HOÀNG DIỆP LẠC
Người ta biết đến Nguyễn Duy Tờ qua tập sách “Xứ Huế với văn nhân” xuất bản năm 2003, với bút danh Nguyễn Duy Từ, anh lặng lẽ viết với tư cách của một người làm ngành xuất bản.
Năm 2010 anh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: “Sự vận động của dòng văn học hiện thực Việt Nam 1930 - 1945” qua những tác phẩm lớn của các tác giả tên tuổi đã dấn thân, để lên án mạnh mẽ sự hà khắc của chế độ thời bấy giờ. Thật bất ngờ trong không khí tưng bừng của những ngày Festival Huế 2016, Nguyễn Duy Từ lại ra mắt tập thơ “Viết ở Tử Cấm Thành”, bìa do nhà thơ Hải Trung thiết kế, cùng những phụ bản của họa sĩ Đặng Mậu Triết, Nguyễn Đăng Sơn. Càng ngỡ ngàng hơn, khi mỗi bài thơ của anh đều mang dáng vẻ của một thi nhân đang suy tư về các vấn đề xã hội đầy trách nhiệm. Từng câu từng chữ trong mỗi bài thơ của Nguyễn Duy Từ như một phép tinh giản đến mức kiệm chữ.
Mỗi nhà thơ, mỗi người làm thơ, dù chỉ một bài hay hàng trăm bài, nếu thơ chỉ là trò giải trí bông đùa rẻ rúng, hoặc dành cho những kẻ mua danh bọt bèo thì chẳng có gì để nói. Bởi vì thơ là tiếng lòng, là nỗi trắc ẩn của một con người không vô cảm trước đồng loại, không thờ ơ trước bất công. Trong ý nghĩa đó, thơ Nguyễn Duy Từ đã góp phần lên án cái ác, cái xấu, lên án những con người im lặng, thản nhiên trước cái xấu ác đang hoành hành, cho dù anh chỉ nghe mẩu tin trên tờ nhật báo:
Lũ tội đồ đời mới
không đóng đinh Chúa Jesu vào cây thập giá
chúng đóng hàng ngàn Chúa Trời vào phòng hun lửa
dìm vào đói, vào khát, trói vào hàng rào chất nổ treo giăng lúc lỉu
và nỗi sợ hãi tột cùng.
Ơi những em bé thiên thần Beslan!
Cái ác không ngoại trừ một ai, dù cho là trẻ thơ, trước cuộc chiến phi nghĩa đã khiến hàng trăm người vô tội bỏ mạng, hàng triệu người phải di cư, trong đó có hình ảnh em bé Aylan Kurdi chết trôi vào bờ biển đã khiến nhà thơ liên tưởng đến “Một tương lai đã chết” dù nền văn minh nhân loại đã bước qua thế kỷ hai mươi mốt.
Tháng 9 năm 2015:
- Em bé Aylan Kurdi
- Người Siria
- Đã chết trên đường di cư
- Xác dạt vào bờ biển nước Thổ.
Và nỗi trăn trở của anh về con người, xã hội mà những lời hứa suông luôn đẹp luôn hay, nhưng tính người không còn nữa, chất người đã không còn nữa.
Còn bao nhiêu tính người, để đo?
Còn bao nhiêu chất người, để giữ?
Khi mọi lý tưởng vẫn chỉ là giả định về một thế giới không yên bình, với nhà thơ sự bất an luôn chờ chực trong tâm tưởng:
Thời đại chưa tan băng những nắm đấm micrô,
Hòa bình treo trên đầu chót lưỡi.
Thời đại những viễn ảnh sáng lòa
Người hành hương đi mãi không nhà
Bất kỳ ở đâu trên mặt đất này, người nghệ sĩ như một kẻ cứu chuộc, một kẻ tình nguyện hành hình trong thế giới tinh thần, để hóa thân nỗi đau qua ngòi bút, nhằm lên án sự dối trá, lên án sự dã man, phi nhân tính, đi ngược lại con đường tiến bộ của loài người. Trong đó có những con người không dám vứt bỏ những sai lầm bị thế giới lên án, không thể làm ra cái mới hay hơn, lại đi chỉnh sửa câu chuyện đã được cả thế giới tiến bộ công nhận. Sửa Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du; một danh nhân văn hóa thế giới, như một sự xúc phạm tiền nhân, xúc phạm vào truyền thống văn hóa dân tộc. Điều đó đã khiến Nguyễn Duy Từ gióng lên từ cõi lòng:
Đất nước thế kỷ hai mươi mốt,
Có người đem “Truyện Kiều” sửa đổi.
