DƯƠNG BÍCH HÀ
Huế - theo dòng chảy của thời gian, đã trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử; âm nhạc Huế cũng không nằm ngoài “luồng” của dòng chảy đó.
Ca Huế từng là thú chơi tao nhã của các hoàng thân và quan chức trong triều đình Huế. Từ trái qua phải : Ưng Dung, Tôn Thất Văn, Ưng Biều, Ngô Phò, Trần Quang Soạn, Hoàng Yến- Ảnh: internet
Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, nền âm nhạc cổ truyền Huế tồn tại hai dòng: dân gian và bác học. Tuy khác nhau về đặc điểm, tính chất, hệ thống bài bản, không gian diễn xướng... nhưng hai dòng âm nhạc này luôn tác động qua lại, gắn bó, thâm nhập, thúc đẩy lẫn nhau. Do ảnh hưởng đặc điểm lịch sử văn hóa Việt Nam, dòng âm nhạc bác học được chia thành hai bộ phận: Âm nhạc cung đình (gồm hệ thống bài bản khí nhạc gắn liền với các tổ chức dàn nhạc được biến đổi qua các thời kỳ; đến triều Nguyễn chỉ còn lại dàn Đại nhạc và Tấu nhạc), bộ phận thứ hai là ca Huế (với hệ thống bài bản có cấu trúc chặt chẽ, đòi hỏi kỹ năng diễn tiếu điêu luyện của ca công và nhạc công), có xuất xứ từ âm nhạc cung đình nên mang phong cách sang trọng, tao nhã, nhưng cũng đậm đà phong vị dân gian. Đây là bộ phận âm nhạc đặc sắc, có ý nghĩa quan trọng trong tổng thể nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam, không chỉ bởi sự in đậm bản sắc Huế, mà còn mang dấu ấn “hội tụ và lan tỏa” trong lịch sử âm nhạc dân tộc.
Ca Huế (với những cách thức diễn xướng phong phú, xử lý sắc thái tinh tế...) được hình thành trên hai điệu thức chính là điệu Bắc (hơi khác) và điệu Nam, cùng một hệ thống “hơi”, biểu hiện từng loại sắc thái như hơi dưng, hơi đảo, hơi thiền, hơi ai, hơi thương... tạo phong cách đặc trưng. Theo phần lớn các nghệ nhân, các nhà nghiên cứu trước đây cũng như hiện nay cho rằng: điệu Bắc có tính chất vui tươi, linh hoạt, trong sáng, trang trọng, điệu Nam thì buồn thương, bi ai..., và người Huế ít khi gọi là điệu Bắc hay Nam, mà thường gọi là các bài bản khách và Nam. Theo họ, điệu Bắc cả ba miền đều có, nhưng điệu Nam hơi Ai chỉ riêng Huế mới có.
Theo bước chân Nam tiến của các lưu dân, ca nhạc Huế cũng có xu hướng truyền bá mạnh mẽ về phía Nam, tiếp nhận một số ảnh hưởng của Champa, Ấn Độ... kết hợp với cội nguồn văn hóa Thăng Long, làm nảy sinh thêm một số hình thức âm nhạc khác như đàn Quảng ở Nam Trung Bộ, đờn ca tài tử ở Nam Bộ... Nỗi nhớ quê cha đất Tổ, cộng với cuộc sống khổ cực, làm cho nỗi buồn thêm da diết thể hiện rõ trong âm nhạc chất mềm mại, dịu dàng, sầu bi, có phần u tối, phải chăng đó là lý do để người ta đặt thêm một loại hơi gọi là hơi Ai?
Ngoài ra, còn có loại hơi dưng (là loại hơi trung gian giữa Bắc và Nam) như cầu nối giữa vui và buồn - đây cũng chỉ là một cách biến đổi sắc thái... hoặc cách xử lý tác phẩm kiểu âm nhạc phương Tây như từ Ai sang Oán... nhưng trên cơ sở vẫn là một điệu. Tính chất đặc trưng trong ca Huế là trữ tình sâu lắng, người xứ Huế gọi là “thâm trầm” - cái thâm trầm đầy vẻ tế nhị, tao nhã và trong sáng, gợi những nỗi niềm...
