Cách đặt tên kép của vua Minh Mạng cho con cháu trong hoàng tộc

16:32 07/05/2013

NGUYỄN HỒNG TRÂN

Vua Minh Mạng (tên hoàng tử là Nguyễn Phúc Đảm) lên làm vua năm Canh Thìn (1820). Ông là một vị vua có tri thức uyên thâm, biết nhìn xa thấy rộng.

Khi lên làm vua, ông biết lo lắng nhiều việc: lo xây dựng chính trị, phát triển giáo dục, văn hóa xã hội v.v... chắc là ông rất tâm đắc câu phương châm mà người xưa thường nói: “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Nghĩa là muốn cho dân chúng yên ổn, làm ăn phát đạt thì phải lo điều hành cai quản nhà nước thật nghiêm minh, chặt chẽ. Nhưng muốn vậy thì trước tiên phải lo dàn xếp nội bộ gia tộc được êm thấm theo khuôn phép rõ ràng.

Minh Mạng cũng đã biết từ nhiều đời vua trước đây ở trong nước và nước ngoài do việc tề gia không tốt nên đã sinh ra tranh chấp quyền hành trong nội bộ hoàng gia dẫn đến ngai vàng bị sụp đổ, triều đình nát tan. Vì thế, ông lo lắng cho cơ nghiệp nhà Nguyễn. Nếu không tìm cách tề gia cho nghiêm chỉnh thì cũng dẫn đến số phận như thế thôi. Cho nên Minh Mạng đã nghĩ ra nhiều cách để duy trì đế nghiệp của mình và con cháu kế tục lâu dài về sau. Trong đó có một cách mang đậm sắc thái văn hóa, tâm lý xã hội. Đó là cách đặt tên kép. Nghĩa là bên cạnh tên chính, phải ghép thêm một tên phía trước theo phân định bắt buộc để biết vị trí, thứ lớp của mình trong hàng ngũ của hoàng tộc. Nhưng trình bày việc đó như thế nào cho tế nhị với các hoàng tử anh em để họ dễ chấp thuận là việc không dễ dàng. Minh Mạng biết rằng anh em mình ai cũng yêu thích thơ văn nên ông bèn nghĩ ra cách tạo ra những bài thơ có ý nghĩa xã hội - nhân văn thâm thúy. Nhà vua đã sáng tác ra 11 bài thơ kiểu “ngũ ngôn, tứ cú” để dễ đọc, dễ nhớ. Trong đó có một bài gọi là “Đế hệ thi” và 10 bài gọi là “Phiên hệ thi”.

Bài “Đế hệ thi” dùng để đặt tên kép cho các con cháu nội nhà vua từ vua Thiệu Trị trở về sau theo thứ tự với các chữ trong bài thơ. Đó là:

Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh.
Bảo Quý Định Long Trường.
Hiền Năng Kham Kế Thuật.
Thế Thoại Quốc Gia Xương


Bài thơ này trong Thế tộc phả Nguyễn Phước đã dịch nội dung ý nghĩa thành thơ như sau:

Huấn nghiệp lớn do Tổ Tiên gầy dựng
Gắng giữ gìn cho xứng ân sâu
Phồn vinh thịnh đạt dài lâu
Anh tài hiền đức cùng nhau bảo toàn
Đời đời nối nghiệp tiền nhân
Nước nhà hưng thịnh muôn phần phát huy.


Bài thơ này gồm 20 chữ. Từ chữ đầu tiên cho đến chữ cuối cùng, mỗi chữ có một ý nghĩa sâu xa. Người ta đã truyền lại lời giải thích của vua Minh Mạng theo từng chữ thành câu thơ như sau:

