TRẦN SỬ kể
HOÀNG NHÂN ghi
Chiến tranh du kích ở huyện Hương Thủy trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã diễn ra với nhiều hình thức chiến đấu đầy tính chất sáng tạo của toàn dân.
"O du kích nhỏ" - Ảnh: wiki
Theo lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ, những người nông dân bình thường với tấm lòng yêu nước nồng nàn đã có nhiều sáng kiến sử dụng sức lực và vũ khí thô sơ để giết giặc cứu nước. Năm 1950, xuất hiện chiến thuật đánh "ôm hè", dùng tay không cướp súng địch, diệt địch. Những người nông dân can đảm phục địch đợi địch đến gần, bất ngờ xông ra "ôm" vật địch và đồng thanh hô vang "ôm hè... hè..." để tăng sức mạnh tập thể chiến đấu và làm địch hoảng loạn tinh thần. Từ đó có tên gọi một loại trận đánh chớp nhoáng theo kiểu như vậy là trận đánh "ôm hè" thể hiện tính chất phác và khí phách của nông dân ta.
Người có sáng kiến đầu tiên đưa ra áp dụng chiến thuật đánh “ôm hè” là xã đội trưởng xã Mỹ Thủy, đồng chí Mai Bạch Vân. Anh đã cùng hoạt động với đồng chí Văn Nông, bí thư chi bộ xã, người đã từng chỉ dùng một cái rựa chặt tre để chiến đấu cho đến ngày hy sinh. Từ chiến công giản dị của người bạn chiến đấu mà anh Vân suy nghĩ thêm về chiến thuật đánh du kích cho một tập thể. Thấy quân địch có súng đạn tối tân anh cũng nhận ra một điều quan trọng là cần có súng để đánh địch và thắng địch. Anh Vân đến trực tiếp gặp thường vụ huyện ủy xin được cấp súng để đánh giặc. Đồng chí bí thư huyện ủy đã bàn bạc với anh là hiện nay ta đang còn thiếu nhiều súng đạn, trong lúc địch đóng quân ở huyện ta lại có nhiều kho súng đạn. Địch đóng nhiều đồn bốt rải rác ở các xã thôn. Chúng ta hãy suy nghĩ xem có cách nào biến các kho súng ấy thành của ta để đánh địch?
Trở về xã, sau nhiều đêm suy nghĩ, anh Vân chọn năm du kích có đủ sức khỏe và dũng khí, cử anh Nguyễn Văn Hiếu làm đội trưởng chỉ huy. Anh huấn luyện cho đội các động tác, cách cải trang, cách tiếp xúc với địch, cách đóng vai giả bộ người đi làm ruộng sớm. Anh theo dõi các cuộc hành quân nhỏ của quân địch ở bốt đóng đầu làng để nắm qui luật địch thường đi tuần tra, đi lùng sục vào các xóm thôn vào những buổi nào, giờ nào. Sau một tháng chuẩn bị, anh ra lệnh cho đội du kích năm người đi phục kích một toán tuần tiễu địch hỗn hợp lính Pháp và Bảo an binh. Một sáng chủ nhật toán lính địch ở bót Mỹ Thủy lò dò đi vào làng. Chúng trở về hí hửng đứa thì tay xách gà vịt, đứa thì tay xách buồng chuối, trái thơm vừa cướp được của đồng bào ta. Đợi chúng ra khỏi xóm, đội du kích phát lệnh "ôm hè", từ các bụi cây, ruộng lúa xông ra vật ngã bọn lính và cướp súng. Địch bắn loạn xạ và ba chân bốn cẳng chạy về đồn. Trận đánh thắng lợi giòn giã, ta đoạt được hai súng trường của địch.
![]() |
| Ông Võ Trọng Môn - một trong những người tham gia diệt địch bằng “ôm hè” ở Thủy Châu - Ảnh: huongthuy.thuathienhue.gov.vn |
Học tập kinh nghiệm đội du kích năm người, đồng chí Nguyễn Đình Cận, xã đội trưởng xã Hồng Thủy (nay là xã Thủy Dương) dùng chiến thuật “ôm hè” đã cướp được súng của lính gác cầu An Cựu, tên lính hoảng sợ bỏ chạy về đồn đóng gần Ngoẹo Dàn xay. Chiến tranh du kích ngày càng lan rộng. Địch sử dụng tù binh để xây dựng các chiến lũy bảo vệ cho chúng quanh thành phố Huế. Đồn Sầm là điểm cao nằm cạnh đường xe lửa và quốc lộ 1A cách Huế chừng hai cây số về phía Nam, trên con đường chiến lược nối liền Huế - Đà Nẵng. Một tiểu đội địch đóng chốt ở Đồn Sầm. Ngày 16 tháng 6 năm 1951, địch sử dụng tù binh giam ở nhà lao Thừa Thiên để xây dựng chiến lũy kiên cố Đồn Sầm. Một trung đội lê dương do sĩ quan Pháp chỉ huy, canh gác tù binh, điều khiển xây dựng chiến lũy Đồn Sầm. Chi bộ nhà lao chủ trương vận dụng chiến thuật "ôm hè", đánh để giải thoát tù binh. Chi bộ cử một bộ phận nghiên cứu địa hình khi lao động khổ sai ở hiện trường, quan sát cách phân chia giao việc cho tù và lính gác ở các điểm, giờ giặc làm và nghỉ, những lúc sơ hở của địch. Sau một thời gian chuẩn bị, một cuộc họp tuyệt mật trong nhà lao để phân công, giao trách nhiệm tác chiến. Chi bộ đã chọn 51 bộ đội thuộc trung đoàn 45 và trung đoàn 101, và bộ đội địa phương chia thành 5 tổ tác chiến.
