Nhan đi dọc bờ suối ngắt những đọt rau dớn. Hái được một bó vừa nắm tay, cô bứt dây leo cột chặt thả vào cái gùi mây sau lưng. Mớ rau này đem về cho bà nấu cơm trưa, còn một ít sẽ mang xuống huyện bán cùng rau cải trong vườn. Hơn mười ngày chưa xuống chợ, Nhan thèm cái náo nhiệt của chốn đông người, thèm bát bún bò thơm mùi húng lủi. Cô nhớ nụ cười của anh bán nông cụ, ghé mua lưỡi cuốc, thể nào anh cũng trêu cô mấy câu. Bà vẫn hay dặn Nhan: “Con trai nó trêu cứ ngậm miệng cười chứ đừng nói gì cả. Nói ra nó lòi hết cái vô duyên của mày.” Nghe lời bà, người ta nói gì cô cũng bẽn lẽn lặng thinh, dù lời nói có nhạt như nước ốc.
Nhan vẫn tiếp tục nghĩ về anh bán nông cụ. Chà, cái anh chàng đáng yêu tệ. Giọng anh nói mới hay làm sao, trên má có cái nốt ruồi nhỏ nâu nâu không lẫn với ai được. Gặp nhau rồi, về nhà Nhan nghĩ mãi đến anh. Bao nhiêu lần, trong nỗi mơ mộng thầm kín, cô thấy anh dẫn bố mẹ họ hàng leo lên những dốc núi hiểm trở, lội qua mấy con suối lớn đến căn nhà của bà cháu Nhan hỏi cô làm vợ. Trước lời cầu hôn của anh, dù hạnh phúc trong lòng cô vẫn ra điều kiện, rằng nếu anh lấy cô thì phải để cô dẫn bà về ở cùng. Cô không muốn làm đứa cháu hư, cưới chồng rồi thì bỏ bà thui thủi một mình.
Nhan vừa đi vừa nghĩ, cái gùi sau lưng nặng dần, mớ rau tràn ra miệng gùi, rung rinh những đọt non mềm cong vòng cuộn tròn như xoắn ốc. Mặt trời lên cao bung tỏa ánh nắng giữa ngàn mây rực rỡ. Khói trắng bay là là từ các hốc đá không tan quấn chặt bước chân Nhan. Cô vốc một bụm khói vỗ lên mặt, hít hà mấy tiếng thật to. Những cánh bướm nháo nhác đập cánh phần phật như trời nổi gió. Nhan băng qua đám cây bụi rẽ xuống con đường mòn. Bông cúc tần vướng lên mái tóc loăn xoăn của cô những sợi màu ánh tím.
Nắng xuân rạng rỡ lênh láng chảy khắp rừng, mắt còn hấp háy vì lóa nắng, Nhan thấy trước mặt mình, từ bao giờ đã sừng sững một con gấu trắng. Con gấu đứng trên hai chân sau, vóc dáng to lớn, nhìn Nhan bằng đôi mắt âu sầu. Tiếng thở của nó thật ầm ĩ, nghe giống động cơ một chiếc máy cày, cái mũi ươn ướt phập phồng như mũi con trâu mộng. Nhan không thấy sợ hãi, cũng không thấy bất ngờ, chỉ nghe nhột nhạt dưới chân. Co chân lên, nhổ nước bọt vào kẽ, cô bứt ra con vắt đang oằn oại. Chỗ bị đốt chảy máu không ngừng, nếu là ở nhà cô sẽ đập một cục than hồng lấy bột rắc vào vết đốt để cầm máu, nhưng giữa rừng già, cô bình tĩnh chịu đựng cơn ngứa ngáy, búng con vắt đi thật xa.
Con gấu vẫn nhìn Nhan, buồn bã và nhiều hàm ý. Cô thở dài, cúi xuống hai bàn chân lấm lem, khí núi từ đâu ùa đến khiến mũi cô tê cứng. Nhan cởi cái gùi mây nặng trĩu thả xuống đất, một bó rau lăn ra nằm giữa đám cỏ. Công sức của cô suốt buổi sáng nay để đây đến chiều thế nào cũng có người thấy. Họ sẽ mang về cho bà cô hoặc mang về nhà mình. Đằng nào cũng như nhau cả, Nhan chỉ mong người ta biết cái gùi này là của cô.