Chúng ta thấy rằng âm nhạc Huế mang dấu vết rất rõ đặc tính giọng nói Huế, không thể không nhiễm sâu yếu tố Chăm. Yếu tố văn hóa Việt mờ nhạt của Thuận Hóa xưa, hòa với văn hóa Champa, khi văn hóa Việt trỗi dậy, bổ sung thêm những nét mới, sẽ hình thành những sắc thái mới, là hệ quả của sự giao hòa Chiêm - Việt; và, trên cơ sở một hệ thống tiếng nói mới - hệ tiếng Huế, tạo màu sắc đặc trưng, khu biệt. Âm nhạc Huế có quan hệ rõ với giọng nói “cạn” và “hẹp” của Huế. Người ta căn cứ theo địa danh Huế (Thuận Hóa trước đây) mà đặt tên cho ca nhạc cổ là ca Huế. Theo cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị: “Ca mà gọi ca Huế vì thanh âm người Huế hiện với điệu ca này, mà phía Bắc xứ Huế như Quảng Trị, Quảng Bình cũng ca được, còn từ Linh Giang dĩ Bắc, Hải Vân quan dĩ Nam, đều có người ca, mà ca giỏi thế nào, cũng có hơi trạy bẹ…”.
Khi nói “ca” một bản Nam ai hay cổ bản, tức là người ca phải ca một bài có giai điệu và lời ca hoàn toàn đầy đủ và chính xác, còn nếu như nói “hát”, thì người ca chỉ cần đưa hơi “ai” hoặc hơi “khách” để diễn tả bất cứ một lời thơ nào!
Theo một số nhà nghiên cứu, ca Huế bắt đầu từ hát cửa quyền trong cung vua, phủ chúa (khác với lối hát Ả Đào, phát sinh từ dân gian, từ hát cửa đình, rồi vào chốn cung đình), từ “cung trung chi nhạc - một loại nhạc thính phòng trong cung thất của vua và mẹ vua Nguyễn” (Trần Văn Khê - Lối ca Huế và lối nhạc tài tử). Đó là thời kỳ có những bước chuyển mình từ lối hát cung đình, dần dần được dân gian hóa trở lại để thành ca nhạc Huế… và tác động trở lại đối với âm nhạc cung đình.
Trường hợp 10 bản Tàu được gọi là 10 bản Ngự, được các nhạc công trong ban Ngự âm nhạc của triều đình nhà Nguyễn tấu trong các cuộc tế lễ và các dịp khác của vua chúa, “thực ra, đó là những bài bản vay mượn từ ca nhạc Huế và được cung đình hóa” (Nguyễn Viêm - Lịch sử âm nhạc dân gian cổ truyền Việt Nam) - hệ quả của quá trình “tinh chế” vốn âm nhạc dân gian.