Chi bộ quyết định đánh lúc 13 giờ ngày 16-6-1951 với nhiệm vụ: "cướp súng địch, đánh địch bằng chiến thuật "ôm hè", hai đánh một, đánh bất ngờ, tấn công cùng loạt, thật nhanh sau khi nghe và nhìn thấy mật lệnh". Chỉ huy trận đánh là đồng chí Hà Văn Chấp, lúc bấy giờ là tù binh bộ đội, bí thư Chi bộ nhà lao (hiện nay là đại tá không quân Quân đội nhân dân Việt Nam, đã về hưu). Trước diễn biến trận đánh mấy ngày một số cán bộ phụ nữ huyện Hương Thủy đã liên lạc bí mật trao thuốc men và đặc biệt một cái nón Huế mới cho đội quân "ôm hè" sắp ra trận. 9 giờ sáng hôm ấy, tù binh đang đào công sự dưới nắng gắt. Lính lê dương không chịu nổi nắng hè oi bức tháng sáu và ngọn gió Lào khô cháy đổ xuống từ các triền núi Trường Sơn. Mồ hôi nhễ nhại, chúng lê bước vật vờ canh gác, lơ đãng nhìn xa xa... Bỗng tiếng gào phát lệnh của đồng chí Chấp vang lên: “Cực da diết lắm anh em ơi!” Cùng lúc tay anh giơ cao chiếc nón Huế vẫy mạnh. Và đáp lại đồng loạt "Ôm hè... Ôm hè...", các tù binh chiến sĩ xông vào, hai đánh một, bất ngờ vật ngã những tên lê dương nằm sóng soài trong bụi mờ công sự. Tiếng súng nổ loạn xạ, thật hãi hùng, ghê sợ và quyết liệt... Cướp được súng, chiến sĩ ta quay ngay mũi súng diệt địch, đuổi theo những tên tháo chạy không xa hiện trường lắm. 40 phút qua nhanh. Ta hoàn toàn thắng lợi. Ta diệt 26 tên trong đó có 2 sĩ quan, bắt 8 tên. Ta thu được 22 súng trong đó có 3 trung liên, 24 tiểu liên, 4 két lựu đạn. Bên ta có 2 chiến sĩ hy sinh là đồng chí Báu, bộ đội trung đoàn chủ lực và đồng chí Doi d 231 địa phương quân. Một giờ sau, bộ binh địch ở Giạ Lê, xe bọc thép địch từ căn cứ Nam Giao chặn đường xốc đến ứng cứu, máy bay địch "bà già" từ sân bay Phú Bài đến chao liệng rà quan sát hiện trường... Nhưng đoàn quân "Ôm hè" chiến thắng đã khẩn trương mang theo đồng đội hy sinh và những chiến lợi phẩm quí giá rút lui an toàn từ lâu. Đoàn quân nhanh chóng vượt qua cánh đồng lúa Thanh Thủy thượng, lội qua sông Lợi Nông (khúc sông phía dưới của sông An Cựu) để về căn cứ du kích...
T.S. - H.N.
(TCSH54/03&4-1993)
Tải mã QRCode
TÔ NHUẬN VỸ
Lớp sinh viên chúng tôi tốt nghiệp Khoa Văn - Sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, đúng vào thời điểm Mỹ đánh phá miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam kêu gọi con em miền Nam đang ở miền Bắc hãy trở về chiến đấu cho quê hương.
Giải phóng quân Huế với phong trào Nam tiến
PHẠM HỮU THU
Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc. Nguyễn Du trở về, ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm «Chữ tình chốc đã ba năm vẹn», lưu lại trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương.
Báo Tin Tức Chúa Nhựt, 3.11.1940 mở đầu bằng mấy hàng như sau: “Hai mươi chín tháng Chín Annam (20 Octobre 1940). Thêm một ngày đáng ghi nhớ. Một người đã mất: cụ Sào Nam Phan Bội Châu”
Với giọng văn sinh động, pha chút hài hước, hình minh họa ngộ nghĩnh, phù hợp với lứa tuổi học trò: “Chuyện kể về thầy trò thời xưa”, “Những tấm lòng cao cả” hay bộ văn học teen “Cười lên đi cô ơi”… sẽ đem đến cho độc giả nhiều cung bậc cảm xúc và hoài niệm.