Con gấu quay lưng đi về phía núi, Nhan lặng lẽ theo sau. Có nó mở đường, Nhan chẳng sợ gai đâm, cũng chẳng sợ rắn rết. Được mấy giờ mỏi chân không đi nổi nữa, Nhan tìm đến mô đá bằng phẳng ngồi nghỉ mệt. Con gấu nằm yên bên cạnh cô, dãi ứa ra từ hàm răng nhọn. Nhan quay đầu sang nơi khác, nhắm mắt lại nghe hơi ẩm từ phiến đá thấm dần vào người. Đã qua giờ cơm trưa, chắc bà đã dùng bữa rồi, như mọi khi bà để phần cô một bát to. Chảo thịt rắn mối xào sả ớt lúc tối vẫn còn, bà ăn nhín, chừa cho Nhan những miếng ngon nhất.
Con gấu bước đến dụi mõm vào cánh tay Nhan, cô vuốt ve bộ lông dày của nó, dịu dàng như nựng một con vật cưng. Rất tự nhiên, Nhan trèo lên lưng gấu, để nó cõng qua những tầng rừng dày, chỗ ấy ẩm ướt và buốt lạnh, hầu như chưa bao giờ được mặt trời chiếu đến. Nhan nghe tiếng bò trườn ầm ĩ của các loài rắn độc, những con rết to bằng cổ tay nấp trong hốc đá khua chân lạo xạo. Có những loài chim sải cánh thật dài, lông vũ lông mao óng ánh như rắc kim tuyến, chúng đậu trên cành cao, giương đôi mắt trong như hạt ngọc nhìn Nhan.
Nhan mân mê hai cái tai mềm của con gấu trắng, cô lại nghĩ đến bà. Những năm còn thơ bé, Nhan ngủ cùng bà trên cái chõng tre kê góc nhà, bà hay vuốt tóc cô, kể về những tháng ngày xa xưa, hồi ấy bà và bố mẹ Nhan còn ở dưới lòng hồ. Chỗ ấy đẹp lắm, có sông có đồng, có những ngôi nhà nằm thiêm thiếp sau lũy tre xanh. Thế rồi một ngày người ta xây đập, cả làng phải di cư lên vùng núi cao, nước dâng từ từ, ngập đến đâu thì gồng gánh rời đi đến đấy. Nhà cửa làng mạc chìm sâu trong lòng nước, cái đồi cao thật cao giờ thành cái cồn nổi giữa hồ, cây mọc ngút ngàn, chim bay mỏi cánh thì sà xuống đậu.
Những đêm mưa rừng não nề, người lớn tuổi ngồi bên bếp lửa đỏ nghe tiếng giọt nước chảy trên mái gianh, vẫn hay cười bảo cầu trời cho mưa thật lớn, vỡ đập rồi là sẽ được về lại quê hương. Hồi ấy Nhan còn nhỏ, nghe chẳng hiểu gì. Sau này biết hơn tí chút thì chỉ thấy thương cho niềm mong ước ấy. Về lại chỉ còn sình lầy, mấy cô bác nhớ quê mà nói nhảm. Bà Nhan cũng nhớ quê mà chẳng bao giờ thở than. Bà chịu đựng suốt một đời, buồn đau nuốt vào lòng biến thành cái lõi cứng. Lúc bố mẹ Nhan bị cây đè chết, Nhan khóc ngất, thế mà mắt bà vẫn ráo hoảnh.
Kể từ ngày ấy nhà chỉ còn lại hai bà cháu. Nhan lớn lên trong vòng tay bà, dù bà hay mắng Nhan, lấy roi mây đánh Nhan, cô vẫn tự nhủ mai này sẽ chăm sóc bà, lấy chồng cũng dẫn bà theo ở cùng. Thế mà bây giờ chuyện đã khác rồi, Nhan không về với bà được nữa. Bà đứng trước hiên đợi Nhan, bà ra ngoài ngõ trông về phía núi, tóc trên đầu bạc thêm, những nếp nhăn hằn sâu hơn, đôi mắt mờ đục đi, thế mà vẫn không thấy Nhan đâu. Nghĩ đến đấy, Nhan bật khóc. Bất hạnh chờ chực xung quanh, đâu ai ngờ được chuyện gì sẽ đến.
