MAI ANH TUẤN
Cụm từ “văn chương Nguyễn Huy Thiệp” không chỉ được tạo ra bởi và thuộc về giai đoạn văn học Đổi mới (1986) mà giờ đây, rộng rãi và phức tạp hơn rất nhiều, đã có mặt trong nhiều nghiên cứu Việt Nam (Việt học) đương đại, từ văn hóa văn chương đến chính trị - xã hội.
Tác phẩm đã xuất bản của Nguyễn Huy Thiệp - Ảnh: vnexpress
Tại sao Nguyễn Huy Thiệp (xin viết tắt NHT) trở thành cái tên được nhắc đến trước tiên nhất, đảm bảo khả tín lựa chọn nhất, với khả năng gây tranh luận, bàn cãi chưa hề ngừng nghỉ ở các lá phiếu chấp thuận hoặc phản đối, dù tọa độ thời gian đã có hơn ba thập niên điềm tĩnh và cân nhắc tiếp nhận kể từ khi hiện tượng này xuất hiện? Trong tâm thế đối mặt câu hỏi thử thách này, NHT được hình dung là một tác gia văn học sử lí tưởng. Nhưng để bắt đầu giải mã một tác giả văn học sử, công việc cần thiết và quan trọng đầu tiên là phải nắm chắc diễn trình văn chương, một tư liệu cho phép chúng ta nhìn lại chi tiết hơn những thời điểm, tiếng nói, văn phong, thể loại của tác giả. Với những tác giả có vị trí nổi bật như NHT thì cách ông xuất hiện, tạo lập và gây hiệu ứng trên văn đàn không đơn giản là nỗ lực của cá nhân ông mà còn tương thông với bối cảnh đương thời. Bài viết sẽ đưa các cứ liệu và phân tích để chứng minh điều đó.
Niên biểu văn chương NHT
Niên biểu này được tôi dựng trên bốn trục chính: 1. Thời điểm viết theo tác giả xác nhận ở mỗi tác phẩm, có thể chưa đăng in nhưng buộc phải tái hiện trọn vẹn; 2. Các dấu mốc đăng in, xuất bản quan trọng ở trong và ngoài nước; 3. Phê bình, nghiên cứu và làn sóng tiếp nhận của công chúng qua vài xu hướng chính; 4. Một số sự kiện văn chương nghệ thuật và xã hội nổi bật có liên quan, tác động đến trường văn chương NHT. Các lựa chọn đều được dựa trên mức độ quan trọng, khả năng gây ảnh hưởng, dư âm của nó và sẽ được giải thích thêm khi cần thiết. Các chữ viết tắt được dùng: Truyện ngắn (Tr.ng); Kịch (K.); Tiểu thuyết (T.T); Tiểu luận, giới thiệu, phê bình (T.L).
1971: - Tr.ng: Trái tim hổ; Con thú lớn nhất; Nàng Bua. 1979: - Hội nghị đảng viên của Hội Nhà văn bàn về sáng tác, xuất hiện phát biểu của Nguyên Ngọc, về sau được gọi là “Đề dẫn”, H: (11 - 13/6/1979); - Hoàng Ngọc Hiến, Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua (Văn nghệ, s.23). 1981: - Tr.ng: Tiệc xòe vui nhất. 1982: - Tr.ng: Sói trả thù; Đất quên; Tâm hồn mẹ. 1983: - Tr.ng: Huyền thoại phố phường; - Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ III. 1984: - Tr.ng: Nạn dịch; Sạ; Chiếc tù và bị bỏ quên; Cún. 1985: - Tr.ng: Chảy đi sông ơi; Chút thoáng Xuân Hương. 1986: - Tr.ng: Tướng về hưu; Muối của rừng; Nàng Sinh; Cô Mỵ (Văn nghệ, s.18); Vết trượt (Văn nghệ, s.39). 