Ca khúc Bích Anh (*) - ngăn ngắt tình hoài hương

10:54 30/10/2008
NGUYỄN THỤY KHAĐọc Dòng nước trong (Ca khúc Bích Anh), Nxb Đà Nẵng, 2006


Trong trí nhớ mờ sương của tôi, Bích Anh hiện lên như cô bé quàng khăn đỏ bước ra từ cổ tích và đứng hát hồn nhiên trên sàn diễn trẻ thơ của Sài Gòn 1975 sau ngày giải phóng. Ngày ấy, giai điệu “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” của Phong Nhã đã đưa cô bé Bích Anh tới vinh dự đoạt Huy chương Vàng cuộc thi hát thiếu nhi Sài Gòn 1975. Là người lính giải phóng, tình cờ được nhận vào mình ấn tượng trong ngần của giọng hát nhi đồng này, tôi tự nhủ thầm: “Thế là từ nay, sau hai mươi năm đứt quãng, các em bé Việt lại được hát tự do những giai điệu về Bác Hồ”. Không ngờ, mười năm sau, vào dịp kỷ niệm 10 năm giải phóng Sài Gòn, tôi lại được gặp và nghe Bích Anh hát cùng nhóm “Dây leo xanh” của cô do nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu giáo dưỡng. Cái giọng hát thanh mảnh, truyền cảm như chính dáng điệu thiếu nữ của Bích Anh đã khiến người nghe có cảm giác bị chinh phục thật ngọt ngào. Và giờ đây, sau hơn 30 năm, tôi lại được nghe giọng hát Bích Anh đang hát lên những giai điệu của chính mình. Đó là một duyên ngộ thật lạ giữa dòng thời gian vô thủy, vô chung. Cứ thế, giọng hát lan toả vào tôi những giai điệu ngăn ngắn tình hoài hương.

Có lẽ nhờ được giáo dưỡng bởi thầy Cầu - “Quả chôm chôm biết hát” đầy tài năng và tình thương - và sự chăm sóc như con gái của anh Sơn (nhạc sĩ Trịnh Công Sơn) thân thiết, Bích Anh đã nhập vào mình tự nhiên từ lúc nào một thế giới mỹ học sáng láng, nhân bản. Ám ảnh nhất trong những giai điệu ấy là “Sợi dây leo màu xanh” mà Bích Anh viết dành tặng tất cả những người bạn của mùa hè đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Hình ảnh của giai điệu thật giống như sợi dây leo cuốn quanh dòng nhạc với những thi ảnh mơ màng, thanh xuân của ca từ: “Màu trời xanh ngát - miền cỏ thơm ngát - Lùa vào chân bước - Nhẹ nhàng êm ái - Ôm tròn những gót chân son - Đường dài ra suối - Ngập tràn tiếng hát của đàn chim bé dại - Còn tung cánh bay...”. Một hồi ức thiếu nữ trinh trắng quấn quýt bên nhau ca vang đẹp đến nỗi muốn van xin đấng tối cao hãy dừng thời gian giây lát: “Xin trái đất ngừng quay - xin mây trắng đừng bay - Cho cây lá còn xanh tươi - Cho ta mãi gần bên nhau cùng đi suốt con đường...”. Giai điệu được nhắc lại như ước muốn đừng bao giờ tan biến những ngày xanh biếc như những sợi “dây leo xanh mát mẻ trẻ trung và yêu đời”. Khao khát bỏng cháy như nốt pha trung âm của giọng rê thứ đột ngột được thăng cao nửa cung mang hơi thở giọng trưởng đồng âm. Nốt pha thăng ấy còn xuất hiện cuối bài trong đoạn quay trở về giai điệu ban đầu dường muốn khắc tạc mãi mãi hạnh phúc những năm tháng đã rời xa: “Đàn trẻ yêu mến - Hồn bừng hương mới - Lòng bàn tay trắng trong. Đầy những dây leo xanh - Sợi dây leo màu xanh - Sợi dây leo màu xanh - xanh mãi”. Có lẽ, đấy cũng là lý do các cô gái yêu ca hát đã chọn cho nhóm của mình cái tên “Dây leo xanh” dễ thương từ những buổi lãng du đi biểu diễn ở các đơn vị thanh niên xung phong tại các vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ những ngày đầu giải phóng.