1.MIÊN: Trường cửu phước duyên trên hết.
2.HƯỜNG: Oai hùng đúc kết thế gia.
3.ƯNG: Nên danh xây dựng sơn hà.
4.BỬU: Bối báu lợi tha quần chúng.
5.VĨNH: Bền chí hùng anh ca tụng.
6.BẢO: Ôm lòng khí dũng bình sanh
7.QUÝ: Cao sang vinh hạnh công thành.
8.ĐỊNH: Tiên quyết thi hành oanh liệt
9.LONG: Vương tướng rồng tiên nối nghiệp.
10.TRƯỜNG: Vĩnh cửu nối tiếp giống nòi.
11.HIỀN: Tài đức phúc ấm sáng soi.
12.NĂNG: Gương nơi khuôn phép bờ cõi.
13.KHAM: Đảm đương mọi cơ cấu giỏi
14.KẾ: Hoạch sách mây khói cân phân.
15.THUẬT: Biên chép lời đúng ý dân.
16.THẾ: Mãi thọ cận thân gia tộc.
17.THOẠI: Ngọc quí tha hồ phước lộc.
18.QUỐC: Dân phục nằm gốc giang san.
19.GIA: Muôn nhà Nguyễn vẫn huy hoàng
20.XƯƠNG: Phồn thịnh bình an thiên hạ.


Khi đặt tên kép cho cháu chắt của vua Minh Mạng thì cứ lấy tên chính của người đó ghép với một chữ trong bài thơ “Đế hệ thi” theo thứ tự từng đời từ cao xuống thấp, mỗi đời một chữ. Khi có tên kép rồi thì có thể không cần ghi họ (họ coi như được ẩn) người ta vẫn hiểu đó là thuộc họ tộc Nguyễn Phước. Thí dụ: Miên Tông là vua Thiệu Trị (con vua Minh Mạng). Ghi đầy đủ là Nguyễn Phước Miên Tông; Vua Tự Đức là Hường Nhậm (Hường hoặc Hồng đều như nhau), là con vua Thiệu Trị; Ưng Chân là vua Dục Đức (con nuôi của vua Tự Đức, con đẻ của Nguyễn Phước Hồng Y); Bửu Lân là vua Thành Thái, con vua Dục Đức, tức NP. Ưng Chân); Vĩnh Thụy là vua Bảo Đại (con vua Khải Định tức là NP Bửu Đảo).

Những người không làm vua nhưng thuộc dòng đế hệ của vua Minh Mạng cũng được đặt tên kép (theo hàng từng đời, từng chữ) và được ẩn họ như thế. Thí dụ: Nhà thơ Ưng Bình (hiệu Thúc Dạ Thị) là con cụ Nguyễn Phúc Hồng Thiết, cháu nội cụ Nguyễn Phúc Miên Trinh (Nhà thơ Túy Lý Vương). Nhà Hán học: Vĩnh Cao là con cụ Bửu Kế.

Như vậy bài “Đế hệ thi” của vua Minh Mạng chỉ mới thực dụng được câu đầu tiên “Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh” thì đã hết chế độ nhà vua ở Việt Nam. Tuy vậy, sự ảnh hưởng của tục lệ này khá đậm nét ở Huế nên trong thực tế xã hội hiện nay vẫn còn nhiều người ở thế hệ sau của Hoàng tộc Minh Mạng vẫn thích đặt tên kép để kỷ niệm nguồn gốc tổ tông là con cháu nội nhà vua nhưng vẫn kèm theo họ Nguyễn Phước.

Theo Thế phả của Nguyễn Phước tộc có ghi thêm rằng:

“Bài Đế hệ thi được khắc trong một cuốn sách bằng vàng (kim sách), cất trong hòm vàng (kim quỹ) để lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; Các bài Phiên hệ thi cũng được khắc trong các cuốn sách bằng bạc. Có tư liệu cho rằng tới thời Vua Tự Ðức, chúng đã bị nấu ra để trả nợ chiến phí bốn triệu đồng cho Pháp và Tây Ban Nha theo Hiệp ước Nhâm Tuất (1862). Không ai biết sự thật ra sao, vì đến lúc Ngài Bảo Ðại - vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn thoái vị, các loại kim sách này đã không còn nữa.

Nói chung, con cháu các hệ Chánh từ vua Minh Mạng trở về sau, kể cả các Phòng thuộc hệ Chánh, đều đặt họ tên kép theo cách nói trên”.