1987: - Tr.ng: Không có vua; Những chuyện kể bất tận của thung lũng Hua Tát: Ngẫu vật thiêng liêng, Sạ, Chiếc tù và bị bỏ quên, Tiệc xòe vui nhất (Văn nghệ, s.3 + 4); Huyền thoại phố phường (Văn nghệ, s.11); Tướng về hưu (Văn nghệ, s.24 + 25 + 26); - Loạt bài đầu tiên thảo luận “Tướng về hưu”, mở đầu cho chuỗi phản ứng liên tiếp của cộng đồng đọc về hiện tượng NHT: Chu Huy, Đôi điều về truyện ngắn “Tướng về hưu”; Nguyễn Hòa, Cảm nhận về một truyện ngắn; Đặng Anh Đào, Khi ông “Tướng về hưu” xuất hiện; Phùng Văn Tửu, Một câu chuyện thôi thúc chúng ta cùng suy nghĩ (Văn nghệ, s.36, s.37); - Nguyên Ngọc có quyết định về làm Tổng Biên tập báo Văn nghệ, tháng 6/1987; - Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh gặp mặt và làm việc với gần 100 văn nghệ sĩ và các nhà hoạt động văn hóa, ngày 6 - 7 tháng 10; - Bộ Chính trị ra Nghị quyết về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học nghệ thuật và văn hóa (Nghị quyết 05) ngày 28/11; -Nguyễn Minh Châu, Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (Văn nghệ, s.49 + 50). 1988: - Tr.ng: Con gái thủy thần (truyện thứ nhất); Những người thợ xẻ; Những bài học nông thôn; Giọt máu; Kiếm sắc (Văn nghệ, phụ trương đặc biệt kỉ niệm 40 năm báo 1948 - 1988); Vàng lửa (Văn nghệ, s.18); Phẩm tiết (Văn nghệ, s.29 + 30); - NHT, Tướng về hưu, Nxb. Trẻ - Tuần báo Văn nghệ. Đây là tập truyện đầu tiên của NHT ấn hành ở Việt Nam; - Hoàng Ngọc Hiến, Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió (viết tháng 10/1987, được dùng làm “Lời giới thiệu” cho tập truyện trên); - Nguyên Ngọc thôi chức Tổng Biên tập báo Văn nghệ vào tháng 12/1988. 1989: - Tr.ng: Con gái thủy thần (truyện thứ hai); - T.L: Một góc sơ suất trong thế giới nội tâm nhà văn; Khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn; - NHT, Những ngọn gió Hua Tát, Nxb. Văn hóa; - Greg Lockhart, Tại sao tôi dịch truyện ngắn NHT ra tiếng Anh (Tạp chí Văn học, s.4); - Nguyễn Thị Bình và Nguyễn Hải Hà, Xung quanh “hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp” (Tạp chí Văn nghệ quân đội, s.4); - Nhiều tác giả, NHT tác phẩm và dư luận, Huế: Tạp chí Sông Hương và Nxb. Trẻ; - Phim Tướng về hưu, đạo diễn Nguyễn Khắc Lợi, giải Bông sen bạc tại LHP Việt Nam lần IX. Hiệu ứng Tướng về hưu, như vậy, đã lan sang một lĩnh vực khác là điện ảnh. Cần biết rằng, trong lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam, chưa một bộ phim nào chuyển thể một tác phẩm văn học ngay tức thì như trường hợp Tướng về hưu; - Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IV. 1990: - Tr.ng: Mưa; Đời thế mà vui; Nguyễn Thị Lộ; Trương Chi; Tội ác và trừng phạt; - K: Còn lại tình yêu và T.L: Khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn (Sông Hương, s.3. Từ đây, tạp chí Sông Hương trở thành không gian quan trọng cho sự xuất hiện đa thể loại của NHT khi mà cao trào đổi mới trên Văn nghệ tại Hà Nội đã lắng xuống); - NHT, Un général à la retraite [Tướng về hưu], Éditions de l’Aube, Pháp. Nhà xuất bản l’Aube, từ đây, sẽ còn tiếp tục xuất bản, tái bản tác phẩm NHT như một công việc thường niên; - NHT, II generale in pensione [Tướng về hưu], Eurostudio, Ý. 1991: - Tr.ng: Sang sông; Thiên văn; Chuyện tình kể trong đêm mưa; - K: Nhà tiên tri; T.L: Nhà văn và bốn trùm “Mafia” (tạp chí Sông Hương, s.3). 