Tình hoài hương trong ca khúc Bích Anh cứ ngăn ngắt trong những giai điệu về “Lá”, “Thảo”, “Lúa”, “Mưa”, “Đồng nội”, “Cánh diều xưa”, “Núi”, “Buồm”. Cái bát quái hoài hương này khiến cái tình xa xứ cứ xoay tròn day dứt. Vừa mới buồn vì: “Khi mùa thu đến vàng khung trời - Lá sầu gieo xuống thành muôn lời - Nát vì lót mềm bước chân lạ khóc - Vì khô gầy xa cành xưa...”, thì đã vui và đã yêu khi thấy: “Mọc hoang trên lối vắng những cành hoa màu tím tơ - Hồn hoa như giấy mới rất yêu đời và rất vui...”. Vừa thấy “ngọt ngào tiếng em - nhẹ trong hương lúa - chiều buông nắng say thả cho lúa bát ngát...”, đã nghe: “Mưa đang rơi em bé ríu rít ngoài hiên - chim bay về đứng hót líu lo chuyện trên trời...”. Vừa thả hồn trên đồng nội với: “Hoa giăng muôn lối nhỏ - Nở ngát bàn chân sai nhún nhảy - Như chim xanh bay giữa trời - Em tung tăng giữa đồng nội...” đã bâng khuâng: “Con diều xưa - chờ mây gió bay cao - Thả hơi nắng tươi - Mùa xuân về...”. Vừa nhớ Trịnh Công Sơn với “Núi ngồi yên - Con mắt trời nồng ấm...” còn mình thì lại thấy: “Núi ngồi - Dòng sông chảy xuôi”, đã thấy trên sông ấy: “Một ngọn buồm trắng mơ...”. Giai điệu Bích Anh có những khi mềm mại dây leo xanh, có những khi lại dựng đứng như bức tường, như vách đá của thác dốc tâm tư.

Nghe ca khúc Bích Anh, không hiểu sao tôi cứ nghĩ đến một bài thơ rất hay của một thiên tài thơ Nga bị ruồng bỏ - Ô Xip Man-delstan. Bài thơ có tên là “Im lặng” cứ khiến ta cứ liên tưởng đến khoảnh khắc ở giữa “những ngôn từ kết thúc” và “khi âm nhạc bắt đầu”. Bài thơ như giải thích cho tôi cái bút pháp hồn nhiên mà Bích Anh sử dụng để sáng tạo nên những ca khúc của mình: “Nàng còn chưa ra đời - Nàng vừa là nhạc vừa là lời - và vì vậy sợi dây không dứt - nối kết mọi sinh thể... Ước gì miệng tôi lấy lại được - Sự im lặng buổi ban đầu - như một nốt nhạc pha lê - trong vẻ trong trắng trinh nguyên...” (Bản dịch cuả giáo sư Phạm Vĩnh Cư - N.T.K). Dường như thấm vào mình cách lập ngôn của Phạm Trọng Cầu và Trịnh Công Sơn, Bích Anh đã lôi kéo bằng cảm xúc cả nốt nhạc lẫn ngôn từ vào cuộc chơi chung, khiến cho ca khúc của mình có dáng vẻ “vừa là nhạc, vừa là lời”. Rất khó có thể tách rời nhạc và lời trong ca khúc Bích Anh, giống như ta đã từng khó khăn như không thể làm được với ca khúc Phạm Trọng Cầu và Trịnh Công Sơn. Nhạc cũng đầy chất thơ mà lời cũng đầy chất thơ. Hai chất thơ ấy hoà vào trong một “dòng nước trong” của tâm hồn đầy trắc ẩn. Điều này có ấn tượng rất rõ trong bài “Mẹ” mà chắc chắn Bích Anh đã dốc cả trái tim rớm lệ nhớ nhung của mình vào giai điệu dành kính tặng người mẹ của mình