Giật mình tưởng có thi hào mới,
Giật mình tưởng có kiệt tác mới.
Cụ Nguyễn Du ơi!
Thơ Nguyễn Duy Từ tứa ra từ nỗi đau, nỗi nhớ, nỗi buồn ẩn trong tận từng con hồng cầu. Anh nhớ mẹ, hình ảnh người mẹ xuất hiện nhiều trong tập thơ, nhưng có lẽ vẫn là chưa đủ. Anh nhớ những chiều đông giá buốt khi đang học Sư phạm một Hà Nội, chợt nhớ mùi rơm rạ, bụi môn, bó củi, con heo,... ở quê nhà của một thời chưa xa, qua bài “Tiếng thở đêm”:
Hãy bỏ ta đi cơn mỏi.
Mai có còn tiếng bước chân rối rít, líu ríu dạ thưa thăm thẳm nỗi
niềm, mẹ móm mém miệng cười tươi màu hồng trầu cau, mẹ rằng
đau trông được thấy dâu con, rau muống rau khoai tương cà mắm
muối ngon như lát bánh chiều ba mươi.
“Tiếng thở đêm” hay chính là lời thao thức của một kẻ ly hương đang độc thoại trong kí ức, độc thoại cùng những âm thanh thánh thót của tiếng chuông, những âm hưởng của nền văn minh bao cấp còn kẹt lại trong góc khuất thị thành, hay chính là gợi tưởng về một người em hiến tặng giọt lệ được nhà thơ thi vị hóa thành giọt mưa.
Đêm dài.
Có tiếng chuông ngân đâu đây nhỉ? Hay tiếng leng keng tàu điện
Bờ Hồ về Cầu Giấy, Hà Đông, Đồng Xuân, Mơ, Bưởi… Hôm ấy em
tặng tôi một giọt mưa, và nói rằng anh đưa ướp vào trang sách phố
Tràng Tiền, Đinh Lễ để về quê mãi nhớ tấm lòng em.
“Tiếng thở đêm” là cách diễn đạt thơ theo lối viết văn xuôi, nhưng âm hưởng bài thơ rất nhẹ, đưa người đọc trở về cùng những kí ức của làng quê, của phố thị thời người ta tặng nhau “một giọt mưa”, cái thời lãng mạn siêu hiện thực đó bây giờ tìm đâu ra. Cái thời vật chất chưa lên ngôi thống trị những tâm hồn gọi là trí thức như bây giờ.
Tập “Viết ở Tử Cấm Thành” là tập thơ đầu tiên của tiến sĩ Nguyễn Duy Tờ, tập thơ chuyên chở một nội hàm sâu sắc, cảnh báo về sự xuống cấp của con người, của xã hội. Qua đó, anh đã gửi gắm tình cảm của mình với vùng đất anh đã ngang qua như Hà Nội, Huế, Nha Trang, Pleiku, Cần Thơ,... và những người thân đã đồng hành cùng anh trong mỗi chặng đường, để rồi người còn, người mất, nhưng nghĩa tình luôn đọng lại trong “Vũ điệu Tử Cấm Thành”:
Tử Cấm Thành
Một chiều thu ta gặp
Ngọn gió xưa thủ thỉ gọi trời xanh
Tiếng gót chân khẽ chạm lạnh sân rồng.
H.D.L
(TCSH328/06-2016)
Tải mã QRCode
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO (Đọc tập thơ ''Độc thoại trước mặt trời'' của Trần Lan Vinh- NXB Văn học Hà Nội- 2003)Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, sự thiếu vắng những cây bút nữ đã trở thành một vấn đề cần được chú trọng. Hầu như mỗi khi phụ nữ cầm bút, điều họ quan tâm nhất đó là sự giải bày tâm sự với ngàn ngàn nỗi niềm trắc ẩn. Nếu viết là một cách để sẻ chia tâm sự thì Trần Lan Vinh là một trường hợp như thế.
NGUYỄN THANH TÚMùa đông năm ngoái, anh Đoàn Tuấn từ Hà Nội vào Huế giảng dạy lớp đạo diễn điện ảnh. Dù công việc khá bận rộn nhưng anh vẫn dành cho tôi không ít thời gian tâm sự, bởi ngoài tình cảm thân thiết anh còn là cấp trên của tôi ở toà soạn tạp chí Thế Giới Điện Ảnh. Trong những lần trò chuyện ấy, tôi thật sự bất ngờ khi nghe anh kể chuyện về cuốn sách anh sắp in ở Nhà xuất bản Trẻ mà nội dung của nó là câu hỏi hơn 20 năm nay vẫn luôn canh cánh trong tôi. Vốn dĩ Đoàn Tuấn là nhà biên kịch điện ảnh tên tuổi, anh đã có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như: Chiếc chìa khoá vàng (1998), Ngõ đàn bà (1992), Đường thư (2003)...
