thần thái, hồn phách câu thơ mà nếu không dụng công sáng tạo, chỉ “gắp” ra trong từ điển hay “nhại lại” những từ trong lời ăn tiếng nói quen thuộc, câu thơ sẽ cũ mòn thậm chí sai lệch ý t
ưởng định gửi gắm.  

Điều tài hoa tiếp nữa, phải kể đến cách nói (hay giọng điệu) của thơ Trương Nam Hương - một bút pháp không thể lẫn với ai. Ấy là cái cách nói đang thủ thỉ tâm tình bỗng nhói lên một câu buốt người:
- Lãng quên ngủ với vĩnh hằng
Chiếc trâm giờ đã thay bằng cỏ hoa
Sắc tài đắm giữa xót xa
Thôi thơ đừng vớt bèo ma Tiền Đường

(Sắc cỏ Nguyễn Du)
- Mây bánh đa khô rộp cả giếng làng
Bà vét nước tiếng gầu va rỗng ruột
Tôi đã dội vô tình bao nước mắt
Dội mát lành nỗi khó nhọc bà tôi

(Thời nắng xanh)
Ấy là cách nói tưởng vui vui, đùa đùa nhưng ẩn sâu những điều nghiêm túc, thiêng liêng:     
- Váy người ngắn đến mê ly
Ngẫm thơ tứ tuyệt nhiều khi còn dài
      (Viết ở Nghi Tàm)
- Áo lưng lửng lẳn eo mùa
Thun thăn váy lá bỏ bùa ai đây

(Trăng phố)
- Lúc người đánh bóng tuổi tên
Ta đi tìm hộp xi đen đánh giày     

(Không đề I)
- Lòng ta hăm hở đến nhà người yêu
Người yêu hăm hở đi theo ngoại kiều
Đường tình cong quẹo, nỗi tình trớ trêu
 
(Ghi vội trên đường)

Những chi tiết, hình ảnh vào thơ chỉ là cái cớ để Trương Nam Hương nói đến sự biến chất của con người trong cái nhố nhăng, nhũng nhương, ham hố của cuộc đời. Cái tưởng như hiện đại, tiến kịp nhân loại thực ra đang bào mòn vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. Phê phán chứ đâu phải a dua. Đùa đùa một tý, ngạo ngạo một tý cho nhẹ nhàng nhưng trong tầng sâu của chữ nghĩa kia là một thái độ không đồng tình cùng tâm trạng “lặng nỗi đau thầm” đang kêu cứu. Nhưng nói “phê” đâu có dễ. Trương Nam Hương đã rất khéo trong giọng điệu thể hiện, nếu không, chệch một chút cái giọng hóm hỉnh ấy đã biến thành “châm” rồi thơ ơi!

Đã nhiều người cho rằng thơ Trương Nam Hương giỏi và tài hoa ở thể lục bát. Rất đúng, bởi lục bát của anh mượt mà và âu yếm như lời người thương đằm thắm bên tai. Nhưng chưa đủ. Nếu đọc Ra ngoài ngàn năm sẽ thấy Trương Nam Hương đang thành công ở thể tám chữ cặp đôi và cặp ba câu. V
ới thể này, thơ anh có nhịp điệu (4/4) trẻ trung, khỏe vững trong cách cảm và thể hiện. Vì vậy nỗi buồn hay sự cô đơn trong những cặp đôi và cặp ba của nhịp điệu kia không thể nặng nề hay ủy mị. Do tài gắn kết, ràng buộc giữa hai hoặc ba câu thơ trong một cặp nên có thể tách riêng mỗi cặp câu thơ ra khỏi bài thơ mà ý nghĩa vẫn trọn vẹn, đủ thấm thía một tâm sự.