Từ lối thưởng thức kiểu thính phòng trong tư dinh của giới đại gia, khoa bảng, thành được trình diễn trong một không gian nhỏ, đầm ấm, gần gũi, có thể là một phòng khách, với đôi ba chén trà, ly rượu… người biểu diễn và thưởng thức ngồi cạnh nhau như tri âm, tri kỷ; trong không gian như vậy, tất cả như ngưng đọng khi, con người và âm nhạc hòa quyện nhau trong mùi trầm hương phảng phất, hư hư thực thực, nhất là vào những đêm khuya, những điệu ca được cất lên như mê hoặc, có sức diễn tả cao, thâm trầm, da diết, làm say đắm lòng người… Dần dần, không gian diễn xướng được mở rộng, chan hòa vào các sinh hoạt văn nghệ dân gian, từ những căn phòng ngào ngạt trầm hương, ca Huế ra với dòng Hương bàng bạc ánh trăng, sương đêm phủ nhẹ trên mái chèo cùng với giọng ca thổn thức, tiếng đàn nỉ non, thao thiết trong làn gió nhẹ, làm cho tri âm, tri kỷ không muốn rời nhau… Sự kết hợp hài hòa của hai luồng giao thoa đó đã làm cho ca Huế có một phong vị đặc biệt, “không những thỏa mãn được yêu cầu thẩm mỹ của giới quý tộc phong lưu, các sĩ phu phong kiến (ngày trước), mà còn được quần chúng nhân dân (lao động) hâm mộ nâng niu…” (GS Tô Vũ - Sức sống của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam). Mối tương quan giữa ca Huế và âm nhạc dân gian - nhất là lý Huế, chỉ có tính cách tương đối chứ không phải rạch ròi, nếu người nghe không “sành điệu” thì phân biệt đâu là ca Huế, đâu là dân ca. Yếu tố quan trọng khác đã tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa âm nhạc dân gian và ca Huế (cũng như âm nhạc cung đình) là chính các nhạc công, ca công chuyên nghiệp hầu hết là nghệ nhân tài hoa, trưởng thành từ dòng âm nhạc dân gian - bên cạnh đó, đội ngũ nghệ nhân dân gian là một lực lượng hùng hậu làm phong phú và nuôi dưỡng ca Huế; có thể nói: ca Huế là nhịp cầu nối giữa cung đình và dân gian. Duy các điệu ca khởi điểm như thế nào thì vẫn chưa có xác nhận chắc chắn, chỉ đoán chừng từ đời Hiếu Minh (chúa nhà Nguyễn về hệ 7, Quốc công Nguyễn Phúc Chu là ông chúa Thượng Văn), “thời kỳ này có ban nhạc phủ, triều đình có nhạc phủ, tao nhơn, mặc khách ở tri hạ tất phải hưởng ứng mà thành ra ca khúc, ca chương…” (cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị).
Mặc dầu sinh trưởng trong khuôn vàng thước ngọc, ca Huế vẫn không hoàn toàn bị ràng buộc bởi những khuôn khổ, quy tắc nghiêm ngặt của âm nhạc bác học, mà vẫn thể hiện tính sinh động, mềm dẻo (tương đối) của nó khi ở thính phòng cũng như khi lên sân khấu sau này. Ca Huế đem lại cho người nghe những cảm xúc êm dịu, khỏe đẹp, trong sáng, tạo nên sự đồng cảm của con người, ca ngợi quê hương, đất nước. Theo GS-TS Trần Văn Khê, ca Huế với những giọng ca tuyệt vời của các nghệ nhân “khi thì êm dịu như hương thơm tỏa ra từ một bông hoa, khi thì xót xa như giọng người đang khóc, khi thì uể oải như những cái nhìn nào đó của người đàn bà trong những đêm hè oi ả, khi thì vui vẻ - trường hợp này cũng họa hoằn thôi; giống như tiếng lao xao của bầy chim trong mùa xuân… đã thấm vào thể xác và tâm hồn bạn, đã len vào trong mạch máu của bạn, làm cho khắp người bạn phải rùng mình, khoái trá…”. Như thế, cũng đủ biết sự sâu lắng, trữ tình của ca Huế làm rung động, cuốn hút người nghe sâu sắc như thế nào!