MAI VĂN HOANNguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng. Qua các tập Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007) ta bắt gặp những suy ngẫm của anh đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm của anh về đời sống xã hội, nhân tình thế thái. Những chiêm nghiệm và suy ngẫm đó được thể hiện bằng một giọng thơ trầm tĩnh, bình dị, sâu lắng và khá hiện đại.
NGUYỄN QUANG HÀ (Đọc Nỗi niềm để ngỏ của Lê Lâm Ứng - Nhà xuất bản Văn học 2002)Đọc thơ Lê Lâm Ứng để tìm những câu mượt mà thì hơi khó. Thảng hoặc lắm mới bắt gặp ở anh tâm trạng thư thái này: Biết rằng trong cõi nhớ thương Lạc nhau âu cũng lẽ thường vậy thôi
MAI VĂN HOANNguyễn Đắc Xuân không chỉ có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam mà anh còn là hội viên Hội Lịch sử Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Nhưng dù ở cương vị nào thì điều mà anh tâm huyết nhất vẫn là lịch sử và văn hóa Huế.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG (Nhân đọc sách "Gió về Tùng Môn Trang" của Nguyễn Xuân Dũng)Tác giả cuốn sách này là một võ sư đệ bát đẳng huyền đai thuộc phái không thủ đạo, vừa là một nhà hoạt động thương trường nổi tiếng ở Mỹ. Nhưng cuốn sách này không hề bàn đến chuyện đấm đá hơn kém hoặc là chuyện mua bán lời lỗ mà bàn về cái TÂM. Tác giả tỏ ra hết sức chú trọng vũ đạo; nhất cử nhất động đều phải xuất phát từ cái TÂM, cái TÂM viết hoa.
TRẦN THUỲ MAI (Đọc Uẩn khúc, tiểu thuyết của Hoàng Văn Bàng, NXB Thuận Hoá 2002)Câu chuyện xảy ra ở một vùng quê không xa lắm, với một tầm mức tai hại không lớn, gây một ảnh hưởng mới xem qua tưởng chừng không đáng kể. Một ông trưởng phòng ở huyện tham ô vài chục triệu thì đã thấm gì so với những câu chuyện động trời hàng ngày trên các báo, mà thủ phạm mang những chức tước lớn lao hơn, với những số tiền khổng lồ tới hàng nghìn tỉ!
MAI VĂN HOAN (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!
PHẠM XUÂN NGUYÊNCùng một kiếp bên trời lận đận (Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng xưa xanh lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).
TÔ VĨNH HÀNhững trang viết sau cùng của một con người luôn luôn là điều thiêng liêng và không bao giờ hết bí ẩn. Vì sao lại dùng từ ấy chứ không phải là chữ kia; đề cập đến cái này chứ không phải là cái khác..? Rất nhiều câu hỏi sẽ đến với người đọc khi trước mắt ta là những ý tưởng hiện hữu sau cùng của một đời người - đặc biệt ở con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái tên mà mỗi người Việt lúc đọc hay nói, không chỉ diễn đạt một quan niệm gần như vô hạn của nhận thức, mà hơn nhiều thế nữa - là âm sắc tuyệt vời của sự kết tụ những tinh hoa quý giá nhất của trái tim mình.
NGUYỄN TỐNGQuê hương đất nước và con người luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong suốt chiều dày của lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó tự nhiên chan hoà đến mức như cá bơi quẫy giữa đại dương, chim tung cánh vô tư giữa bầu trời bát ngát. Đến lúc nào đó, khi con người rơi vào cảnh cá chậu chim lồng, tình cảm, ý thức về đất nước thiêng liêng mới trở nên ám ảnh day dứt.
NGUYỄN KHẮC PHÊ (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.
Nhà văn Nguyễn Quang Hà tâm sự với tôi rằng anh có hai món nợ rất lớn mà chắc đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Gần bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 9 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo cũng chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.
XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.
Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.
HUỲNH HẠ NGUYÊN (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...
LÊ MỸ Ý (L.M.Y): Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.
Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.
NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.
NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".