1992: - Tr.ng: Thương nhớ đồng quê, Mưa Nhã Nam; - K: Cái chết được che đậy; - T.L: Con đường của nhà thơ; Con đường văn học; - NHT, The general retires and other stories [Tướng về hưu và những truyện khác], Oxford University Press, Hoa Kỳ; - Nguyễn Đăng Mạnh, Truyện ngắn NHT, vài cảm nghĩ (Cửa Việt, s.16, 8/1992. Một sự lên tiếng tiếp theo đến từ miền Trung, đánh dấu thời kì nổi bật của Tạp chí Cửa Việt). 1993: - K: Xuân hồng; - NHT, Con gái thủy thần, Nxb. HVN; NHT, Le Coeur du tigre [Trái tim hổ], Pháp; - T.N.Filimonova, Lịch sử Việt Nam qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Moskva, Nga. 1994: - K: Hoa sen nở ngày 29 tháng 4; - NHT, Xuân Hồng, California: Tân Thư xuất bản, Hoa Kỳ. 1995: - NHT, Như những ngọn gió, Nxb. Văn học; - NHT, Tijgerhart [Trái tim hổ], Hà Lan; - Phim Thương nhớ đồng quê, dựa trên truyện ngắn cùng tên, đạo diễn Đặng Nhật Minh, giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại LHP Việt Nam lần thứ XI; - Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ V. 1996: - Tr.ng: Thương cho cả đời bạc; Chăn trâu cắt cỏ; - NHT, Les Démons Vivent Parmi Nous [Quỷ ở với người], Pháp. 1997: - Tr.ng: Hạc vừa bay vừa thảng thốt; Không khóc ở California; - NHT, La vengeance du loup [Sói trả thù], Pháp. 1998: - Tr.ng: Con gái thủy thần (truyện thứ ba); - K: Suối nhỏ êm dịu. 1999: - Tr.ng: Bài học tiếng Việt; - NHT, Conte d’amour un soir de pluie [Truyện trình kể trong đêm mưa], Pháp. 2000: - Tr.ng: Sống dễ lắm, Đưa sáo sang sông; - T.L: Lưới thơ; Cười lên đi; Lòng mẹ; Giá phải chăng; - NHT, Thương cho cả đời bạc, Nxb. VHTT; - Đỗ Đức Hiểu, Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (Sông Hương, s.136); - Phim Những người thợ xẻ, đạo diễn Vương Đức, giải Bông sen bạc tại LHP Việt Nam lần thứ XII. 2001: - Tr.ng: Thổ cẩm; Những người muôn năm cũ; Chuyện ông Móng; Lòng mẹ; - K: Suối nhỏ êm dịu - T.L: Giăng lưới bắt chim; Khổ câu thơ cứ đến rồi lại đi; Lê Kim Giao: tên nghiện văn chương; Cua ngoi lên bờ mẹ em xuống cấy; Sao cứ đùa anh là Thạch Nhọn?; - NHT, Suối nhỏ êm dịu, Văn nghệ xuất bản, Hoa Kỳ; - NHT, Skogens salt [Muối của rừng], Svenska, Thụy Điển; - Nhiều tác giả, Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Xuân Nguyên sưu tầm và biên soạn, Nxb. VHTT. 2002: - Tr.ng: Chú Hoạt tôi; - T.T: Tuổi 20 yêu dấu; - NHT, L’Or et le feu [Vàng và lửa], Pháp. 2003: - T.L: Hiện tượng Vi Thùy Linh; Xin đừng làm chữ của tôi đau; Nguyễn Bảo Sinh, nhà thơ dân gian; Giới thiệu Đồng Đức Bốn; Thời của tiểu thuyết (Ngày Nay, s.19 + 20 + 21 + 22. Ngày Nay, cơ quan ngôn luận của UNESCO ở Việt Nam, một không gian trung lập, thậm chí không dính dáng đến văn nghệ, đã được NHT chọn để phát biểu quan điểm văn chương. “Tiểu thuyết mua vui” trong bài viết này đã là câu cửa miệng nhiều nơi và là căn cứ để người khác phản biện ông); - NHT, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Trẻ; - NHT, Tuyển tập kịch, Nxb. Trẻ; - NHT, Crossing the River: short fiction [Sang sông: tuyển truyện ngắn], Curbstone Press, Hoa Kỳ. 2004: - Tr.ng: Cánh buồm