Ca Huế là sản phẩm của Huế, mang đặc thù sắc thái địa phương nhưng “không phải là một thứ âm nhạc địa phương” (GS. Tô Vũ - đd) và theo ông Văn Lang: “Ca nhạc Huế là một loại âm nhạc mang tính bác học có một lịch sử từ xa xưa, và có lúc đã từng đóng vai trò quốc nhạc… được sử dụng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc cũng như phía Nam.” Theo lịch sử chúng ta thấy rất rõ hiện tượng âm nhạc Huế thâm nhập, ảnh hưởng trở lại cội nguồn phía Bắc (Sân khấu chèo: Vở Tuần ty đào Huế sử dụng nguyên xi điệu Hành vân, Lí dao duyên của Huế, và trong sáu hệ thống của chèo, có hệ thống hơi Huế…) đồng thời, theo bước chân Nam tiến của những lưu dân khai hoang lập đất, của các binh lính mở mang bờ cõi… tạo nên ảnh hưởng không nhỏ đối với âm nhạc Nam Trung Bộ (Tuồng: Nam ai, Nam bình… hoặc khai thác các điệu Lí Huế trong các kịch bài chòi…) ở Nam Bộ (Tài tử: Tứ đại, Phú lục… Cải lương: Lưu Thủy, Kim tiền… hoặc các nhạc công ở ban nhạc Tài Tử hòa nhạc Huế…). Sự ảnh hưởng của ca nhạc Huế đối với hai miền có ví trí quan trọng trong việc hình thành nhiều thể loại kịch hát dân tộc, đây là “một hiện tượng vô cùng hiếm thấy, ví như một cái gốc lớn đã nảy sinh nhiều cành là xanh tươi mà mỗi cành có một vẻ đẹp riêng… đó không phải là một điều vinh hạnh hay sao?” (Văn Lang - Ca Huế và ca kịch Huế).
Ca Huế là một trong ba thể loại ca nhạc thính phòng của Việt Nam có nguồn gốc hình thành và phát triển lâu đời, có giá trị nghệ thuật cao, là tài sản chung của dân tộc; có giá trị giáo dục về mọi mặt như tư tưởng thẩm mỹ, tình cảm cũng như nhân cách. Muốn nghe và hiểu sâu về ca Huế đòi hỏi phải có nghệ thuật thưởng thức: đó là sự hiểu biết về nguồn gốc, môi trường diễn xướng, một ít kỹ thuật ca và đàn Huế, cảm nhận được màu sắc, sắc thái trong điệu và “hơi” của ca Huế…
Hiện nay không gian diễn xướng tại các tư gia (hay gọi là ca Salon) hầu như không còn. Chỉ còn lại không gian ca Huế ở du thuyền trên sông Hương, như một món quà, món ăn tinh thần đối với du khách khi đến Huế. Việc xã hội hóa ca Huế - nhằm đem lại lợi nhuận về kinh tế, ít nhiều làm mất đi giá trị thẩm mỹ vốn có - bởi ca Huế chỉ tồn tại có giá trị đích thực khi nó ở trong một không gian, hoặc môi trường diễn xướng đặc hữu của nó. Hầu hết, thế hệ trẻ không biết (hoặc biết một cách mơ hồ) về cái hay, cái đẹp của ca Huế, quay lưng với âm nhạc cổ truyền nói chung, ca Huế nói riêng, tìm đến âm nhạc phương Tây với suy nghĩ như thế mới là hiện đại, là thời thượng… những người làm nghệ thuật cổ truyền cũng bị xem là lạc hậu, cổ hủ… Theo ông Văn Lang, đây là sự “mất gốc đáng hổ thẹn”. Tất nhiên chúng ta cũng không thể bảo thủ, khư khư cho rằng chỉ có nền âm nhạc của chúng ta mới là tuyệt vời, nhưng nếu bảo thủ, hay vứt bỏ những gì thuần túy của dân tộc, để tiến đến văn minh vong bản là tự đưa mình đến diệt vong.