Tuy nhiên, dù chuyển sang thể tám chữ cặp đôi, cặp ba ấy thì thơ Trương Nam Hương vẫn không “ra ngoài ngàn năm” của thơ truyền thống. Quen thuộc hình thức, không lạ nội dung, nhưng sao vẫn thu hút làm vậy? Phải chăng thơ Trương Nam Hương không chỉ có cách thể hiện rất riêng mà còn ám ảnh bạn đọc bằng cái nhìn tinh tế về nhân sinh và thế sự - những điều mà ai cũng nhìn nhưng không phát hiện ra? Ví như cách anh nhìn về thời gian: “Thời gian rúc lòng người như mối vậy” (Gặp Kiều tiết thanh minh). Đọc câu thơ cảm giác rùng mình khi liên tưởng có một bầy mối đục rung rúc trong người. Thời gian thật kinh khủng với đời người là thế nhưng với tình yêu lại nhẹ tênh như tách cà phê “quên bỏ chút đường” mà thôi. B
ởi đã yêu là quên lãng tháng ngày, tính gì đến thời gian hay tuổi tác. Còn với quyền uy danh vọng, thời gian vừa làm nó vô nghĩa lại cũng phán xét nó đến cùng: “Nửa giờ khoác thử oai xưa/ Nghe trăm năm gió thốc lùa buốt ngai” (Làm vua ở Huế). Hay khi Trương Nam Hương nhìn cuộc đời bằng lăng kính của mình: “Sau những ghét thương lòng thường mất mát/ Giật mình bóng lá gọi mình loay hoay” (Bâng quơ)  hoặc “Vời vợi vàng son, máu hòa với đất/ Nụ hoa lầm lụi vô danh lại còn/ Gặp nỗi lớn lao ở trong bé nhỏ” (Lặng lẽ)… thì chính là anh đã phát hiện ra cái quy luật mất còn của đời người, của tình yêu và danh vọng. Hay đây nữa, có lẽ chỉ người trải nghiệm và có nỗi niềm sâu lắng như Trương Nam Hương mới nhìn ra: 
Trong sông Hương có nỗi buồn
Trong thăm thẳm có vô thường thi ca
(Lời thưa)

Với cái nhìn rất riêng cộng thêm “chất giọng” đằm thắm, đượm buồn, thơ Trương Nam Hương còn hút hồn bạn đọc bởi những tâm sự dễ động lòng trắc ẩn. Đó là ký ức buồn thương về quê hương, gia đình và thân phận; đó là nỗi xót xa, thảng thốt với sự đời hàng ngày anh phải đối mặt; và nhiều hơn cả là những trăn trở, hoài niệm về tình yêu. Tuy nhiên ký ức buồn thương tập trung nhiều ở các bài: Lời thưa, Khói bếp xưa, Cũng là cổ tích Thời nắng xanh. Nếu thêm bài Sắc cỏ Nguyễn Du, Với chàng hát rong Mêhicô là thành những bài thơ hay nhất của tập thơ, cũng là những bài thơ “để đời” của Trương Nam Hương. Đọc Thời nắng xanh, ta đã gặp bà, gặp mẹ và gặp chính mình với tuổi thơ cũng “thơm thao bùn đất” bên người bà nghèo của quê hương đồng bằng Bắc bộ. Và không thể không rưng rưng khi đọc: “Dẹp tròn, mắt dứa, mắt na/ Tôi nhem nhọ bếp sáp gà dính tay/ Loăn thoăn đồng đất tối ngày/ Tiếng bà gọi ới bờ này bãi kia”.

Những bài thơ “để đời” trên hình như chỉ là kỷ niệm riêng trong sâu thẳm cõi lòng. Tác giả viết để hoài niệm chứ không nhằm chia sẻ. Anh hoài niệm về quê hương, về quá khứ, về chiến tranh, về thơ ca và cả tình yêu của một thời riêng anh, mà sao đồng điệu với  bao người? Điều Trương Nam Hương ngẫm ngợi là những gì hiện tại đang có thật với cuộc sống của anh. Trước hết đó là anh với một nhân cách khác người: “Đứng ngoài các cuộc bon chen/ Đứng trong nước mắt muộn phiền nhân gian/ Chẳng quen khoanh dạ mặt bàn/ Về thưa ghế đẩu cơ hàn mẹ thôi” (Không đề II).