Ngoài ra, Minh Mạng còn quy định cách viết chữ Hán theo từng bộ đi kèm với mỗi chữ trong bài Đế hệ thi là một bộ Ngự Chế Mạng Danh Thi:

Miên (có bộ miên chữ Hán), Hồng (bộ nhân), Ưng (bộ thị), Bửu (bộ sơn), Vĩnh (bộ ngọc), Bảo (bộ phụ), Quý (bộ nhân), Định (bộ ngôn), Long (bộ thủ), Trường (bộ hòa),

Hiền (bộ bối), Năng (bộ lực), Kham (bộ thủ), Kế (bộ ngôn), Thuật (bộ tâm),

Thế (bộ ngọc), Thoại (bộ thạch), Quốc (bộ đại), Gia (bộ hòa), Xương (bộ tiểu),


Nghĩa là anh em ruột của vua phải đặt tên có cùng một bộ:

Ví dụ: Vua Thiệu Trị, có chữ lót là Miên, và tên là Tông (thuộc bộ “miên”: (宀) và tất cả các anh em của Vua Thiệu Trị cũng đều phải có tên chữ Hán có bộ Miên như thế cả, còn các con của vua Thiệu Trị thì tên đặt theo chữ Hán phải có bộ “nhân” (亻), con kế ngôi của vua Thiệu Trị là vua Tự Đức (Hồng Nhậm) có bộ nhân (亻) trong tên chữ Hán, nhưng con của các vị Hoàng Tử anh em ruột của vua Thiệu Trị thì phải đặt tên không được có bộ nhân (亻), trừ con vua Thiệu Trị).

Bài “Phiên hệ thi” là gồm 10 bài thơ dùng đặt tên kép cho các con cháu những ông hoàng anh em với vua Minh Mạng (vua Gia Long có 13 người con, 2 người con cả và con thứ mất sớm, người con thứ 3 được phong là Hoàng Thái tử, nhưng về sau do sức khỏe yếu nên không thay vua cha lên ngôi vua được. Vì vậy, vua Minh Mạng là con thứ 4 được chọn lên ngôi vua, nên còn lại 10 anh em. Do đó, Minh Mạng đặt 10 bài thơ ngũ ngôn tứ cú. Mỗi bài tặng cho mỗi ông để buộc con cháu phải đặt tên kép theo quy định thứ tự các đời như các chữ kế tiếp nhau trong từng bài thơ.

Bài 1: Tặng cho TĂNG DUỆ (Hoàng tử thứ 3 - Anh Duệ hệ)
Mỹ Duệ Anh Cường Tráng.
Liên Huy Phát Bội Hương.
Linh Nghi Hàm Tốn Thuận.
Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang.


Bài 2: Tặng KIẾN AN VƯƠNG (hoàng tử thứ 5) (Kiến An hệ)
Lương Kiến Ninh Hòa Thuật.
Du Hành Suất Nghĩa Phương.
Dưỡng Di Tương Thực Hảo.
Cao Túc Thể Vy Tường.


Bài 3: Tặng ĐỊNH VIỄN QUẬN VƯƠNG (Hoàng tử thứ 6 - Định Viễn hệ)
Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái.
Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha.
Nghiễm Cách Do Trung Đạt.
Liên Trung Tập Cát Đa.


Bài 4: Tặng DIÊN KHÁNH VƯƠNG (Hoàng tử thứ 7 - Diên Khánh hệ).
Diên Hội Phong Hạnh Hiệp.
Trọng Phùng Tuấn Lãng Nghi.
Hậu Lưu Thành Tứ Diệu.
Diễm Khánh Thích Phương Huy.


Bài 5: Tặng ĐIỆN BÀN CÔNG (Hoàng tử thứ 8 - Điện Bàn hệ).
Tín Điện Tự Duy Chánh.
Thành Tồn Lợi Thỏa Trinh.
Túc Cung Thừa Hữu Nghị.
Vinh Hiển Tập Khanh Danh.


Bài 6: Tặng THIỆU HÓA QUẬN VƯƠNG (Hoàng tử thứ 9 - Thiệu Hóa hệ).
Thiên Thiệu Kỷ Tuần Lý.
Văn Tri Tại Mẫn Du.
Ngưng Lân Tài Chế Lạc.
Địch Đạo Doãn Phu Hưu.


Bài 7: Tặng QUẢNG OAI CÔNG (Hoàng tử thứ 10 - Quản Oai hệ).
Phụng Phù Trung Khải Quảng
Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ.
Điển Học Kỳ Gia Chí.
Đôn Di Khắc Tự Trì.