Trong tất cả các Ni sư Phật giáo mà tôi được biết và chịu ơn hoằng pháp vô ngôn, có lẽ người gần gũi với tôi nhất trong đời là Cố Đại Trưởng lão Ni chúng – Sư Bà Cát Tường - nguyên trụ trì chùa sư nữ Hoàng Mai ở Thủy Xuân – Huế.
LTS: Nhà thơ, nhà văn Thanh Tịnh năm 78 tuổi sức khỏe không còn như buổi thanh niên, nhưng ngòi bút của ông vẫn còn cái sung sức của một người đã từng yêu du lịch và làm nghề hướng dẫn khách du lịch toàn Đông Dương. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc những trang hồi ký đầy lý thú của Thanh Tịnh.
NGUYỄN XUÂN HOA
Tôi không có dịp được học với thầy Phạm Kiêm Âu, người thầy nổi tiếng ở Huế, nhưng lại có cơ duyên cùng dạy ở trường nữ trung học Đồng Khánh với thầy trong các năm 1974 - 1975.
Vậy là nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh đã về cõi thiên thu giữa một sáng mùa thu Hà Nội lay phay gió mù u!...Trước khi chưa kịp được vuốt mắt, dường như đôi đồng tử của ông vẫn còn lưu giữ lại hình ảnh đau đáu về con sông Cụt quê nhà.
Với một tướng lãnh võ biền, thì mục tiêu cuộc dẹp loạn là đánh tan loạn quân, rồi ca khúc khải hoàn, ăn mừng chiến thắng.
PHÙNG TẤN ĐÔNG
“Đời của nó như thể bềnh bồng
Cái chết của nó như thể an nghỉ”
F.Jullien
(Dẫn nhập cuốn “Nuôi dưỡng đời mình - tách rời hạnh phúc” - Bửu Ý dịch, 2005)
THANH TÙNG
Hiệp định Genève ký kết, sông Bến Hải tưởng chỉ là giới tuyến tạm thời, không ngờ đã trở thành ranh giới chia cắt đất nước Việt Nam hơn 20 năm. Nỗi đau chia cắt và biết bao câu chuyện thương tâm, cảm động đã diễn ra ở đôi bờ Hiền Lương kể từ ngày ấy. Nhiều cuộc tình đẫm máu và nước mắt. Có những đôi vợ chồng chỉ ở với nhau đúng một đêm. Có người chồng Bắc vợ Nam, khi vợ được ra Bắc thì chồng lại đã vào Nam chiến đấu, đời vợ chồng như chuyện vợ chồng Ngâu.
“Thưởng thức là ngưỡng cửa của phê bình. Chưa bước qua ngưỡng cửa ấy mà nhảy vào cầm bút phê bình thì nhất định mắc phải những sai lầm tai hại. Không còn gì ngượng bằng đọc một bài người ta đem dẫn toàn những câu thơ dở và những câu ca dao dở mà lại đi khen là hay”. (Vũ Ngọc Phan, trích từ Hồi ký văn nghệ, tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 4 năm 1983, trang 168).
VƯƠNG TRÍ NHÀN
I
Hè phố Hà Nội vốn khá hẹp, chỉ có điều may là ở cái thành phố đang còn lấy xe đạp làm phương tiện giao thông chủ yếu này, người đi bộ có phần ít, phía các phố không phải phố buôn bán, vỉa hè thường vắng, bởi vậy, nếu không quá bận, đi bộ lại là cái thú, người ta có thể vừa đi vừa nghỉ, thoải mái.
Gặp người thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm xưa, tôi có dịp biết thêm những tình tiết mới quanh câu chuyện hơn 30 năm về trước khi tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng được tái bản lần đầu.
THẾ TƯỜNG
Ký
"Quê hương là chùm khế ngọt
cho con trèo hái cả ngày"
Một nhà báo Pháp sắp đến Việt Nam để tìm lại một di sản chiến tranh, nhưng ở một khía cạnh nhân văn của nó - đó là những con người, địa điểm từng xuất hiện trong các bức ảnh mà nữ phóng viên chiến trường nổi tiếng Catherine Leroy ghi lại trong cuộc tấn công Mậu Thân vào thành phố Huế.
Thanh Minh là bút danh chính của Nguyễn Hưu(1), người làng Yên Tập, tổng Phù Lưu, huyện Can Lộc, nay là xã Tân Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
LTS: Nhà văn Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh năm Bính Ngọ 1906 ở Tuyên Quang, song lại có gốc gác dòng họ Nguyễn ở Huế. Ông nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ những năm 1930 - 1945, được mệnh danh là “nhà văn đường rừng”, để lại hàng trăm tác phẩm văn học, trong đó có gần 50 cuốn tiểu thuyết.
Thực tế lịch sử gần 70 năm qua đã khẳng định rằng Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ và là kết quả tất yếu từ công lao to lớn của Bác chuẩn bị cho việc tiến hành cuộc cách mạng giải phóng kể từ ngày Bác về nước.