Mẹ như vầng trăng
Mẹ như dòng suối mát
ngọt ru đời con
đêm dài
Mẹ như dòng sông
phù sa đỏ thắm
nuôi đời

Gió mây hát ra lời mẹ
ru giấc xưa
Bao ngày nắng bao ngày mưa giông thác đổ

Đoá lan hương bên trời
ngát mênh mông
trái tim yêu trái tim mơ trái tim không lượng bờ
Toàn ca khúc đầy chất thơ, nốt đô thăng thơ nhất và chữ “Lượng” ở câu kết là thơ nhất. Siêu thực đến ngạc nhiên: “Trái tim sâu không lượng bờ”.

Nếu ở ca từ, Bích Anh đã khiến ta ngỡ ngàng như: “Người trên đường không lẽ quen - Mà trong lòng bỗng thấy vui...” hay “và đôi bàn tay lỡ quên - Hái cánh hoa xinh xinh lìa thân buồn...” thì trong giai điệu, Bích Anh cũng mở cho ta thấy sự tìm tòi ẩn sâu trong tư duy hoà thanh. Bài “Tóc tơ” cho ta rõ Bích Anh đã “chơi” hoà thanh rất riêng tư như thế nào. Ca khúc không ghi hoá biểu ở đầu dòng nhạc với câu hát đầu gồm hai âm tiết tiến hành trên giọng đô trưởng. Câu thứ hai cũng với hai âm tiết mô phỏng câu thứ nhất nhưng tiến hành trên giọng thứ đồng âm với sự xuất hiện rất si giáng. Ở đoạn sau, ngay từ tiết nhạc đầu đã thấy có sự lạ trong các nốt của giai điệu. Cũng là nốt đồng âm nhưng hai ô nhịp đầu, tác giả ghi nốt mi giáng, còn ở ô nhịp cuối tiết, tác giả lại ghi rê thăng. Mặc dù về cao độ, mi giáng bằng rê thăng như về hoà thanh, khi ghi nốt giai điệu như thế, có lẽ hai nghệ sĩ guitare Trần Văn Tài và Vũ Văn Tuyên phải tìm một cách chuyển theo đúng gợi ý ghi trong giai điệu. Điều đó, khiến đoạn sau của “tóc tơ” có vẻ “rối bời’ hơn đoạn đầu. Không chỉ thế, ở các tiết nhạc sau, tác giả còn cho nốt át âm - nốt sol. thăng bất chợt rồi lại bình bất chợt, khiến hiệu quả “rối bời” càng rõ rệt hơn. Cũng với cách riêng như thế, Bích Anh đã tạo ra một nỗi nhớ rất “gồ ghề” trong ca khúc “Nhớ”. Việc trộn lẫn giọng mi thứ và giọng mi trưởng trong nhịp đảo phách liên tục đã cho thấy rõ sự “gồ ghề” này. Và giai điệu còn gồ ghề hơn khi tác giả cho xuất hiện những nốt hạ âm - nốt la, thăng bất chợt và bình bất chợt. Nếu Trịnh Công Sơn đã từng da diết: “Em còn nhớ hay em đã quên - Nhớ đường dài - Qua cầu lại nối - Nhớ phố xưa quen - Nhớ tên bàn chân - Nhớ ngựa thồ - ngoại ô xa vắng - Nhớ xôn xao - Hàng quán đêm đêm”, thì đến Bích Anh, nỗi nhớ thành thổn thức: “Phố xa chờ tiếng rao buồn - giữa khuya hiu hắt người mang nắng vào đêm... Nhớ tranh khua vọng sóng đêm - Những tâm tư dòng nước trong...”