Mấy năm trước chị Han gần nhà Nhan lên rừng đốn củi, tối mịt rồi chẳng thấy chị về, người ta định đốt đuốc đi tìm thì thấy bóng chị lừ lừ đầu ngõ. Thời gian sau bụng chị to dần, đủ ngày đủ tháng thì sinh được thằng bé kháu lắm. Con hơn ba tuổi chị để cho bố mẹ nuôi, một mình xuống xuôi tìm việc, từ bấy đến nay chẳng thấy chị về thăm nhà. Năm ngoái chị Miên cãi nhau với chồng, giận quá chị bỏ vào núi, hôm sau người ta thấy chị chết dưới gốc cây gạo, hoa gạo rơi đỏ người chị, đẹp như nàng tiên đang ngủ.
Nhan khóc thương các chị ấy, bây giờ đến lượt cô xót xa cho mình. Đeo gùi lên rẫy, Nhan hay nhìn theo dòng suối chảy, hình dung đến những vùng đất chưa bao giờ đặt chân đến. Ở đó có tiếng nói tiếng cười, có giống cây giống vật xa lạ và đẹp đẽ. Những nhát cuốc Nhan bổ xuống lớp đất cứng cứ nảy tưng lên. Đất đỏ như máu, mấy con giun bị lưỡi cuốc phạt đứt. Bà cô kể có nhà sư nọ đào đất trồng cây, xắn phải con giun, thấy nó ngoe nguẩy, ông kinh hãi vứt cuốc tụng kinh sám hối, tụng bao nhiêu vẫn không hết ám ảnh, ông vun lá khô ngập mình châm lửa tự thiêu.
Nhan mong câu chuyện bà kể không phải chuyện thật. Loài giun có khả năng tái sinh, khi bị đứt đôi, chúng không chết mà trở thành hai con chỉ sau một thời gian ngắn. Nhan biết thế nên chẳng xót xa, cứ miệt mài bổ cuốc, tra hạt, lấp đất như cái máy. Đất xấu, bọn giun kiếm ăn vất vả, con nào con nấy bé tẹo. Đất xấu, người làm lụng cũng vất vả, trời nắng hay mưa, lên nương là mồ hôi chảy ra như tắm. Nhan đã bổ bao nhiêu nhát cuốc xuống đất này, chẳng ai rỗi hơi mà tính. Chỉ biết lưỡi cuốc nhanh cùn mẻ, cô hay ghé hàng nông cụ cũng vì thế.
Nhan gục mặt xuống lưng gấu, cô kể với nó về tuổi ấu thơ, về thời niên thiếu, về bố mẹ mình, về người bà tóc bạc lưng còng đang chờ ở nhà. Nhan không nhớ anh bán nông cụ nữa. Người ta chỉ nghĩ đến tình yêu khi vui vẻ trong lòng, còn lúc cận kề sinh tử tình cảm ấy không hề thích hợp. Mặc Nhan rên rỉ, con gấu vẫn lặng thinh, nó thung dung đi giữa rừng già như chúa tể. Nó không đáp lời Nhan, nỗi bất hạnh và cái chết không có tiếng nói, niềm vui và sự sống cũng không có tiếng nói. Tiếng nói là của con người trong những hoàn cảnh ấy cất lên, thống thiết hoặc thống khoái.
Nhan khóc mãi đã thấy mệt. Cô quệt nước mắt, hốc mũi tê tái. Năm ngoái bà cụ dưới dốc nhà Nhan hấp hối, người ta để cái gương trước mũi cụ, không thấy hơi nước đọng thì biết cụ tắt thở. Nhan sợ mình tắt thở, cô căng lồng ngực hít một hơi dài. Nhớ lần Nhan đi mò ốc bị trúng nước nằm liệt giường, mũi nghẹt cứng chỉ thở được bằng miệng. Bà đi bộ xuống bệnh xá xin thuốc cho Nhan, những viên thuốc tròn dẹt đủ màu đắng nghét. Yếu mệt không nuốt nổi bát cơm khô, Nhan nằm mê man, đắp mấy cái chăn một lúc vẫn nghe gió lùa qua khe ván ngọt cắt thịt.