Ở Huế, được sự quan tâm của các ban ngành liên quan, ca Huế bắt đầu có sự “hồi sinh”. Hai trung tâm đào tạo chuyên nghiệp là Học viện Âm nhạc Huế và Trường Văn hóa nghệ thuật Huế cũng đã quan tâm, vực dậy bộ môn ca Huế. Học viện Âm nhạc đã mở lớp đàn ca Huế được gần hai năm nay, Trường Văn hóa nghệ thuật từ trước đến nay vẫn mở lớp dạy ca Huế. Hai trung tâm biểu diễn về âm nhạc truyền thống Huế là đoàn ca kịch và Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế cũng luôn chú trọng đến loại hình này. Nhưng tất cả vẫn chưa chú ý đến chất lượng. Hai trung tâm cũng chỉ chú trọng đến việc phục vụ du khách bằng cách xen vào hát mới, hoặc sử dụng các loại hình âm nhạc dân gian, còn ca Huế (theo một số quan điểm của những người có chuyên môn cũng như các ca sỹ thì: Ca Huế khó hát, đa phần là buồn, không phù hợp, không thể ép du khách nghe…) thì chỉ còn xuất hiện khi biểu diễn các vở diễn lớn, hoặc tại các hội diễn. Sinh viên tại các trường và ca sỹ hát ca Huế, đa phần đều có suy nghĩ là học (hát hay) một vài làn điệu chỉ để đi hát, phục vụ cho việc mưu sinh là chính; mô hình đào tạo chính quy ở các trường nghệ thuật có những hạn chế như quá chú trọng đến kiến thức đại cương trên cơ sở khung đào tạo của Bộ Giáo dục vốn có khối lượng lớn so với kiến thức chuyên môn nên các thế hệ nhạc công, ca sĩ chưa có sự vượt trội, chỉ đều đều, ngang bằng về chuyên môn; cũng như chưa tạo ra được môi trường thực tế để các em có thể học hỏi thử sức… Còn một số thì thiếu tâm huyết, thiếu bản lĩnh, lạm dụng danh nghĩa làm cho nghệ thuật không còn ý nghĩa cao đẹp. Mặc dù vậy, giá trị nghệ thuật của ca Huế sẽ vẫn còn mãi với thời gian.
Nên chăng để ca Huế trở về vị trí và đúng với giá trị đích thực của nó, chúng ta cần phải có những hành động cụ thể, thiết thực như đầu tư, sưu tầm, kí âm toàn bộ các bài bản để lưu giữ cho thế hệ sau; Tăng cường mời các nghệ nhân truyền nghề cho các nhạc công, ca sĩ để nâng cao chất lượng ca Huế; Thường xuyên tổ chức các Hội thảo để trau dồi, học hỏi cũng như tìm biện pháp khắc phục. Đồng thời có chính sách đãi ngộ, hỗ trợ các nghệ nhân để họ có điều kiện truyền dạy vốn cổ cho các em tốt hơn. Bên cạnh đó, việc quảng bá ca Huế trên các phương tiện thông tin đại chúng cần phải có kế hoạch cụ thể. Mặt khác, cần kết hợp bảo vệ không gian văn hóa, môi trường cảnh quan của Huế.
Trong đời sống hội nhập đầy năng động, những giá trị nghệ thuật mới nảy sinh từ bên trong cũng như bên ngoài luôn được cập nhật và tiếp nhận. Chính vì thế, các cơ quan hữu quan nên quan tâm và có biện pháp khắc phục những hiện tượng quá sùng bái các sản phẩm nghệ thuật xa rời, thị hiếu tầm thường mà ngoảnh mặt với nền văn hóa truyền thống tốt đẹp, lành mạnh của dân tộc. Đó là điều mà chúng ta cần nhận thức đúng để suy ngẫm, mà tự hào với vốn nghệ thuật cổ truyền của cha ông để lại, trong đó có ca Huế đang cần phát huy hơn nữa, phục vụ sâu rộng và làm phong phú những giá trị tinh thần truyền thống trong xã hội đương đại.