Đó là tình yêu của anh với nhiều trải nghiệm buồn thương, đau khổ và hạnh phúc.
Có đến hai phần ba tập thơ Trương Nam Hương dành cho tình yêu. Có lẽ yêu là chủ đề phù hợp nhất với cảm hứng thi ca của con người đa tình, tài hoa như anh. Tài hoa ắt đa tình, đa tình ắt khổ đau, trắc trở, có hạnh phúc và có cả lỗi lầm… thơ anh bộc bạch, không giấu giếm tất cả điều đó. Tuy nhiên, với Trương Nam hương, được yêu hay không, còn tình hay mất thì trái tim yêu vẫn thi vị hóa, nồng hậu với đời. Chẳng thế mà bao fan hâm mộ tuổi học trò vẫn ngất ngây chép vào sổ tay những câu thơ hờn dỗi hoặc ngọt ngào, phảng phất hồn thơ Xuân Diệu: “Sáng dậy hương mùa xanh đẫm tay/ Em dâng tưởi mưởi giấc anh đầy/ Đêm mê gió chúm lên môi lá/ Em vít tình anh... tưởng bóng cây!” (Sau đêm).              

Không thể kể hết những bài thơ hay, hoặc những câu thơ ấn tượng trong khuôn khổ bài viết này bởi cả tập thơ được viết rất đều tay và rất nhiều bài có câu thơ “mắt thần” thì làm sao dẫn ra cho thỏa mãn. Nói thế không có nghĩa là tập thơ đã toàn bích.
Ấy là những lúng túng trong các bài anh đang có xu hướng cách tân, đổi giọng. Anh đăm đắm giữ cho mình phong cách truyền thống nhưng rồi cũng có khi hoang mang: “Lời ca chẳng có bến bờ nào neo” (Với chàng hát rong Mêhicô).

Chạnh nghĩ, trong thời đại bùng nổ thông tin hôm nay, biết bao thú vui văn hóa hấp dẫn người đời, thơ cứ khư khư chất truyền thống cả về hình thức và nội dung cũng dễ gặp cảnh “Lời ca chẳng có bến bờ nào neo” lắm chứ. Nhưng thơ Trương Nam Hương vẫn đông công chúng và đông các thế hệ bạn đọc. Đó là công chúng của riêng anh. Họ thích cái chất têu tếu mà gây ấn tượng, dịu dàng mà lắng đọng, khổ buồn mà sang trọng. Còn như chua chát, gai góc hay cao siêu xa vời thì chưa thành công ở thơ anh.
Vậy nên với 62 bài thơ, Ra ngoài ngàn năm dẫu hàm ý thế nào, cuối cùng bạn đọc vẫn nhận ra “Câu thơ anh viết không ngoài nắng mưa”.
N.T.M

(nguồn: TCSH số 237 - 11 - 2008)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN CƯƠNGSư Bà Thích Nữ Diệu Không (tục danh Hồ Thị Hạnh) sinh năm 1905 viên tịch năm 1997 hưởng thọ 93 tuổi. Lúc sinh thời Sư Bà trụ trì tại Chùa Hồng Ân, một ngôi chùa nữ tu nổi tiếng ở TP Huế, đã một thời là trung tâm Phật giáo ở miền Nam.

  • HỒNG NHU    (Đọc tập “Chuyện Huế” của Hồ Đăng Thanh Ngọc - NXB Thuận Hóa 2008)

  • NGUYỄN ĐÔNG NHẬTĐọc xong tập sách do họa sĩ Phan Ngọc Minh đưa mượn vào đầu tháng 6.2009(*), chợt nghĩ: Hẳn, đã và sẽ còn có nhiều bài viết về tác phẩm này.

