Ở đầu làng Thanh Phước của xã Hương Phong, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế có một tảng đá rất kỳ lạ, lạ đến nỗi hàng năm, nhiều nhà nghiên cứu tìm về lý giải vì sao có tảng đá được người dân tôn thờ, dựng miếu hương khói, may áo cho đá mặc.
Có một thời, dân đổ xô về cúng bái, đến nỗi chính quyền xã phải dừng tất cả các hoạt động tín ngưỡng tâm linh tại ngôi miếu này. Vậy ngôi miếu này thờ hòn đá gì mà lại khiến dân tin đến như thế?
Cả làng may áo, thờ... hòn đá
Hòn đá vuông to bằng tấm chiếu, sắc xanh trắng, mặt đá có nét chạm thân người mặt thú, 20 tay và 4 chân, người chài sợ cho là thần, đem để ở chỗ sạch sẽ rồi dựng đền tranh để thờ, từ đấy tỏ ra linh ứng. Hồi đầu bản triều (Nguyễn) phong làm “Kỳ Thạch phu nhân chi thần”.
Gặp năm đại hạn, sai quan đến cầu đảo hàng mấy tuần không được mưa, bèn sai dời hai viên đá đến bờ sông, đêm hôm ấy liền nổi gió to mưa lớn, sáng hôm sau ra xem, thấy mất một viên, còn lại một viên, bèn rước về tế tạ. Viên đá ấy nay vẫn còn.
Truyền thuyết kể rằng: “Ở vùng ngã ba sông Hương và sông Sình có một ông lão đánh cá nghèo, ngày ngày xuôi dòng nước của con sông chảy qua làng để quăng lưới. Một hôm, từ mờ sớm đến mặt trời lên cao vẫn chưa bắt được con cá nào đủ to để ra chợ đổi gạo, ông buồn bã nằm trên vạt cỏ ven bờ, gối đầu lên một tảng đá lớn thiu thiu ngủ.
Chợt ông nằm mơ thấy có một người thân hình to lớn, mặt mày đỏ gay giận dữ, tay cầm chiếc gậy dài thúc thúc vào người ông, quát “này ông lão kia, sao ông lại dám gối đầu lên ta mà ngáy?”. Ông lão sợ quá quỳ mọp xuống, vị thần đá liền trấn an và nêu một câu hỏi nếu ông trả lời được thì vị thần đó hứa sẽ cải biến số phận để ông được sung túc và mạnh khỏe, sống lâu.
Câu hỏi đó là: “Thứ gì luôn im lặng và thiêng liêng như đá? Thứ gì luôn luôn ở với người, giúp ích cho người, mà không hề đòi hỏi đền đáp, hoặc lên tiếng kể lể lời nào?”. Ông lão đánh cá ngẩn ngơ, chưa trả lời được, vì ông nghĩ trên đời đâu có thứ gì tốt bụng đến thế.
Vị thần đá liền giải đáp: “Đó là hơi thở, nó có mặt để truyền sự sống cho các ngươi từ lúc mới ra đời cho đến khi nhắm mắt mà chẳng đòi ơn nghĩa gì, nó cũng im lặng như các loài đá mà các ngươi vẫn dùng để lót đường, xây nhà vậy”. Trước khi biến mất, thần đá quay lại nói thêm: “Thấy ngươi hiền lành, ta sẽ cho ngươi một món quà, ngươi hãy mau thức dậy và quăng lưới xuống sông, ngươi sẽ nhận được món quà ấy”.
Giật mình thức giấc, ông lão vội quăng lưới xuống nước như lời vị thần trong mơ căn dặn. Không lâu sau, ông cảm thấy có vật gì nằng nặng cứ trì lấy chiếc lưới. Ông lặn xuống xem chẳng thấy gì quý báu mà chỉ là một phiến đá to đang làm vướng lưới.
Ông gỡ lưới ra khỏi phiến đá rồi lên bờ về nhà, lòng không vui. Đêm ấy, đang chập chờn, ông lại mộng thấy một phụ nữ xuất hiện với ánh sáng chói quanh người, bảo ông: “Ta là nữ thần dưới sông kia, hồi trưa ngươi đã gặp ta tại sao không đem ta lên bờ? Nếu ngươi đem ta lên ta sẽ phù hộ cho ngươi thoát khỏi cảnh túng thiếu”.
Sáng ra, ông lão rủ thêm vài người trong làng quay lại quãng sông lặn xuống và đem lên hai phiến đá to bên trên có khắc hình một nữ thần với nhiều tay vươn cao, chân ngồi xếp bằng, chung quanh có hình voi, hình người trông rất lạ mắt.