nâu thuở ấy; Những tiếng lòng líu la líu lo; Chuyện bà Móng; Quan Âm chỉ lộ; - K: Mổ nhà văn; - T.L: Hoàng Ngọc Hiến: Viên ngọc hiếm; Về chiêu pháp “túy quyền” trong văn học của một nhà văn; Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn (Ngày Nay, s.4 + 5 + 6. Đây là một tiểu luận gây phản ứng dữ dội bậc nhất và một lần nữa, những ý kiến phủ nhận đã nhắm vào tác giả và cả người đứng đầu tờ báo); 2005: - T.T: Võ lâm ngoại sử; - T.L: Thương bạn Đồng Đức Bốn; Nhớ bạn Đồng Đức Bốn; - NHT, Giăng lưới bắt chim, Nxb. HNV và Đông A; - NHT, Cánh buồm nâu thuở ấy, Nxb. HVN và Đông A; - NHT, À nos vingt ans [Tuổi 20 yêu dấu], Pháp; - Hội thảo “Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy” tại Đại học Sư phạm Hà Nội: Trần Văn Toàn, Nhà văn hiện đại Việt Nam - những giới hạn và sứ mệnh (Suy nghĩ từ những sáng tác của NHT); Châu Minh Hùng, Cuộc tìm kiếm hình thức đa thanh mới của văn xuôi hiện đại qua cấu trúc truyện của NHT; Lê Huy Bắc, “Bậc hiền triết - con chó xồm” hay kỹ thuật nhại của NHT. 2006: - T.L: Tính dục trong văn học hôm nay; Nhân ngày thơ, bàn về thơ; “Khải huyền muộn” - Cảm hứng và những dấu hiệu của hình thức nghệ thuật đương đại trong tiểu thuyết; Lại nói về những dấu hiệu của hình thức nghệ thuật đương đại trong tiểu thuyết; Giời không có mắt; Không nhạt; - NHT, Tiểu long nữ, Nxb. CAND; - Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội về thể loại phê bình dành cho Giăng lưới bắt chim. 2007: - Tr.ng: Cà phê Hàng Hành; - T.L: Trở lại tự nhiên; - NHT, Gạ tình lấy điểm, Nxb. HNV;- NHT, Truyện ngắn NHT (Với minh họa của các họa sĩ), Nxb. Văn hóa Sài Gòn; - NHT được nhận Huân chương Văn học nghệ thuật của chính phủ Pháp. 2008: - Tr.ng: Như sương khói bay; - K: Nhà Ô-sin; Đến bờ bên kia; - T.L: Diễn từ trong dịp nhận giải thưởng Nonino; - NHT, Soffi di vento sul Vietnam, [Những ngọn gió từ Việt Nam], ObarraO, Ý; - NHT, Mon oncle Hoat [Chú Hoạt tôi], Pháp; - NHT được nhận giải thưởng Nonino Risit d’Âur của Ý; - Đến bờ bên kia được trình diễn trong Liên hoan sân khấu thể nghiệm toàn quốc lần I. 2009: - T.L: Đất và người Nam bộ Việt Nam; - NHT, Der pensionierte General [Tướng về hưu], Mitteldeutscher Verlag, Đức. 2010: -NHT, Nhà Ô-sin, tập kịch, Nxb. Thanh Niên; - NHT, Mademoiselle Sinh [Nàng Sinh], Pháp. 2011: - Phim Tâm hồn mẹ, phỏng theo truyện cùng tên của NHT, đạo diễn Phạm Nhuệ Giang. 2012: - NHT, Vong bướm, Nxb. Thời đại và Nhã Nam; - NHT, Tuyển tập kịch, Nxb. Trẻ; - NHT, Crimes, amour et châtiment [Tội ác, tình yêu và trừng phạt], Pháp; - Nguyễn Văn Đông, Lời văn nghệ thuật NHT, Luận án tiến sĩ; - Nhà hát Tuổi Trẻ công diễn vở kịch Nhà Ô-sin, đạo diễn Lê Khanh. 2013: - Nguyễn Văn Thuấn, Liên văn bản trong sáng tác NHT, Luận án tiến sĩ. 2014: - T.L: Nhà văn và bốn “ông trùm” (Nghệ thuật mới, bộ mới, s.9); - La Khắc Hòa, NHT và bước ngoặt của văn học Việt Nam. 2015: - T.L: Tôi viết truyện “Tướng về hưu” (Tuổi Trẻ cuối tuần, tháng 6/2015); - NHT, Regn i Nhã Nam [Mưa Nhã Nam], Bokfưrlaget Tranan, Thụy Điển.
