Cảm xúc chủ âm ở bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”

15:59 02/02/2010
NGUYỄN ANH TUẤNKhông gian trữ tình không là một địa danh cụ thể. Mặc dù có một “thôn Vĩ” luôn hiện hữu hết sức thơ mộng trên toàn đồ trực diện thẩm mỹ của bài thơ, với những màu sắc, hình ảnh, đường nét:…

Ảnh: Internet

“nắng hàng cau”, “vườn ai”, “lá trúc”, “mặt chữ điền”, “dòng nước”, “thuyền ai”, “sông trăng”, “khách đường xa”, “áo em trắng quá”… qua ngòi bút miêu tả tinh tế của tác giả. Có chỗ xuất sắc như:

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

“Mướt” là linh hồn của màu sắc, là ánh lung linh của mối tương giao giữa các yếu tố kết tạo trên một khung cảnh. Một cảm nhận bằng nội quan, cảm nhận từ bên trong. Tác giả cũng không đậm tô một gương mặt nào cụ thể. Chỉ đưa một nét vẽ “mặt chữ điền” hết sức phảng phất, với “lá trúc che ngang”, đủ để gợi tưởng…


“Thôn Vĩ” ở đây cũng chỉ là “thôn Vĩ” của một là mời gọi xa gần “sao anh không về…”, “thôn Vĩ” của một tiếng reo bất ngờ gặp gỡ từ giữa chốn xa niềm: “Đây thôn Vĩ Dạ”, thì có đâu là một làng thôn cụ thể khách quan nữa. Một địa danh đã trở thành một đơn vị tượng trưng, một ẩn ngữ…

Nhiều lần, Hàn Mặc Tử đã chiêm tưởng đó một hiện thực nghiệt ngã của “nỗi ám ảnh thường trực”:

“Một mai tôi chết bên khe Ngọc Tuyền
“Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sương sao anh nằm chết như trăng”


Cái nhìn khách thể hóa đối tượng (theo chiều A à B) trong những câu trên, hoàn toàn đảo ngược khi tác giả viết:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Đối tượng trở thành chủ thể hóa (B
à A). Thực tại “ở đây” hoàn toàn là một-kiểu-thực tại-cách-biệt. Một cõi sống đầy “sương khói”, hoang lạnh, đang bị phủ nhòa. Không gian trữ tình này chi phối lên mọi cảm quan miêu tả và biểu hiện. “Thôn Vĩ” với bao cảnh sắc thơ mộng, chỉ như một cố hương, một hoài niệm, một mộng ảo, một nguồn yên ả đã xa, một nguồn sống ngoài tầm mà động lực sống đang cố sức tìm về, đang mỏi mong ở những linh hồn cảnh sắc, ở hiếm hoi ấm áp của một nét mặt chứ không phải trọn vẹn một gương mặt.

Mối họa chia biệt luôn luôn của sự vật sự tình “gió theo lối gió mây đường mây” lại đẩy đưa lòng khát khao được cứu độ của tác giả đến một đối tượng khác:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”


Không còn chỉ là một hình ảnh đẹp của thiên nhiên, một gợi thú vi nhập thăng thoát như trăng cổ điển nữa. Trong là cầu gọi khắc khoải kia, trăng là tất cả những gì vô lượng, thiêng liêng, là phước cả siêu nhiên, là hiện linh của một “phép mầu” cần kíp với những vô vọng sâu thẳm tâm tư.

Muôn nỗi lại còn dõi về một “khách đường xa” để nhưng: “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Vị ân sứ cuối cùng ấy cũng bởi những cách ngăn huyền ảo mà không đến được, chỉ thoáng hiện thoáng tan, chập chờn để hi vọng phải chua chát hơn vô vọng. Con đường trở về cuối cùng cũng không còn nữa, tình cảnh này xoáy lên những suy ngẫm xót xa về những - gì - không - thể - hóa - giải của con người.

“Thôn Vĩ” - “Trăng” - “Khách” là những hình ảnh giàu ý niệm, như là những định ước xa xăm mới mẻ về những mối ân tình. Những hình ảnh được ảo hóa cao độ, biểu hiện một nhãn quang tượng trưng cận kề siêu thực.

Ngụ cư ở một thực-tại-khác, như “một tinh cầu giá lạnh”, tâm hồn tác giả dõi về cuộc trần với toàn thân thiết tha, tiếc nuối, khắc khoải, kì vọng, để thấy quý giá hơn cõi đời, đây phải chăng là một âm vọng tích cực ở bài thơ.