Cuối cùng, xin nhắc lại lời của cố nhạc sư Nguyễn Hữu Ba: “Âm nhạc Việt Nam xưa nay đã bị ngoại lai ba lần mà lần nào cũng chỉ phớt qua một lúc, rồi lại trở về với màu sắc đất nước, bản tính dân tộc. Đó là nhờ sức sống mãnh liệt, một tinh thần căn bản sâu rộng, tiềm ẩn trong lòng đất, trong ý dân và luôn thúc đẩy toàn dân sống để tiến, vững tiến trên bản năng bản sắc của mình”.
D.B.H
(SH276/2-12)
Tải mã QRCode
VIỆT ĐỨCCâu trả lời đầu tiên vẫn thuộc về môi trường sinh hoạt âm nhạc. Hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh mỗi đêm có đến 50 tụ điểm ca nhạc hoạt động với cơn sốt ca sỹ leo thang đến chóng mặt.
Dương Bích HàCũng như các loại hình nghệ thuật khác, nền âm nhạc cổ truyền luôn tồn tại hai dòng: âm nhạc bác học và âm nhạc dân gian.Ở Huế, trên một thế kỷ là kinh đô của triều đại phong kiến Việt Nam, nên đặc biệt, tính chất này được bộc lộ rất rõ và triệt để, là nơi phân chia rạch ròi nhất các giai tầng trong xã hội, trong văn hóa nghệ thuật.
NGUYỄN ĐẮC XUÂNNgày xưa, xã hội Việt Nam thực hiện nguyên tắc “phụ truyền tử kế” (cha truyền con nối), cho nên ông nội tôi - cụ Nguyễn Đắc Tiếu (sinh 1879), người làng Dã Lê chánh, xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, lúc mới lên mười tuổi, đã được cố tôi (lính trong đội Nhã nhạc Nam triều) đem vào Đại nội học Nhạc cung đình (Musique de Cour).
PHAN THUẬN THẢONhã nhạc là loại hình âm nhạc chính thống được sử dụng trong các cuộc tế, lễ của các triều đình quân chủ ở Việt Nam và một số nước khu vực Đông Á. Trong các cuộc triều hội, cúng tế, âm nhạc luôn theo suốt quy trình của buổi lễ, từ lúc mở đầu cho đến hồi kết thúc. Nó tham gia vào từng tiết lễ, là một thành tố không thể thiếu của cuộc lễ, đồng thời, là phương tiện giúp con người giao tiếp với thế giới thần linh. Loại hình âm nhạc này được các triều đại quân chủ hết sức coi trọng, được phát triển thành một thứ quốc nhạc và là một trong những biểu tượng cho sức mạnh của vương quyền và sự vững bền của triều đại.
THÂN VĂN1. Phương thức liên kết về bài bản.Đặc điểm chung nhất của hệ thống bài bản hòa tấu nhạc cung đình thường là ngắn gọn, gắn liền và phù hợp với các ca chương trong mỗi nghi thức tế lễ. Những nghi thức này được tiến hành theo một trật tự trang trọng và nghiêm ngặt, nên mỗi bài bản ca chương và âm nhạc buộc phải trình tấu đúng với thời gian cho phép của từng nghi thức. Những bài bản này đương nhiên hoàn toàn độc lập về nội dung, nhưng do nằm trong một trật tự trình tấu nối tiếp liên tục, nên ngẫu nhiên đã hình thành các thể loại liên hoàn khúc khác nhau. Trong đó, độ dài, ngắn của mỗi liên hoàn khúc, tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của cuộc lễ, tuỳ thuộc vào số lượt nghi thức và số ca chương mà cuộc lễ quy định.
YAMAGUTI OSAMUTháng Giêng năm 1994, trong lúc đang còn ngất ngây hương vị Tết, thì đột nhiên điện thoại và fax từ Paris đến tới tấp. Đó là vì UNESCO đã nhận lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam để mở một Hội nghị Quốc tế thảo luận về vấn đề nên làm gì và cái gì có thể làm được để bảo tồn và phát huy tài sản văn hoá vô hình của Việt Nam, vì vậy họ muốn mời tôi tham gia hội nghị và đưa ra đề nghị cụ thể. Ông Tokumaru Yosihiko (giáo sư của Đại học Nữ Ochanomizu, lúc đó còn là Trưởng khoa của Khoa Văn hoá- Giáo dục) cũng nhận được lời mời như vậy, nên tôi đã liên lạc với ông và cả hai quyết định nhận lời mời này.