Lúc ấy trời bỗng chuyển giông, mây kéo đen nghịt rồi mưa trút xối xả, hai viên đá sáng lên từng chặp theo những tia chớp trên cao lia xuống. Thấy vậy, người ta hoảng sợ đem các viên đá này vào gần làng, lấy gạch xây một cái bàn thờ để đặt đá lên trên.
Được triều đình phong thần - Kỳ thạch phu nhân
Câu chuyện có vẻ hoang đường, nhưng ông Cà (82 tuổi, người trông coi ngôi miếu) khẳng định chắc nịch 100%, rằng thần đá rất thích đua ghe. Hễ cứ vào dịp làng xã tổ chức đua ghe truyền thống 22/6 hay ngày vía 10/7 âm lịch, mà ghe nào làm mâm cau trầu đến cúng ở miếu bà trước thì ghe đó không về nhất, cũng về nhì:
“Có dạo, có ghe của làng Thuận Hòa (đây là ghe hay nhất xã) bơi qua miếu bà mà không vào thắp hương cho bà, tui bảo đã đi qua miếu bà thì phải thắp hương báo cho bà biết. Nhưng ông đó cứ làm ngơ, thế là đi nửa đường gần về đích rồi thì thuyền lật. Chẳng biết có phải vì bà linh thiêng hay không nhưng không ai lý giải được chuyện này”.
“Ở đây bà linh lắm, ai xin gì bà cũng cho. Nhiều người sau khi thoát nạn đã gửi tiền về giúp miếu trang hoàng, sửa sang sạch sẽ như bây giờ, có người cúng bộ cửa, có người cúng bao cát, bao xi măng, người cúng cái lai thành… vì thế mà miếu được xây dựng đẹp vậy”, ông Cà nói thêm.
Xung quanh câu chuyện linh thiêng của miếu bà, người dân còn cho biết, ngày xưa Pháp - Mỹ ném bom xuống làng, nhà cửa sập đổ, cây cối gãy rạp nhưng qua hai cuộc chiến miếu bà vẫn đứng đó như không có chuyện gì xảy ra.
Ông Trần Viết Chức - Chủ tịch UBND xã Hương Phong cho biết: “Có một thời dân ở đây kéo nhau về rất đông, nhưng khi đó tôi làm trưởng công an xã nên đã cấm hoạt động mê tín dị đoan này. Còn chuyện người dân mê tín nên tin, chứ chính quyền xã vẫn chưa thấy linh nghiệm gì cả. Tuy nhiên, vì đó là tín ngưỡng tâm linh của người dân nên mình vẫn cho duy trì, thờ cúng thần Shiva gì đó. Còn các hoạt động ở đây đều nằm dưới quyền kiểm soát của UBND xã, nên đến nay, hoạt động của người dân vào thắp nhang, hầu đồng giảm hẳn…”
Điều kỳ lạ là trên phiến đá to và dài một mét được triều đình phong thần kia khắc nhiều hình mà người ta cho là quái dị để mô tả cảnh thiên đường lẫn địa ngục. Nhà nghiên cứu văn hóa Huế, ông Nguyễn Xuân Hoa cho biết, tảng đá được thờ trong miếu Kỳ Thạch Phu Nhân có màu đen có hình dạng như nửa tấm bửng tròn có đáy 1,2m; cao 0,9m; dày 0,23m có chạm nhiều hình người và con vật.
Các hình chạm chia thành 2 nhóm: Phần trên là một hình người hầu như trần truồng, ngồi trên tòa sen, hai chân xếp bằng và tay đặt trên đầu gối, bên phải có một con thú kì lạ và vài hình phác họa về người với nét vẽ non nớt; bên trái có hình khắc đàn ông, đàn bà, con nít, người cầm ly rượu, kẻ thổi sáo.
Phần dưới có đám người ăn mặc nửa kín nửa hở. Có khoảng 20 cái tay mà bảy cái đeo vòng, có thể là tay đàn bà, nhưng chân thì chỉ có 4. Cạnh con người kỳ dị ấy thì bên phải chạm một người có 3 mặt đứng cầm cái chai và bị trói ngồi chồm hỗm, góc trái là một con voi chổng đuôi lên trời.
Theo ông Hoa, nhân vật thể hiện chính trên tấm phù điêu có nhiều đầu, 20 tay có thể là hình ảnh quỷ chúa Ravana liên quan đến tích truyện Ravananugrahamurti trong thần thoại Ấn Độ. Đây là bức phù điêu quý hiếm thứ 2 được tìm thấy trong nghệ thuật Champa.
Văn Phương (SBĐ)
Tải mã QRCode
Kinh thành ở cố đô Huế vốn là vùng đất thấp trũng. Người xưa đã làm những gì để chống ngập cũng là một bài học đáng tham khảo cho chúng ta hôm nay.