Bài 8: Tặng THƯỜNG TÍN QUẬN CÔNG (Hoàng tử thứ 11 - Thường Tín hệ)
Thường Cát Tuân Gia Huấn.
Lẫm Trang Túy Thạnh Cung.
Thận Tu Di Tấn Đức.
Thọ Ích Mậu Tân Công.


Bài 9: Tặng AN KHÁNH VƯƠNG (Hoàng tử thứ 12-An Khánh hệ).
Khâm Tùng Xưng Ý Phạm.
Nhã Chánh Thủy Hoằng Quy.
Khải Đế Đằng Cần Dự.
Quyến Ninh Đặng Tập Hy.


Bài 10: Tặng TỪ SƠN CÔNG (Hoàng tử thứ 13 - Từ Sơn hệ).
Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm.
Phu Văn Ái Diệu Dương.
Bách Chi Quân Phụ Dực.
Vạn Diệp Hiệu Khuôn Tương.


Từ khi có quy định của vua Minh Mạng về việc đặt tên kép theo “Đế hệ thi” hay “Phiên hệ thi” thì người đặt tên đều có thể chỉ ghi theo tên kép mà không ghi họ cũng được (ẩn họ). Chính nhờ đó mà người ta dễ nhận ra con cháu của Minh Mạng.

Việc đặt tên kép theo 10 bài thơ trong “Phiên hệ thi” như trên với 200 chữ thì bà con nội thân nhà Nguyễn cũng khó nhớ để biết chính xác người mang tên kép có đúng là con cháu của các ông Hoàng trong phiên hệ hay không? Tuy vậy, người ta cũng có cách để tìm ra gốc tích thuộc dòng chi nào, phòng nào trong phiên hệ. Đương nhiên trước hết là người mang tên kép đó phải có gốc là họ tộc Nguyễn Phước (hay Phúc cũng như nhau). Đối với các con cháu trai của các ông Hoàng anh em vua Minh Mạng thì phần lớn lấy họ Tôn Thất.

“Họ” Tôn Thất bắt đầu xuất hiện từ năm 1822. “Họ” này áp dụng cho con cháu của anh em vua Minh Mạng; khi đặt có thêm chữ lót theo thế thứ của bài phiên hệ thi dành cho dòng họ mình.

Ví dụ: ông Tôn Thất Cường Để (thường gọi giản lược là Cường Để) là dòng dõi con trưởng vua Gia Long (Hoàng tử Cảnh); ông Tôn Thất Dương Kỵ là dòng dõi con thứ 13 của vua Gia Long là Hoàng tử Từ Sơn. Mặt khác, phải xem tên kép của đời cha, ông cũng phải phù hợp với thứ tự các từ đã được đặt ra trong từng phiên hệ. Thí dụ: Ông Tôn Thất Viễn Bào (GV. Môn tiếng Anh, Trường ĐH Ngoại ngữ Huế) đúng là người thuộc phòng Định Viễn Quận Vương. Bởi vì ông Viễn Bào là con cụ Chiêm Tấn; GS.TSKH. Nguyễn Viễn Thọ là con của cụ Nguyễn Phước Chiêm Tế.

Thực ra 10 bài thơ của “Phiên hệ thi” có một số chữ vua Minh Mạng đã dùng lúc đầu có khác với sau này (như đã ghi ở trên). Về sau vì do một số chữ bị phạm húy nên đã thay đổi lại. Gồm có 11 chữ thay đổi như sau (chữ trong ngoặc đơn là chữ gốc lúc đầu): Kiến (Cẩn), Ninh (An), Trọng (Nguyên), Tuấn (Thái), Thỏa (Kiến), Kỳ (Thuần), Du (Cầu), Cát (Hổ), Tòng (Hoa), Dương (Hoàng), Quân (Giai).

Vấn đề đặt tên kép của vua Minh Mạng còn nhiều ý nghĩa sâu sắc, thâm nho lắm. Chúng tôi không thể giải bày thêm nhiều nữa. Hy vọng rằng những điều đó được nêu ra ở trên có thể giúp cho bạn đọc phần nào hiểu được về cách đặt tên kép ngày xưa của vua Minh Mạng.

Ngoài việc đặt tên kép cho con cháu trai của Hoàng tộc như quy định theo 11 bài thơ trên thì cũng có quy định đặt tên kép cho con cháu chắt gái theo cách riêng.