Nhan co chân lên, vết vắt đốt trong khe ngón đã ngừng chảy máu. Chỗ ấy ngứa ran, dính những vệt máu đông lợn cợn thoảng mùi gỉ sắt. Nhan vén tóc nhìn xuống cổ áo, hai bầu ngực cô căng tròn, những mạch máu xanh lặn dưới làn da trắng ửng như cánh hoa bướm bạc. Những lúc tắm ở suối, Nhan hay tìm chỗ nước chảy đầm mình thật sâu, nghe dòng nước mơn trớn làn da, vỗ về những chỗ sâu kín nhất. Có gã trai nấp sau bụi rậm nhìn Nhan. Cô không xấu hổ, cũng không khinh ghét, chỉ khỏa nước lên thân thể, chăm chút như tẩy trần một ngôi đền và nghĩ đến anh bán nông cụ, ước cái gã trên kia là anh.
Con gấu vẫn chậm rãi bước đi. Qua tầng rừng dày đến tầng rừng thưa, nắng rơi qua khe lá những mảng sáng vàng sậm, trời đã chiều rồi, tiếng chim buổi chiều khác tiếng chim buổi sớm. Đây là buổi chiều cuối cùng trong cuộc đời mình, Nhan lan man nghĩ. Bây giờ thì cô không còn tiếc xót nữa, nỗi đau và niềm thương nhớ cô đã bỏ lại sau đuôi con gấu rồi. Nhan nghe đám bạn kể về con đường xuống hoàng tuyền, chúng kháo nhau dọc đường nở đầy hoa bỉ ngạn. Bây giờ Nhan có thể đường hoàng cười vào mũi lũ ngu ngốc ấy. Chẳng có hoa lá gì đâu chúng mày ạ, chỉ có nỗi cô đơn thôi. Cô đơn như lúc chui ra từ bụng mẹ bị bà đỡ cầm lưỡi hái cắt dây rốn và tét vào mông ấy.
Cầu trời cho đám ngốc được sống yên ổn. Nhan thành tâm nghĩ trong khi con gấu leo lên một vách đá dựng đứng. Ở vị trí này, Nhan nhìn rõ thung lũng mình sinh sống, trông nó thật thảm hại giữa thiên nhiên hùng vĩ, y hệt cái sẹo xấu xí trên gương mặt cô gái đẹp. Mây giăng qua mắt Nhan, vướng trên rèm mi cô những sợi mỏng như tơ nhện. Mặt trời giờ đây gần Nhan hơn lúc ở dưới nhà, những tia nắng bén nhọn như kim khâu đâm vào da thịt cô, nóng rẫy và tê buốt.
Gấu trắng ơi, gấu trắng à, mày đi mãi như thế không mỏi chân hay sao. Mày ngoái đầu lại nhìn xuống thung lũng dưới kia đi, cái vệt trắng ngoằn ngoèo lóa nắng là dòng nước uốn lượn giữa ghềnh đá, dãy gò đồi cây mọc ngay hàng thẳng lối là rẫy keo lá tràm. Gấu trắng biết cây keo để làm gì không? Để làm giấy đấy, sách vở học trò từ gỗ keo mà ra. Cái khối trăng trắng kia là trường học, trông gần vậy thôi nhưng đi nửa ngày mới tới. Mùa đông lạnh lẽo, tao cầm bọc cơm nắm bà cho, vừa ăn vừa leo dốc đến trường, sương mù đậm đặc, phải vén sương như vén rèm mà đi.
Ôi, cái vách đá mày leo sao mà dựng đứng, gió thổi ù ù như có con vắt trong tai. Ngày còn bé, tao nhìn lên đỉnh núi cao nhất mà hỏi đằng sau nó có gì. Bà bảo chỉ có núi thôi, hết núi này tới núi nọ, trùng điệp không dứt như năm tháng đời người. Tao chán nghe bà nói quá, toàn mấy lời bi quan. Trên vách ván gỗ nhà tao treo tờ lịch chụp cảnh biển, lịch cũ rồi, từ năm nảo năm nào. Tao đoán sau ngọn núi này là biển. Tao chưa thấy biển bao giờ. Mày cõng tao đến biển được không?