Một vài nhận xét
Khác với ví von có phần đơn giản rằng “NHT là bông hoa nở muộn trên văn đàn”, chúng ta thấy cuộc viết của NHT nảy sinh khá sớm, từ thập niên 1970, lúc ông ngoài hai mươi tuổi, và âm thầm xuất hiện vào năm 1986 trước khi thực sự bùng nổ vào năm 1987. Một quá trình viết như thế chắc chắn được điều chỉnh bởi sự quan sát, nghiên cứu kĩ lưỡng bạn đọc để “dọn ra món ăn tinh thần cho cả thời đại mình” sao cho “hợp thời” (Khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn). Theo thống kê của tôi, đến thời điểm này (6/2015), NHT có 110 tác phẩm, trong đó có 53 truyện ngắn, 4 tiểu thuyết, 13 vở kịch, còn lại là những tiểu luận, tạp văn, phê bình. Việc ông tuyên bố ngừng viết, “rửa tay gác kiếm”, “cuộc chơi kết thúc”1 phần nào phản ánh sự lắng lại của cao trào đổi mới văn học khi mà những điều kiện duy trì, tiếp sức cho nó không còn dồi dào, thuận lợi như trước.
Tác phẩm NHT, một cách liên tục, được “xoay vòng” xuất bản bởi hầu hết các nhà xuất bản lớn của Việt Nam. Đáng chú ý hơn, không lâu sau khi ông vừa nổi tiếng trong nước, biên giới tác phẩm NHT nhanh chóng được mở rộng ra nhiều cộng đồng ngôn ngữ khác nhau: từ tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ý đến tiếng Hà Lan, Thụy Điển, Đức, Nhật… Như vậy, không đợi đến ân sủng ngoại giao, NHT trở thành nhà văn Việt Nam đương đại có tính quốc tế đáng kể nhất và nhờ vị thế này, văn chương NHT được sử dụng như một tư liệu tìm hiểu Việt Nam của giới nghiên cứu Việt học trên thế giới. Trong phạm vi tiếp cận các nghiên cứu viết bằng tiếng Anh, tôi coi những tiểu luận dưới đây là nổi bật và có giá trị gợi mở hơn cả: Nguyen Huy Thiep and the Faces of Vietamese Literature [NHT và diện mạo văn học Việt Nam] của Greg Lokhart, vốn là một dẫn nhập cho Tướng về hưu và những truyện khác do ông dịch sang tiếng Anh, ấn hành năm 1992. Cũng vào năm 1992, tiến sĩ Peter Zinoman, với những am hiểu văn chương, xã hội Việt Nam sâu sắc của ông, đã cho đăng hai tiểu luận có tính chất mở rộng và đụng chạm nhiều vấn đề quan trọng: Nguyen Huy Thiep’s “Vang lua” and the Nature of Intellectual Dissent in Contemporary Vietnam [“Vàng lửa” của NHT và bản chất sự bất đồng tri thức trong xã hội Việt Nam đương đại] và Declassifying Nguyễn Huy Thiệp [Giải mật NHT]. Học giả Keith W. Taylor, từ 1991, sau nhiều lần hiệu chỉnh và bổ túc thì năm 1998 cũng đã công bố Locating and translating boundaries in Nguyen Huy Thiep’s short stories” [Định vị và chuyển dịch ranh giới trong truyện ngắn NHT], một tiểu luận thú vị và hấp dẫn, trên Vietnam Review. Cần sòng phẳng để nói rằng, không nhiều nhà văn đương đại của chúng ta được là một từ khóa nghiên cứu thường xuyên tái lặp như vậy.