Lối đi của số phận thật kỳ diệu. Ngay chính cả Bích Anh khi hát bài “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” ngày đầu giải phóng, chẳng bao giờ cô lại nghĩ rằng sẽ có một ngày trong tương lai của vài chục năm sau, mình sẽ tự viết ra những giai điệu và tự hát nó lên trước mọi người. Nhưng điều đó đã xảy ra. Đã xảy ra cả nỗi ly hương để khiến cho những giai điệu này ngăn ngắt tình hoài hương. Và vì vậy, cuộc đời thật đáng sống, đáng hy vọng, mãi mãi ngạc nhiên.
                                                N.T.K

(nguồn: TCSH số 217 - 03 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)

  • Nhạc và lời: DƯƠNG BÍCH HÀ


  • Nhạc và lời: NGUYỄN VĂN VŨ

  • TÔN THẤT BÌNH

    Nếu dân ca là suối nguồn cảm hứng của nhân dân lao động trong cuộc sống thì hò là phương thế thể hiện tâm tình tràn đầy xúc cảm một cách trung thực nhất.

  • VĂN CAO
           Hồi ký

    Sau triển lãm Duy nhất 1944 (Salon Unique), tôi về ở một căn gác hẹp đầu phố Nguyễn Thượng Hiền.

  • TÂM HẰNG NGUYỄN ĐẮC XUÂN  

    Tin từ Làng Mai Pháp quốc cho biết: Đêm giao thừa Thầy nói về Phạm Duy cho khoảng 70 cháu sinh viên Việt Nam về thăm Làng. Bài giảng này cũng là một loại hommage(1) cho Phạm Duy. Có thể nghe lại trên mạng chỗ Pháp Thoại online của Thầy vào ngày 30 Tết vừa rồi.

  • Trưa ngày 27/01/2013, cây đại thụ của làng nhạc - Nhạc sĩ Phạm Duy – đã qua đời, hưởng thọ 93 tuổi. Nhạc sĩ Phạm Duy có số lượng tác phẩm âm nhạc đồ sộ, trong đó có nhiều tác phẩm nổi tiếng. Khi còn sống, nhạc sĩ Phạm Duy cũng thường xuyên cộng tác với Tạp chí Sông Hương. Chúng tôi xin đăng lại bài viết cuối cùng của nhạc sĩ đã gởi cho tòa soạn trước khi mất và đã được đăng trên Sông Hương số Tết Quý Tỵ 2013, như một nén hương tưởng nhớ người nhạc sĩ tài hoa.

  • “Đời là những cơn mưa vô thường/ Trói chân em bên đường/ Nước dâng cao chân tường/ Đường xa chân ướt phơi nắng dầm sương”...

  • NGUYỄN TẤN TÔN NỮ Ý NHI

    Trong ý niệm của nhiều người từ hạng trí thức cao cho đến bình dân, ngoại trừ dân nghiên cứu dân tộc nhạc học, hát xẩm là một thể loại âm nhạc có xuất thân thấp kém, luôn gắn liền với hình ảnh của người khiếm thị và cây đàn nhị từ góc phố, sân đình hay bãi chợ. Nhắc đến hát xẩm, đa phần người ta liên tưởng ngay đến những ca từ mộc mạc, dung dị và lắm khi dung tục.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN 

    Đêm giới thiệu Trường ca Hàn Mặc Tử, tại Học viện Âm nhạc Huế thầy Trần Văn Khê và nhạc sĩ Phạm Duy đã đưa chúng ta đi từ cõi thực mộng mơ trải qua những đau đớn, vật lộn với cơn đau đến ngất lịm và cuối cùng nương tựa vào niềm tin tâm linh để hiện hữu.

  • TRƯƠNG ĐÌNH NGỘ

    Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí
    Xa xôi đời trăng mọc nước Huyền Vi
    Đây Miên Trường, đây Vĩnh Cữu tề phi
    Cao cao vượt hai hàng bóng vía


  • (Bản dịch của Trương Đình Ngộ)

  • NGUYỄN THỤY KHA

    Có thể nhận ra sự giao hòa giữa nhiều chiều cảm xúc trong quá trình thai nghén bài hát "Thiên Thai". Song có lẽ cái lớn nhất, cái bao trùm, cái gốc để tỏa ra sự tràn trề giai điệu của bài hát này chính là sự phản ảnh có thực của một dòng sông nào đó.