VIỆT HÙNGCuộc toạ đàm với chủ đề Sự cần thiết phải thành lập nhạc viện ở Huế vừa diễn ra vào ngày 10/3/2004. Đây là một trong những hoạt động nằm trong khuôn khổ của Trại sáng tác khí nhạc dân tộc và phê bình lý luận âm nhạc, do Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam Thừa Thiên Huế phối hợp với Trường Đại học Nghệ thuật Huế tổ chức từ 9/3 đến 17/3/2004.
THÂN VĂNSau hơn 2 tháng phát động và 9 ngày chính thức dự trại (từ ngày 09 đến 17/3/2004), với 14 tác phẩm khí nhạc dân tộc và 5 tác phẩm lý luận phê bình âm nhạc của 17 nhạc sĩ có mặt tham dự trại. Lễ bế mạc chiều ngày 17/3/2004 Trại sáng tác khí nhạc dân tộc & lý luận phê bình âm nhạc tại Huế đã gây được ấn tượng tốt đẹp và những tín hiệu đáng mừng trong lòng nhân dân Cố Đô. Điều đáng nói là các nhạc sĩ của Hà Nội, Huế và TP.Hồ Chí Minh đã gặp nhau từ một ý tưởng sáng tạo chủ đạo là nhằm tôn vinh và phát huy các giá trị của di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu ở Huế, góp phần định hướng cho mô hình và mục tiêu đào tạo của Nhạc viện Huế trong tương lai.
TRẦN VĂN KHÊNhạc Cung đình là một bộ môn nhạc truyền thống Việt Nam dùng trong Cung đình. Nhưng người sáng tạo và biểu diễn Nhạc Cung đình hầu hết là những nhạc sĩ, nghệ sĩ từ trong dân gian, có tay nghề cao, được sung vào Cung để phụng sự cho Triều đình. Nhạc Cung đình Huế là một bộ môn âm nhạc truyền thống Việt Nam rất đặc biệt và có một giá trị lịch sử, nghệ thuật rất cao.
THÁI CÔNG NGUYÊNMột nhà văn nước ngoài khi đến thăm Huế đã nói: “Huế là một bảo tàng kỳ lạ chứa đựng trong lòng mình những kho tàng vô giá, những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần Việt Nam”. Đúng vậy, bên cạnh kho tàng di sản văn hóa kiến trúc đồ sộ có giá trị tầm vóc quốc tế, Huế còn là một tụ điểm di sản văn hóa tinh thần phong phú, một vùng văn hóa Phú Xuân đặc sắc “Huế đẹp và thơ” nổi tiếng.
PHÙNG PHUNgày 07 tháng 11 năm 2003, ông Koichiro Matsuura, Tổng Giám đốc UNESCO đã chính thức công bố trong một buổi lễ long trọng nhân kỳ họp toàn thể lần thứ 32 của Ðại hội đồng UNESCO tại Paris: UNESCO đã ghi tên 28 Kiệt tác vào Danh mục Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại.
LTS: Đại hội khoá II (nhiệm kỳ 2003 - 2008) của Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam Thừa Thiên Huế vừa diễn ra vào trung tuần tháng 9. Nhạc sỹ Hồng Đăng, Phó Tổng thư ký Hội Nhạc sỹ Việt Nam, thay mặt cho BCH Hội Nhạc sỹ Việt Nam vào tham gia chỉ đạo Đại hội. Tại Đại hội, nhiều tham luận, ý kiến phát biểu của các nhạc sỹ đã thể hiện được sự trăn trở về thực trạng và hướng phát triển của nghệ thuật âm nhạc đương đại Huế. Sông Hương xin trích đăng một số ý kiến đã trình bày tại đại hội.