  • NGUYỄN HỮU QUÝ         (Mấy cảm nhận khi đọc Chết như thế nào của Nguyên Tường - NXB Thuận Hóa, 2009) Tôi mượn thuật ngữ chuyên ngành y học (Chăm sóc làm dịu=Palliative Care) để đặt tít cho bài viết của mình bởi Phạm Nguyên Tường là một bác sĩ điều trị bệnh ung thư. Tuy rằng, nhiều người biết đến cái tên Phạm Nguyên Tường với tư cách là nhà thơ trẻ, Chủ tịch Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế hơn là một Phạm Nguyên Tường đang bảo vệ luận án tiến sĩ y khoa.

  • LÊ THỊ HƯỜNGTìm trong trang viết là tập tiểu luận - phê bình thứ 3 của Hồ Thế Hà. Sau những ngày tháng miệt mài “Thức cùng trang văn” (viết chung với Lê Xuân Việt, được giải thưởng Cố đô 1993 - 1997), Hồ Thế Hà lại cần mẫn “tìm trong trang viết” như một trăn trở đầy trách nhiệm với nghề.

  • MAI VĂN HOANNguyễn Công Trứ từng làm tham tụng bộ lại, Thị lang bộ Hình, Thượng thư bộ Binh... Đương thời ông đã nổi tiếng là một vị tướng tài ba, một nhà Doanh điền kiệt xuất. Thế nhưng khi nói về mình ông chỉ tự hào có hai điều: Thứ nhất không ai "ngất ngưỡng" bằng ông; thứ hai không ai "đa tình" như ông. Nguyễn Công Trứ "ngất ngưỡng" đến mức "bụt cũng phải nực cười" vì đi vào chùa vẫn mang theo các cô đào.

  • SICOLE MOZETBà Nicole Mozet, giáo sư trường Paris VII, chuyên gia về Balzac và là người điều hành chính của các hội thảo về Balzac đã làm một loạt bài nói chuyện ở trường Đại học ngoại ngữ Hà Nội, trường Đại học sư phạm Hà Nội, Nhà xuất bản thế giới... Chúng tôi trích dịch một đoạn ngắn trong bản thảo một bài nói chuyện rất hay của bà. Lúc nói bà đã phát triển những ý sau đây dưới đầu đề: Thời gian và tiền bạc trong Eugénie Grandet, và đã gợi cho người nghe nhiều suy nghĩ về tác phẩm của Batzac, cả về một số tác phẩm của thế kỉ XX.

  • CAO HUY HÙNGLịch sử vốn có những ngẫu nhiên và những điều thần tình mà nhiều người trong chúng ta chưa hiểu rõ. Tỉ như: Thế giới có 2 bản Tuyên ngôn độc lập, đều có câu mở đầu giống nhau. Ngày tuyên bố tuyên ngôn trở thành ngày quốc khánh. Hai người soạn thảo Tuyên ngôn đều trở thành lãnh tụ của hai quốc gia và cả hai đều qua đời đúng vào ngày quốc khánh...

  • NGUYỄN VĂN HOA1. Tôi là người Kinh Bắc, nên khi cầm cuốn sách Văn chương cảm và luận (*) của Nguyễn Trọng Tạo là liền nhớ ngay tới bài hát Làng quan họ quê tôi của anh mà lời ca phỏng theo bài thơ Làng quan họ của nhà thơ Nguyễn Phan Hách.

  • TRẦN HUYỀN SÂMSau mười năm, kể từ khi “Cái trống thiếc” ngỗ ngược của chú lùn Oska vang lên trên đống gạch đổ nát của thế chiến II, Herta Munller đã tiếp nối Gunter Gras và vinh danh cho dân tộc Đức bởi giải Nobel 2009.

  • NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH       (nhân Đọc "Từ những bờ hoa gió thổi về")Ông Trần Nhật Thu sinh năm 1944 ở Quảng Bình. Ông  lớn lên, làm thơ, đoạt giải thi ca cũng từ miền đất gió cát này. Năm 1978 ông rời Quảng Bình như một kẻ chạy trốn quê hương. Nhưng hơn hai chục năm nay miền quê xứ cát vẫn âm thầm đeo bám thơ ông. Qua đó lộ cảm tâm trạng ông vẫn đau đáu miền gió cát này.