Không thể không liên tưởng đến một bậc thi hào tiền bối hết sức khả kính là Nguyễn Du, khi ta gặp ý thơ của Hàn Mặc Tử:

“Ai biết tình ai có đậm đà”.

Giữa chốn không gian thời gian, biết và đâu biết, thực và ảo, chân chân huyền huyền, mối băn khoăn ấy của những thế hệ thi nhân trong những khoảnh khắc trực diện chính thân phận mà, sao tránh khỏi ngậm ngùi.

Cách biệt - chính là chủ âm của tâm trạng thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. Chủ âm này rất gần với một quan niệm mà Hàn Mặc Tử đã bày tỏ trong những trang viết có tựa đề. “Gửi M”:

“Thơ là tiếng kêu rên thống thiết của một linh hồn cách biệt thương nhớ cảnh chiêm bao”.

Phải chăng bài thơ đã di hành quá xa với thói quen thẩm mỹ cùng thời, để như một là tựa ở “thơ điên”: “càng xa càng ớn lạnh”.

N.A.T.
(120/02-99)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN THANH HÀLGT: Có thể nói rằng, “Tiểu thuyết và tiểu luận về tiểu thuyết của Milan Kundera được xem như là một trong những hiện tượng độc đáo đáng được chú ý trong văn học Châu Âu hiện đại”. Mỗi cuốn tiểu thuyết cô đọng của nhà văn, mang lại cho độc giả một cái nhìn độc đáo về thế giới hiện đại và vị trí con người trong đó, một thứ triết học riêng về cuộc sống và mối quan hệ liên cá nhân, “các chủ đề sắc sảo và các tính cách con người sinh động được kết hợp với những suy tư về các đề tài triết học và hiện sinh mang tính toàn cầu”.

  • HOÀNG VĂN Đọc Hoang thai ta có thể hình dung ra xã hội Ba Lan đương đại và những vấn đề nẩy sinh trong xã hội này.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊGặp nhà văn - dịch giả Đoàn Tử Huyến - một người “chơi” sách có hạng ở đất Hà Thành - tại nhà sách lớn của Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây mới khai trương trên khu Cầu Giấy, trước ngày hội thảo về tiểu thuyết “Mẫu Thượng ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh, tôi hỏi: “Có đúng là ông đã nói trên một tờ báo rằng “Một tác phẩm kiệt xuất như “Nghệ nhân và Margarita” (NNVM) mà chưa có một nhà phê bình Việt Nam nào sờ đến cả! “Đúng vậy không?” Đoàn Tử Huyến cười nhăn cả mũi: “Thì đúng vậy chứ sao!”

  • HOÀNG VŨ THUẬT(Đọc Hoạ mi năm ngoái - Thơ Trần Kim Hoa, NXB Văn học, 2006)

  • LTS: Sông Hương vừa nhận được lá thư của ông Tế Lợi Nguyễn Văn Cừ gửi cho nhà nghiên cứu Phan Thuận An nhằm cung cấp lại bản gốc của bài thơ “Cầu ngói”. Xin nói thêm, ông Nguyễn Văn Cừ là con của ông Nguyễn Văn Lệ, tác giả bài thơ.Sông Hương xin đăng lá thư này để hầu mong rộng đường trao đổi.

  • HOÀNG VŨ THUẬT(Đọc Ngày không ngờ - thơ Nguyễn Bình An, NXB Thuận Hóa 2007)

  • VĨNH NGUYÊN(Nhân xem tập thơ Nhật thực của Nhất Lâm, Nxb Thanh Niên, 2008)

  • NGÔ MINHLTS: Ngày 13-2-2007, Bộ Văn hoá Thông tin đã công bố quyết định của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam về việc tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ được là 1 trong 47 nhà văn được giải thưởng nhà nước với chùm tác phẩm: Đề tặng một giấc mơ (tập thơ 1988), Trái tim sinh nở ( tập thơ - 1974), Bài thơ không năm tháng (tập thơ - 1983). Nhân dịp ngày Quốc tế phụ nữ 8-3, TCSH xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Ngô Minh về nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.

  • BÙI VIỆT THẮNGVịt trời lông tía bay về (*) là sự lựa chọn có thể nói rất khắt khe của chính nhà văn Hồng Nhu, rút từ cả chục tập và chưng cất ba mươi truyện ngắn tiêu biểu của gần trọn một đời văn. Con số 33 là ít những không là ít vì nhà văn ý thức được sâu sắc quy luật nghiệt ngã của nghệ thuật ngôn từ “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. 33 truyện được chọn lọc trong tập sách này có thể gọi là “tinh tuyển truyện ngắn Hồng Nhu”.