LÂM TÔ LỘCĐại tá - nhạc sĩ Đức Tùng, sinh năm 1926 tại Huế đẹp và thơ, đã mãi mãi xa quê: Ông mất ngày 25/01/2003. Ông viết ca khúc từ trước Cách mạng tháng Tám như Kỷ niệm ngày hè, Bên trời xa, Dòng Dịch thủy, Dưới ánh trăng mơ. Ông đã từng biểu diễn ca nhạc tại nhà hát Accueil, là cây Accordéon cầm chịch của ban nhạc gia đình ở phố Hàng Bè.
NGUYỄN KHẮC PHÊ Năm nay (2003), nhạc sĩ Trần Hữu Pháp (NSTHP) “mới” tròn 70 tuổi, nhưng dễ đã mấy chục năm, sau khi nhạc sĩ Trần Hoàn rời Cố đô ra Hà Nội nhận các trọng trách, NSTHP nghiễm nhiên ngồi “chiếu trên”, là “già làng” của giới âm nhạc Thừa Thiên Huế. Kể cũng phải; từ bốn mươi năm trước, khi hàng triệu thiếu nhi miền Bắc đội mũ rơm dắt lá nguỵ trang đến trường, miệng líu lo ca bài hát ông vừa sáng tác “Tiếp đạn nào / Tiếp đạn chuyền tay trên chiến hào / Cho chú dân quân bắn nhào phản lực...” thì không ít các nhạc sĩ nổi danh bây giờ có lẽ còn... bú mẹ! Vậy mà trước mắt tôi (và chắc là với không ít người nữa) - nói ông anh đừng giận nhé - vị nhạc sĩ lão làng này lại rất...trẻ con!
NGUYỄN TRỌNG TẠO...Người ta thường nhắc tới Thái Quý như nhắc tới một con người giàu tình cảm, dễ khóc, dễ cười, dễ nóng giận và cũng rất vị tha. Nói đến khuyết điểm của mình trong cuộc họp, anh khóc đã đành, nhưng khi chỉ trích khuyết điểm của đồng đội, anh cũng khóc...
NGUYỄN THANH TÚNăm ngoái, tôi tình cờ gặp nhạc sĩ Thái Quý khi ông đang bận rộn chỉ đạo "đoàn thành phố Huế" trước giờ ra sân khấu tham gia hội diễn ca múa nhạc công - nông - binh - trí thức do tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức tại nhà hát Trung tâm Văn hoá.
VĨNH PHÚCNếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền phát tán thành một dòng dân gian chuyên nghiệp là hát Ả đào và vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là Ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế.
VĂN THU BÍCHTừ bao đời nay, tình yêu Huế vẫn mãi chìm sâu trong lòng những người con xứ Huế, dù đang sống trên đất Huế hoặc đã biền biệt xa xứ và Huế mộng mơ cũng len nhẹ vào hồn du khách khi đến thăm vùng đất thần kinh này.
TRẦN NGỌC LINHBạn còn thương bạn biết gửi sầu về nơi mô?Trước khi tôi vào Huế, chị tôi dặn: “Vào muốn gặp bà Minh Mẫn cứ đến đường Nhật Lệ mà hỏi”. Theo cách nhớ đường của một người viễn khách từ xa đến thì đến phố đó cứ thấy đầu ngõ nào có một giàn hoa tử đằng với những dây hoa buông thõng chấm xuống nền đất vỉa hè thì đó chính là lối rẽ vào ngõ nhà danh ca Minh Mẫn.
TRẦN KIÊM ĐOÀNGọi tên hoa súng: LỤC HÀGọi thôn LIỄU HẠ: quê nhà bên sôngGọi TRẦN KIÊM: họ sắc... khôngGọi HÀ THANH: tiếng hát dòng Hương Giang