Nhan lầm rầm như độc thoại. Cô không còn sức nữa, giọng nhỏ dần như tiếng gió vi vu. Con gấu chẳng cõng Nhan đến biển, nó cõng cô lên đỉnh trời, đấy là thánh đường của nó nhưng là tử địa của cô. Lưng gấu êm như tấm đệm nhung, Nhan chưa từng nằm đệm nhung, chỉ nằm đất hoặc nằm trên cái vạt giường cũ mục, cựa mình một cái nó kêu như sắp gãy. Trời tối rồi, trăng đã mọc, vầng trăng lưỡi liềm mảnh mai thật đẹp, giá mà lấy nó làm cái gối ngả đầu thì chắc sẽ ngủ ngon lắm. Nhan bật cười với ý nghĩ của mình, vẫn đăm đắm nhìn trăng.
Như thực hiện một nghi thức hiến tế, con gấu đứng thẳng trên hai chân sau, trang trọng bế Nhan bằng hai chân trước. Bóng nó lồng trong mảnh trăng non gác trên đỉnh núi, nhìn xa giống hệt chiếc thuyền trôi giữa khói sương. Nhan vươn tay chạm vào vầng trăng bạc, nghe buốt lạnh cả người. Con gấu ngửa cổ gầm lên một tiếng thật vang, tiếng gầm thổi bay những sợi mây bạc và lay chuyển những ngọn du sam cao nhất. Đêm vừa bắt đầu, một đêm mùa xuân ẩm ướt buốt lạnh. Phía dưới thung lũng, những ngôi nhà lúp xúp kề chân núi thắp lên ánh điện, bao ngọn lửa đỏ bập bùng trong gian bếp ấm, Nhan chẳng còn xuống dưới ấy được nữa, cô ở mãi lại đây, với con gấu trắng, với mảnh trăng này...
L.N
(TCSH436/06-2025)
Tải mã QRCode
NGUYỄN NGỌC PHÚKhông ai biết tung tích lão Ngư. Nghe đồn rằng: một sớm nọ, ông bõ già của nhà thờ xứ làng vạn chài ra mở cửa thì nghe tiếng trẻ con khóc oa oa từ chiếc thúng đặt ở bậc tam cấp lên xuống của nhà thờ.
NGUYỄN SANSinh cố kiềm chế tối đa để khỏi phải văng tục trước thái độ đầy xấc láo, ngạo mạn của ông Đi.
NGUYỄN THANH HIỆNNgày nay, mỗi lần nhắc đến hát bội, dân làng Lâm Thượng lại nhớ chuyện ông hương cống Duật, người soạn tuồng Cuộc hội quân ở bến Mạnh Tân, nổi tiếng một thời.
NHƯ BÌNHCây gạo cụt đầu làng chết câm bao năm. Thân cổ thụ xù xì hóa đá đứng lù lù trước cổng làng, lặng lẽ không đếm xỉa đến thời gian. Mùa xuân năm đó bỗng dưng bật trồi lên ba cái nhánh. Ba nhánh gạo đâm tõe lên trời rùng mình thản nhiên xòe ra những chấm lá xanh.
HOÀNG THÁI SƠNTổng Giám đốc Liên hiệp Xí nghiệp cao su Nam Mê Công xiết chặt tay Long:- Hẳn anh không ngờ có cuộc hội ngộ này?
KIM NHẤTĐám ma bà Gái thật là buồn! Ngoài một số bà con trong xóm nghèo cùng mấy đứa nhóc lượm nhôm nhựa với bà thì chẳng có ai là họ hàng thân thích.
NGUYỄN QUỐC ANHNgày ngày cuốc đất, gánh phân, cào cỏ. Ngày ngày đã diễn ra như thế, đơn điệu và buồn tẻ. Buổi tối, những đồi chè từ màu xanh chuyển sang màu xanh thẩm, những đêm đông thì đen đặc mông lung, vô tận.