Trấn Hải thành là công trình đã chứng kiến trang sử bi thương của Huế trong công cuộc chống giặc ngoại xâm cuối thế kỷ 19.
Vào cung là đến với cuộc sống giàu sang nhung lụa nhưng với phần lớn cung nữ, Tử Cấm thành lại là nơi chôn vùi tuổi xuân của họ.
Nhà rường Huế đã trở thành một di sản vô cùng quý báu của kiến trúc cổ Việt Nam. Tiếp nối kiểu nhà rường của người Việt tại quê cũ Hoan-Ái, cư dân Thuận Hóa với năng khiếu thẩm mỹ sáng tạo, đức tính cần cù và bàn tay khéo léo đã tạo cho nhà rường xứ Huế một bản sắc độc đáo.
Nhà rường Huế đã trở thành một di sản vô cùng quý báu của kiến trúc cổ Việt Nam. Tiếp nối kiểu nhà rường của người Việt tại quê cũ Hoan-Ái, cư dân Thuận Hóa với năng khiếu thẩm mỹ sáng tạo, đức tính cần cù và bàn tay khéo léo đã tạo cho nhà rường xứ Huế một bản sắc độc đáo.
Theo sử sách chép lại, không chỉ có triều vua Trần quy định việc anh - em - cô - cháu trong họ lấy nhau với mục đích không để họ ngoài lọt vào nhằm nhăm nhe ngôi báu, mà thời nhà Nguyễn – triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam cũng xảy ra hiện tượng này.
Gần 150 năm giữ vai trò là kinh đô của cả nước, triều Nguyễn được nhận định là một triều đại quân chủ đặc biệt nhất trong tất cả các triều đại quân chủ ở nước ta. Riêng số lượng sách vở được biên soạn dưới triều này cũng nhiều hơn toàn bộ di sản của các triều đại khác cộng lại.
Từ Dụ Thái Hậu nổi tiếng là một bà hoàng yêu nước thương dân. Tiếc rằng lăng mộ của bà đã bị thời gian và con người hủy hoại...
Du lịch Huế, ngoài thăm quan những địa điểm nổi tiếng như Đại Nội, Chùa Thiên Mụ, hệ thống lăng tẩm của các vua chúa triều Nguyễn,... thì Huế còn sở hữu nhiều điểm đến thú vị mà bạn chưa khám phá hết.
Ở Việt
“Toàn bộ cuốn sách làm bằng bạc mạ vàng, chỉ có 5 tờ (10 trang) nhưng nặng tới 7 ký, xuất hiện vào thời vua Thiệu Trị (1846), có kích cỡ 14×23 cm..."
Gắn liền với một giai thoại từ thời mở làng, trải qua hàng trăm năm, người dân xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế truyền tai nhau những câu chuyện huyền bí về một hòn “đá lạ” ở điện Mẹ Nằm.
Với quyền lực cùng sự tàn nhẫn vô hạn, Ngô Đình Cẩn được mệnh danh là "Bạo chúa miền Trung" trong suốt thời gian Ngô Đình Diệm nắm quyền.
Lăng mộ của chúa Nguyễn Phúc Tần còn được gọi là lăng Chín Chậu, có nhiều nét độc đáo so với lăng mộ các chúa Nguyễn khác.
BAVH - là các chữ viết tắt của bộ tập san bằng tiếng Pháp với nhan đề: “Bulletin des Amis du Vieux Hué” (Tập san của những người bạn Cố đô Huế”. Trước đây tập san này có tên gọi là “Đô thành Hiếu cổ”. Bộ tập san này (sau này người ta gọi là tạp chí) được xuất bản và lưu hành tại Việt
Theo truyền thuyết, ngày xửa ngày xưa, có một vị thần gánh đất để ngăn sông đắp núi. Một hôm vị thần đó đang gánh đất thì bỗng nhiên đòn gánh bị gãy làm hai, nên bây giờ đã để lại hai quả đất khổng lồ khoảng cách nhau hơn một km đó chính là núi Linh thái và núi Túy Vân ngày nay thuộc xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát. Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Các hoàng đế nước Việt xưa phần lớn giỏi chữ Hán, biết thơ văn, triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn đời nào cũng có các tác phẩm ngự chế quý giá. Nhưng tất cả các tác phẩm ấy đều nằm trong quỹ đạo Nho Giáo, dùng chữ Hán và chữ Nôm để diễn đạt cảm xúc về tư tưởng của mình.
Trái với sự nổi tiếng của lăng mộ các vua nhà Nguyễn, lăng mộ 9 chúa Nguyễn ở Huế không được nhiều người biết đến...
Nhắc đến vua Minh Mạng, người đời nghĩ đến ngay hình ảnh của một quân vương nổi tiếng quyết đoán và giai thoại về năng lực giường chiếu phi thường.