Đối với nữ, việc đặt chữ lót khác hẳn. Trước tên kép của từng người thì phải thêm các tên lót theo quy định là: đối con gái của vua gọi là Công chúa đi đôi với tên kép. Ví dụ như Công chúa An Đông, Công chúa Ngọc Tây... Cháu gái nội của vua lấy chữ lót trước tên kép là Công Nữ, chắt gái nội của vua thì chữ lót trước tên kép là Công Tôn Nữ; tiếp tục các cháu chắt những đời sau với các chữ lót trước tên kép lần lượt là: Công Tằng Tôn Nữ (thuộc cháu 4 đời), Công Huyền Tôn Nữ (thuộc cháu 5 đời), Lai Huyền Tôn Nữ” (thuộc cháu 6 đời).

------------
Lưu ý: Có tài liệu đã nói rằng 11 bài thơ này không phải chính vua Minh Mạng sáng tác, mà là Đông các học sĩ Đinh Hồng Phiên (người quê ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), có tài liệu ghi là Nguyễn Đình Phiên là tác giả của 11 bài thơ ấy. Chuyện này tôi cho rằng đây là một sự ngộ nhận của ai đó mà thôi, chưa có tài liệu thật chính xác để khẳng định điều đó. Vì vua Minh Mạng là một ông vua sành thơ và cũng thông thái chữ Hán, không lẽ nào nhà vua không sáng tác được bài “Đệ hệ thi” và “Phiên hệ thi” hay sao mà lại nhờ người khác sáng tác rồi lấy tên cho mình? Thật là vô lý!

Theo tôi nghĩ rằng 11 bài thơ ấy là do vua Minh Mạng đưa ra nội dung, mục đích, ý tưởng và giao cho một vị quan chịu trách nhiệm soạn thảo ra rồi trình lên nhà vua xem xét, sửa đổi cho hoàn chỉnh rồi mới chính thức ban hành để làm Ngọc phả Hoàng tộc nhà Nguyễn.

Năm Minh Mạng thứ nhất, ngày 20 tháng 11 năm 1820, Nguyễn Đình Phiên đã tâu lên vua Minh Mạng: “Bề tôi Đông các học sĩ Nguyễn Đình Phiên cúi đầu, rập đầu trăm lạy kính tâu về việc: Nay kính vâng chủ kiếm soạn các chữ trong Ngọc Phổ. Hãy kính đấy. Kính cẩn xếp thành 11 bài 4 câu 20 chữ, tổng cộng 220 chữ. Kính cẩn trình bày theo thứ tự. Kính chờ Thánh thượng xét đoán” (bản dịch từ chữ Hán, Châu bản triều Nguyễn, tờ 223 đến 235).

Bài “Đế hệ thi”, Đinh Hồng Phiên viết:

Miên hồng khai bửu tộ
Bảo định ứng trinh tường
Toản tự di nhân viễn
Gia hy tích dận trường
.

Đọc bài thảo, vua Minh Mạng ban đầu sửa chữ Khai thành chữ Ưng. Câu thứ hai vua sửa lại là Long quý định bảo trường. Câu ba, Toản tự di nhân viễn, vua sửa lại là Hiền năng kham kế thuật. Câu bốn: các chữ hy tích dận trường vua sửa thành Thụy Quốc gia xương. Rồi vua lại sửa câu bốn một lần nữa, thành Thế Thọ Quốc Gia Xương. Sau đó vua chỉnh lại Thế Thụy. Rồi vua tham khảo ý kiến anh em mình và các trí thức trong triều, một lần sửa nữa mới chính thức thành: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh/ Bảo Quý Định Long Trường/ Hiền Năng Kham Kế Thuật / Thế Thụy Quốc Gia Xương.

Như vậy chúng ta cũng đủ hiểu rằng bài “Đế hệ thi” không phải là hoàn toàn do Đinh Hồng Phiên sáng tác.

Có lẽ vì người hậu duệ của cụ Phiên là ông Đinh Văn Niêm đọc một tài liệu chữ Hán lưu trữ tại thư viện Quốc gia Việt Nam có ghi bút tích của cụ Phiên nói rằng cụ viết bài “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi” để làm kim sách cho nhà vua.