  • PHẠM PHÚ PHONGPhạm Đương có thơ đăng báo từ khi còn là sinh viên khoá bốn, khoa Ngữ văn đại học Tổng hợp Huế. Đó là thời kỳ anh sinh hoạt trong câu lạc bộ văn học của thành đoàn Huế, dưới sự đỡ đầu của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm (lúc này vừa rời ghế Bí thư thành đoàn, sang làm Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương vừa mới thành lập.)

  • HÀ KHÁNH LINHNgười lính chiến trở về bỏ lại một phần thân thể của mình trên trận mạc, tựa vào gốc nhãn hoang bên vỉa hè lầm lụi kiếm sống, thẳng ngay, chân thật, khiêm nhường.

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNTrong Ngày Thơ Việt vừa qua, một tuyển tập thơ “nặng hàng trăm năm” đã được đặt trang trọng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Rất nhiều những bài thơ xứng đáng với danh xưng hay nhất thế kỷ XX đã “biện lý do” vắng mặt, và ngược lại. Đấy là một trong nhiều sự thật được đa phần dư luận kiểm chứng. Cũng là một góc nhìn khá rõ nét, Sông Hương xin giới thiệu ba bài viết của Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Hữu Qúy và Phước Giang về tuyển tập thơ “nặng ký” trên.

  • NGUYỄN HỮU QUÝCuộc thi bình chọn 100 bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ XX do Trung tâm Văn hoá doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo Dục phối hợp tổ chức đã kết thúc. Một ấn phẩm mang tên “100 bài thơ hay nhất Việt thế kỷ XX” đã được ra đời. Nhiều người tìm đọc, trong đó có các nhà thơ và không ít người đã tỏ ra thất vọng, nghi ngờ.

  • PHƯỚC GIANGTrung tâm Văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo dục vừa tuyển chọn và giới thiệu 100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX.Việc này thực hiện trong hai năm, theo ông Lê Lựu, Giám đốc Trung tâm Văn hóa doanh nhân thì kết quả thật mỹ mãn: hơn 10.000 phiếu bầu, kết quả cuối cùng “không ai bị bỏ sót” và “trong 100 bài đã được chọn chỉ chênh với các danh sách khác khoảng 5-7 bài”.

  • NHỤY NGUYÊN

    Truyện ngắn của Nguyên Quân trong Vòng tay tượng trắng (Nxb. Văn Học, 2006) khá mộc mạc ở cả đề tài và lối viết, nhưng cũng nhờ cái mộc mạc đó đã hút được nguồn nguồn mạch sống.

  • QUÁCH GIAOMùa Xuân Đinh Hợi đến với tôi thật lặng lẽ. Cây Thiết Mộc Lan nơi đầu ngõ năm nay ra hoa muộn song lại tàn trước Tết. Hoa trong sân nhà chỉ lưa thưa vài nụ Bát Tiên. Hai chậu mai không buồn đâm hoa trổ nụ. Đành thưởng xuân bằng thơ văn của bằng hữu.

  • NHỤY NGUYÊN

    (Đọc Ngày rất dài - Thơ Đoàn Mạnh Phương, Nxb Hội Nhà văn, 2007)

  • TRẦN THÙY MAI(Đọc Đức Phật, nàng Savitri và tôi, tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2007)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ(Nhân đọc “Nhà văn Việt Nam hiện đại” - Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản, 5-2007)Trong dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957-2007), Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (HNVVN) đã xuất bản công trình quan trọng “Nhà văn Việt Nam hiện đại” (NVVNHĐ), dày 1200 trang khổ lớn, tập hợp chân dung trên một ngàn nhà văn các thế hệ, từ các cụ Ngô Tất Tố, Phan Khôi… cho đến lớp nhà văn vừa được kết nạp cuối năm 2006 như Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Vĩnh Tiến, Phan Huyền Thư…

  • BÍCH THU(Đọc Tô Hoài - Đời văn và tác phẩm của Hà Minh Đức, Nxb Văn học, 2007)Tô Hoài - Đời văn và tác phẩm của Hà Minh Đức là cuốn sách tập hợp những ghi chép và nghiên cứu về nhà văn Tô Hoài, một tác gia lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Đây là cuốn sách đầu tiên kết hợp hai phương diện ghi chép và nghiên cứu, góp một cách tiếp cận đa chiều và cập nhật về con người và sự nghiệp của nhà văn.