Những tranh luận, phê bình về văn chương NHT đã phá vỡ các biên giới địa lí tiếp nhận và các không gian im lặng của tri thức. Trước hết, cần thấy sự dịch chuyển và lan rộng ngày một khác đi của không gian tranh luận Nguyễn Huy Thiệp, từ Văn nghệ tại Hà Nội, quá trình “nam tiến” tiếp nhận Nguyễn Huy Thiệp chạm đến những tiếng nói từ các tỉnh như Cửa Việt, Sông Hương, Đất Quảng, thậm chí Cánh Én, mà thực chất, là nới rộng những quan điểm có thể gây hiệu ứng hơn tại thời điểm đó. Và gần như đồng thời, loạt bài viết của Trần Đạo, Văn Ngọc, Thụy Khuê (Pháp), Nguyễn Vy Khanh (Canada), Trương Hồng Quang (Đức), Đào Trung Đạo (Mỹ), Nguyễn Đình Đăng (Nhật Bản)..., có ý nghĩa điển hình cho sự quan sát tinh tế, thẳng thắn của giới văn chương Việt hải ngoại đối với sự thay đổi có tính chất bước ngoặt của văn học trong nước mà cho đến đầu thập niên 1990 mới được tìm thấy qua loạt tác phẩm NHT xuất ngoại. Khi phê bình báo chí với không ít va chạm quan điểm đôi khi nảy lửa lắng lại, tiếp nhận NHT xuất hiện trong các nghiên cứu chuyên sâu, các luận văn, luận án và tại đây, trong lúc chỉ ra những đặc sắc bút pháp và tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, việc ứng dụng lí thuyết phê bình văn học trở nên đa hướng, từ thi pháp học, tự sự học, liên văn bản đến sinh thái học, hậu hiện đại… Đóng vai trò phép thử, tác phẩm NHT đã kích hoạt các phiêu lưu tìm biết, ứng dụng lí thuyết phê bình phương Tây và nhắc nhở về sự mất bóng dần của phê bình Mác-xít từng độc tôn lâu dài trước Đổi mới. Độc giả, giới phê bình Việt Nam và quốc tế, bằng việc đọc NHT, đã cùng gặp gỡ trên rất nhiều điểm vừa tương đồng vừa khác biệt. Chứng kiến một tác giả văn chương luôn hiện diện trong hàng loạt từ khóa nghiên cứu văn học, văn hóa Việt Nam đương đại như vậy, tất yếu, sẽ thôi thúc, nảy sinh nhiều cách diễn giải hơn nữa. Không kết thúc tạo ra sự lớn lao của nhà văn, với Nguyễn Huy Thiệp, nghĩa là như vậy.
M.A.T
(SH321/11-15)
.....................................
1. Năm 2012, sau khi in vở kịch Vong bướm, trên nhiều phương tiện truyền thông, Nguyễn Huy Thiệp đã tuyên bố “ngừng viết”. Đến thời điểm này, Nguyễn Huy Thiệp đã hoàn thiện bản thảo một cuốn tiểu thuyết võ hiệp nhưng chưa có điều kiện công bố. Cá nhân tôi đã được đọc bản thảo này và nhận thấy rất nhiều điểm lí thú, độc đáo trong đó.
Tải mã QRCode
PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...
TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".
MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.
HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.
TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H
TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.
TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.
NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...
BẢO CHI (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...
ĐỖ LAI THÚY Văn là người (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.
ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.
TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.
TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?
HOÀNG NGỌC HIẾN ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...
THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.
TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.
ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.
ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…
HỒ THẾ HÀ Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.
JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.