Bởi vì cụ Phiên là người văn hay chữ đẹp nên vua Minh Mạng mới sai lo việc soạn thảo để nhà vua xem xét sửa chữa rồi mới chính thức ban hành, chứ không do cụ Đinh Hồng Phiên sáng tác hoàn toàn 11 bài thơ đó. Thế nhưng báo Văn hóa Nghệ An cũng như một số bài viết trên báo chí đã có người vội vàng đưa lên bài “Tìm lại tác giả bài “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi”.

Nội dung bài đó nói rằng bài “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi” là của tác giả Đinh Hồng Phiên người Nghệ An. Một số cứ liệu nêu ra trong bài đó là không chứng minh được là cụ Phiên là tác giả độc nhất của 11 bài thơ đó. Chắc cụ Phiên ở thế giới âm cũng phải chạy đến và lạy vua Minh Mạng mà tạ lỗi đã phạm Thượng vì để cho lớp hậu duệ tâng bốc mình quá đáng!...

N.H.T
(SDB8/3-13)


Tài liệu tham khảo:

1.Nguyễn Phước Tộc Thế phả. Nxb Thuận Hóa, Huế 1995.
2.Niên biểu lịch sử Việt Nam. Nxb. Văn hóa Thông tin. Hà Nội 1999.
3.Kim sách và ngân sách triều Nguyễn Tg: Tôn Thất Thọ (Đã đăng trên X&N số 342 - tháng 10/2009 ký là Tôn Châu Quân) 4. “Nghiên cứu Huế” do Nguyễn Hữu Châu Phan chủ biên, tập 8, do Nxb. Thuận Hóa ấn hành, QI/ 2012.








 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP...Nguyễn Huy Thiệp không phải là người duy nhất đổi mới phương thức trần thuật. Trước ông đã có Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng... tích cực mở đường. Nhưng phải đến Nguyễn Huy Thiệp thì sự khai phóng về tư tưởng nghệ thuật mới được thể hiện một cách đậm nét. Tất cả được Nguyễn Huy Thiệp kiến tạo qua một trò chơi đầy tính bất ngờ. Giống như người nghệ sĩ ba lê tài năng, Nguyễn Huy Thiệp trình diễn một thế giới đa sắc trên đầu những đầu mũi ngón chân. Những ngón chân ấy bám trụ vào hiện thực một cách tinh diệu, xoay chuyển một cách nhịp nhàng với những vòng quay, những vũ điệu ngôn từ...

  • PHAN NGỌC THUTrong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, Xuân Diệu (1916-1985) là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất, đồng thời cũng là nhà phê bình văn học kiệt xuất. Từ những bài tranh luận văn học sôi nổi thời Thơ Mới (1932-1945) đến Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958); từ Phê bình giới thiệu thơ (1960) đến Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập I (1981), tập II (1982) và Công việc làm thơ (1984)... "chỉ tính riêng các tác phẩm lý luận phê bình, đã có thể gọi Xuân Diệu là một đại gia"(1)

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v..v...

  • HÀ KHÁNH CHINgày 20 - 3 - 2003, siêu cường lớn nhất mọi thời đại là đế quốc Hoa Kỳ đã mở đầu cuộc chiến tranh kỳ quái nhất trong lịch sử bằng cách tấn công Iraq sau khi đã bắt quốc gia này phải tự phá huỷ vũ khí tự vệ của chính họ. Đó là bài học chưa hề thấy về chút hy vọng cuối cùng mà lương tri nhân loại có thể đòi hỏi. Để có thể hiểu rõ hơn những gì đang xảy ra hôm nay - có lẽ cũng rất cần ôn lại một trong những vấn đề lớn nhất mà loài người có thể nghĩ tới: cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây gần 30 năm.

  • HOÀNG ĐĂNG KHOA Văn học Việt từ sau 1975, nhất là từ thời kỳ đổi mới, là một quá trình văn học rất phong phú, đa dạng và không ít phức tạp, lại còn đang tiếp diễn. Cuốn sách Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy ra đời đáp ứng nhu cầu mang tính thời sự: nhu cầu nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về tiến trình văn học ba mươi năm qua, chuẩn bị cho sự ra đời của những công trình văn học sử và những chuyên khảo về giai đoạn văn học này.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrong đời có những bài thơ người ta quên, mà chỉ nhớ một câu nằm lòng. Bởi đó là những câu thơ thực sự, những câu thơ thi sĩ. Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về thơ: Thơ là tiếng hát của trái tim; Thơ là hạt muối kết tinh của tình cảm; Thơ là phút giây rung động của tâm hồn... Nói chung, những định nghĩa ấy cho ta hiểu rằng ở đâu có được sự rung động của trái tim thì ở đó có thơ.