HỒNG NHU1.Ngài thủy tổ khai canh dòng họ Âu ở Tường Niêm xuất thân là một người lính trong đạo quân Trung Nghĩa của Chúa Nguyễn Hoàng khi Chúa vào trấn thủ Thuận Quảng.
NGUYỄN VIỆT HÀCô đến và vẫn như mọi khi, anh đang vẽ. Trời xam xám mầu của gió mùa Đông Bắc những đợt vớt vát cuối.
PHAN VĂN LỢINhững ngày cuối năm 1970. Hướng chiến dịch của mùa khô mới đã được xác định. Địch sẽ huy động một lực lượng lớn các đơn vị quân chủ lực tinh nhuệ phối hợp với quân ngụy Lào, có sự chi viện tối đa hỏa lực pháo binh và không quân Mỹ để tiến hành một cuộc hành quân quy mô dọc đường Chín nhằm cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược của ta, sau đó sẽ nống ra đánh phá đường giao thông và các kho tàng hậu cần của tuyến đường Trường Sơn vùng Trung - Nam Lào.
THẠCH QUỲ1.Ở góc đường phố Lê Ngọa Triều có một quán rượu nép dưới bóng cây ngô đồng xum xuê như chiếc lọng xanh. Bên cạnh quán rượu là dãy hàng hoa. Hoa hồng, hoa cúc, hoa mi-mô-da cắm đầy trong các xô nhựa.
NGUYỄN NGỌC LỢIBóng chiều phủ xuống núi rừng một màu xám ảo mờ. Đã hết một ngày quần quật của đám phu đãi vàng. Lúc này trên xà lan đang diễn ra bữa cơm chiều. Đám phu ngồi bệt trên mảnh sàn nhớp nhúa, bưởng trưởng cách đó một đoạn có mâm có chiếu.
LÝ BIÊN CƯƠNGNgười đàn bà ấy sợ bóng tối, sợ đêm về.
NGUYỄN THIÊN VIỆTSau khi tốt ngiệp khoa Văn trường Đại học Tổng hợp Hà nội, tôi được phân làm biên tập viên của một tờ báo địa phương. Thế rồi khát vọng bay nhẩy và mong muốn kiếm ít vốn đã đưa tôi sang Liên Xô hợp tác lao động.
NGUYÊN QUÂNTheo chân những con người một thời bỏ chạy mất dép, giờ lũ lượt quay trở về với nhãn mác sang trọng Việt Kiều yêu nước và cùng lúc với sự khai mở cánh cửa hướng ra bên ngoài của nền kinh tế vốn rất cạn kiệt, trì trệ sau cuộc chiến tranh dai dẳng.
TÔN NỮ THANH TỊNHAnh nhìn đầu tiên của cô gái làm tôi xao xuyến. Đôi mắt long lanh, trên khuôn mặt trái xoan điểm nụ cười duyên, mái tóc đen mượt phủ ngang vai. Dáng nhẹ nhàng, thanh thoát trông như một nhành lan.
NGUYỄN HOÀNG ĐỨCA, không biết có phải cậu ta không, trông oách quá. Chợt cái thân hình mập ú xúng xính trong chiếc Veston ngoại lượn xoáy một vòng rất kiểu cách trên đôi giày bóng như quang dầu nơi khúc quặt góc hồ.
NGUYỄN CẨM HƯƠNGBỏ dép, tôi thả bộ trên cát ướt. Bàn chân chạm lên những xác cua còng, vỏ sò... có hơi kến một chút nhưng tôi được tiếp nhận sức sống dồi dào từ lòng đại dương thấm vào da thịt. Lâu lắm tôi mới lại đi trên bãi biển như thế này và hơn thế lại với một người đàn ông.
NGUYÊN QUÂNGã vẫn lầm bầm, cái điệu nói nuốt âm trong cổ họng càng làm tôi điên tiết. "Mẹ kiếp! đồ cơ hội!". Tôi chợt khoái trá, dù tôi biết chắc chắn rằng cái khoái trá ấy chẳng lọt đến đôi tai vểnh ngược rất khó ưa của gã nhà đò.
VĨNH NGUYÊNEm nằm trên tấm ra trắng. Dưới tấm ra còn lót đệm nước mát. Mắt nhắm. Lồng ngực phập phồng theo nhịp thở đều.