  • ĐẶNG TIẾN “Bộ môn” Thơ đang lùi bước trong xã hội hiện đại. Đời sống đô thị nhanh bước theo nhịp tiến hóa của công nghiệp, đẩy lùi biên độ của thơ: kỹ thuật hiện đại cung cấp cho quần chúng - nhất là thanh niên - những phương tiện giải trí và truyền thông hấp dẫn và nhanh chóng hơn những bài bản vần vè trước đây - dù sao cũng gắn liền với nếp sống nông thôn.

  • NGUYỄN HOÀN Nhân kỷ niệm 10 năm ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn về cõi thiên thu 1/4 (2001-2011), Nhà xuất bản Trẻ xuất bản cuốn sách “Thư tình gửi một người” tập hợp hơn 300 trang thư tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gửi Ngô Vũ Dao Ánh, người tình có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu bền trong cảm hứng sáng tạo âm nhạc của nhạc sĩ.

  • DƯƠNG BÍCH HÀDân tộc Tà Ôi, cũng như các dân tộc cư trú dọc Trường Sơn, âm nhạc là một bộ phận thiết yếu trong đời sống văn hóa của họ, nó không chỉ mang chức năng giải trí đơn thuần mà gắn liền với tín ngưỡng, với đời sống tâm linh, là phương tiện để tiếp xúc với thần linh.

  • NGUYỄN THỊ HỒNG SANHNgười ta gọi Trịnh Công Sơn là “sứ giả tình yêu”, “người tình của mọi thế hệ”, nhưng có lẽ chức danh “con người thi ca” mà nhạc sĩ Văn Cao yêu mến dành tặng cho ông là phù hợp hơn cả.

  • TrẦn thỊ AnCho đến nay, ca trù vẫn là một thể loại văn chương âm nhạc rất xa lạ với đông đảo đại chúng. Trong ấn tượng chung, ca trù là một sinh hoạt âm nhạc trước hết gắn với lễ lạt của các ông hoang bà chúa hay các miếu đền, sau nữa là thú ăn chơi ở dinh quan, thậm chí trở nên sa đọa và trụy lạc nơi ca quán.

  • NGUYỄN THỤY KHATừ sau "Đề cương văn hóa" của Đảng ra đời năm 1943 sáu chữ "Dân tộc - khoa học - đại chúng" đã trở thành tâm niệm của những chiến sĩ cách mạng làm công tác văn hóa. Song ngay cả khi Cách mạng tháng Tám thành công, rồi cả dân tộc bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến thì cho đến trước chiến dịch Điện Biên, chữ "Dân tộc' trong "Đề cương văn hóa" vẫn chỉ được các nghệ sĩ khai thác ở những vốn cổ của người Kinh, trong đó có nghệ thuật âm nhạc.

  • NGUYỄN THỤY KHATrong hai đêm 2 và 3.06.2004 tại Nhà Hát Lớn, Hà Nội đã diễn ra chương trình hoà nhạc của Dàn Nhạc Giao Hưởng Việt Nam dưới sự chỉ huy của Giáo sư - Nhạc trưởng người Anh Colin Metters - Cố vấn âm nhạc và nhạc trưởng hợp tác chính của Dàn Nhạc Giao Hưởng Việt Nam trong dự án 5 năm nhằm củng cố và phát triển dàn nhạc lên ngang tầm quốc tế.

  • VĂN THAO... Tôi tập tễnh bước một leo lên cầu thang ngôi nhà số 108 phố Yết Kiêu vào một ngày giáp tết năm 1976. Đã sang tiết xuân, trời nắng nhẹ mà vẫn lạnh. Tiếng đàn dương cầm vọng ra. Một điệu vans. Giai điệu của bản nhạc mượt mà, lấp lánh như những hạt nắng xao động trên vòm cây. Một giai điệu mà tôi chưa nghe bao giờ.