  • ĐỖ LAI THUÝPhê bình văn học Việt Nam, sau sự khởi nguồn của Thiếu Sơn với Phê bình và Cảo luận (1933) chia thành hai ngả. Một xuất phát từ Phê bình để trở thành lối phê bình chủ quan ấn tượng với Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (1942). Lối kia bắt nguồn từ Cảo luận tạo nên phê bình khách quan khoa học với Vũ Ngọc Phan của Nhà văn hiện đại (1942), Trần Thanh Mai của Hàn Mặc Tử (1941), Trương Tửu của Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1945). Sự phân chia này, dĩ nhiên, không phải là hành chính, mà là khoa học, tức sự phân giới dựa trên những yếu tố chủ đạo, nên không phải là không thể vượt biên. Bởi, mọi biên giới đều mơ hồ hơn ta tưởng, nhất là ở khoa học văn chương.

  • LTS: Marcel Reich-Ranicki, sinh năm 1920, người ở Đức được mệnh danh là "Giáo hoàng văn học", là nhà phê bình văn học đương đại quan trọng nhất của CHLB Đức. "Một lời biện hộ cho thơ" là bài thuyết trình đọc vào ngày 30.11.1980 nhân dịp ra mắt Tập 5 của "Tuyển thơ Frankfurt" trong khuôn khổ chuyên mục thơ của nhật báo "Frankfurter Allgemeine Zeitung" (FAZ) mà tác giả là chủ biên phần văn học từ 1973 đến 1988.Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài "Một lời biện hộ cho thơ" của ông sau đây do dịch giả Trương Hồng Quang thực hiện.

  • TRẦN HUYỀN SÂMGeorge Sand (1804-1876) là một gương mặt độc đáo trên văn đàn Pháp thế kỷ XIX. Cùng thời với những cây bút nổi tiếng như: A.Lamartine, V.Hugo, A.Vigny, A.Musset... nữ sĩ vẫn tạo cho mình một tầm vóc riêng không chìm khuất. George Sand bước vào thế giới nghệ thuật bằng một thái độ tự tin và một khát vọng sáng tạo mãnh liệt. Với hơn hai mươi cuốn tiểu thuyết đồ sộ, G.Sand đã trở thành một tên tuổi lừng danh ngay từ đương thời. Dĩ nhiên, bà lừng danh còn bởi nhiều mối tình bất tử, trong đó có nhà thơ Pháp nổi tiếng A.Musset và nhạc sĩ thiên tài Chopin người Ba Lan.

  • PHẠM QUANG TRUNGCó lần, dăm ba người có thiên hướng lý luận chúng tôi gặp nhau, một câu hỏi có thể nói là quan thiết được nêu ra: trong quan niệm văn chương, e ngại nhất là thiên hướng nào? Rất mừng là ý kiến khá thống nhất, tuy phải trải qua tranh biện, không đến nỗi quyết liệt, cũng không phải hoàn toàn xuôi chiều hẳn. Có lẽ thế mới hay!

  • NGUYỄN HỮU HỒNG MINH1- "Thơ trẻ- Những giá trị mới" là một "mưu mô" của nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn và nhóm "Văn nghệ mới" (bao gồm Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Vĩnh Tiến, Dạ Thảo Phương... và một số người khác) dự tính tập hợp, tuyển chọn 1 tuyển thơ của 10 (hay nhiều hơn) tác giả trẻ từ 30 tuổi trở xuống, xuất hiện trong vòng 3 năm cuối cùng của thế kỉ để trình làng giới thiệu chân dung thế hệ mình.