  • Nhà văn Tô Nhuận Vỹ tên thật là Tô Thế Quảng, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1941, quê ở Vinh Xuân, Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Anh đã kinh qua các công việc: dạy học, phóng viên, biên tập viên… Anh từng giữ các chức vụ: Tổng thư ký và Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, Giám đốc Sở Ngoại vụ, đại biểu HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế, Uỷ viên Ban kiểm tra, Uỷ viên Hội đồng văn xuôi và Ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam.

  • ĐÔNG LAThế là sự ồn ào qua rồi. Diễn đàn đã đóng cửa. Nhưng lẽ nào việc thẩm định văn chương chỉ râm ran một hồi như thế, rồi cái nhùng nhằng còn nguyên nhùng nhằng, sự mâu thuẫn còn nguyên mâu thuẫn, và chuyện hay dở đến đâu cũng vẫn cứ mãi lửng lơ!

  • ĐÀO DUY HIỆP"Ngữ pháp, ngữ pháp khô khan chính nó, trở thành cái gì đó như một thuật phù thủy, gọi hồn; các từ sống lại, được cấp xương thịt, danh từ trong dáng vẻ tôn nghiêm bản thể của nó, tính từ, trang phục trong suốt khoác lên nó và nhuộm sắc cho nó một lớp tráng, còn động từ, thiên thần của vận động, mang lại cho câu sự động dao" (Baudelaire) (1)

  • MAI VĂN HOANMai Văn Hoan sinh 20-1-1949, quê Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Anh tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh và từng dạy ở các trường: Cấp 3 Minh Hoá (1971-1973), Sư phạm 10+3 Quảng Bình (1973-1979), Hai Bà Trưng (1979-1985), Quốc Học (1985-2009). Anh từng tham gia bồi dưỡng hàng chục học sinh giỏi văn tỉnh Bình Trị Thiên (1979-1989), tỉnh Thừa Thiên Huế (1989-2009) đoạt giải Quốc gia. Một số học sinh của anh đã trở thành phó giáo sư, tiến sĩ, cán bộ quản lý, nhà văn, nhà báo... nhưng vẫn “mãi mãi không thể nào quên những giờ dạy văn của thầy Mai Văn Hoan” như lời chị Lương Thị Bích Ngọc tâm sự trên VietNamNet.

  • NGUYỄN HỮU NGÔ Cuốn sách đồ sộ "Côn Đảo" của Nhà xuất bản Trẻ (1996) là một nguồn tư liệu quý mà những người làm công việc nghiên cứu lịch sử cách mạng Việt Nam không thể không tìm đến. Vì vậy sự chính xác về thông tin đòi hỏi phải khẳng định. Và cũng vì vậy tôi có đôi điều xin thưa với ban biên tập Nhà xuất bản Trẻ về những thông tin về nhân vật Mai Tấn Hoàng được coi là người tử tù cách mạng.

  • VÕ THỊ QUỲNHĐặng Huy Trứ (1825 - 1874) đã để lại khá nhiều thơ văn cho đời. "Từ Thụ Yếu Quy"(*) tập sách bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người làm quan, là một trong những áng văn quý giá ấy.

  • Văn Cầm Hải tên thật Nguyễn Thanh Hải, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1972, quê ở làng Trần Xá, Hàm Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình.

  • CAO HUY HÙNGBa mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta! Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta di sản vô cùng quí báu: Đó là bản di chúc lịch sử của thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử vinh quang hàng ngàn năm của dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

  • LÊ THỊ MÂYĐề tặng một giấc mơ là tập thơ hay và buồn của Lâm Thị Mỹ Dạ. Tập thơ này được giải thưởng của UBTQLH các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 1998. Sau khi xóa bao cấp trong in ấn thơ, rất nhiều người có cơ hội tự in thơ, có khi là mỗi năm một tập. Lâm Thị Mỹ Dạ không ở trong diện ấy.