  • NGUYỄN HOÀN Trịnh Công Sơn là một hiện tượng độc đáo của âm nhạc và văn hoá Việt Nam được ái mộ không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Vì thế mà từ khi ông qua đời đến nay đã có trên chục đầu sách viết về ông, một số lượng hiếm thấy đối với các nhạc sĩ khác. Gần đây có cuốn “Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng” của Ban Mai do Nhà xuất bản Lao Động, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2008. Với niềm ngưỡng mộ tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi đã hăm hở tìm đọc cuốn sách mới này nhưng tiếc thay, chưa kịp trọn nỗi mừng đã phải thất vọng về những trang viết đánh giá đầy sai lệch và thiếu sót, phiến diện về Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam.

  • HOÀNG QUỐC HẢIThơ Lý - Trần có mạch nguồn từ Đinh - Lê, nếu không muốn nói trước nữa. Rất tiếc, nguồn tư liệu còn lại cho chúng ta khảo cứu quá nghèo nàn.Nghèo nàn, nhưng cũng đủ tạm cho ta soi chiếu lại tư tưởng của tổ tiên ta từ cả ngàn năm trước.

  • NGUYỄN VĂN THUẤN          (Nhóm nghiên cứu - lý luận phê bình trẻ)Thời gian gần đây, tại Việt , các tác phẩm của nhà văn Nhật Bản H.Murakami thường xuyên được dịch và xuất bản. Là một giọng nói hấp dẫn trên văn đàn thế giới, sáng tác của ông thu hút đông đảo công chúng và dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình. Một trong những tiểu thuyết làm nên danh tiếng của ông là Rừng Nauy.

  • PHAN TÂMQuê hương Phan Đăng Lưu, xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, cách Kim Liên, Nam Đàn, quê hương Hồ Chí Minh khoảng 60 km.Hai nhân cách lớn của đất Nghệ An. Không hẹn mà gặp, xuất phát từ lương tri dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đến chủ nghĩa Mac - Lê nin, thành hai chiến sĩ cộng sản Việt Nam nổi tiếng.

  • THÁI DOÃN HIỂUNhà thơ Võ Văn Trực thuộc loại tài thì vừa phải nhưng tình thì rất lớn. Chính cái chân tình đó đã giúp anh bù đắp được vào năng lực còn hạn chế và mong manh của mình, vươn lên đạt được những thành tựu mới đóng góp cho kho tàng thi ca hiện đại của dân tộc 4 bài thơ xuất sắc: “Chị, Vĩnh viễn từ nay, Thu về một nửa và Nghĩa địa làng, người ta sẽ còn đọc mãi.

  • HÀ  ÁNH MINHBài thứ nhất, Một cuộc đời "Ngậm ngải tìm trầm" của Vương Trí Nhàn, đăng trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số Xuân Canh Thìn năm 2000, và bài thứ hai "Sư phụ Thanh Tịnh làm báo tết" của Ngô Vĩnh Bình, đăng trên báo Văn Nghệ, số Tết cũng năm Canh Thìn 2000. Bài đầu tiên viết dài, giọng văn trau chuốt điệu nghệ. Bài sau ngắn, mộc mạc.

  • LÊ THỊ HƯỜNGDẫu mượn hình thức của thể kí, dẫu tìm đến vần điệu của thơ, điểm nhất quán trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cái tôi say đắm thiên nhiên. Đằng sau những tài hoa câu chữ là một cái tôi đa cảm - quá chừng là đa cảm - luôn dành cho cỏ dại những tình cảm lớn lao.  

  • BỬU NAM1. Nếu văn xuôi hư cấu (đặc biệt là tiểu thuyết) chiếm vị trí hàng đầu trong bức tranh thể loại của văn học Mỹ - La tinh nửa sau thế kỷ XX, thì thơ ca của lục địa này ở cùng thời gian cũng phát triển phong phú và rực rỡ không kém, nó tiếp tục đà cách tân và những tìm tòi đổi mới của những nhà thơ lớn ở những năm 30 - 40.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP1. Khi chạm vào cơn lốc và những điệu rock thơ mang tên Vi Thuỳ Linh, bất chợt tôi nhớ đến câu thơ dịu dàng và sâu thẳm của Paul Eluard: Trái đất màu xanh như một quả cam. Với P. Eluard, tình yêu là một thế giới tinh khiết, rạng rỡ và ngọt ngào: Đến mức tưởng em khỏa thân trước mặt. Còn Vi Thuỳ Linh, nếu ai hỏi thế giới màu gì, tôi đồ rằng nàng Vi sẽ trả lời tắp lự: Màu yêu.