Bữa tối cuối cùng

09:47 29/10/2021

JENNIFER WALKUP   

Tôi sẽ không nói với ai về việc chẩn đoán.
Không hé răng với mẹ hay em gái tôi. Chắc chắn không phải Jake và có lẽ với Steve cũng không hề.

Ảnh: internet

Tôi sẽ mang mặt nạ như nhiều năm, ngay cả khi bên trong cơ thể tôi đang mục nát thối rữa như một quả cam đã nhũn ruột, hư sâu dẫu bên ngoài còn lớp vỏ da che lấp. Đối với thế giới, sẽ không có vết bầm dập, không mảng lốm đốm chảy nhão.

Không chút trầm cảm hay bạc nhược yếu lòng.

Tôi rửa chén dĩa, xả nước nóng xào xào trong khi chờ máy sấy kêu vo vo. Mưa nhỏ giọt trên khung cửa sổ, những giọt to xô đẩy giành nhau rơi trước.

Chiếc khăn lau họa tiết cổ điển của tôi đã cũ mòn, nó mỏng lắm rồi gần như không còn tác dụng thấm hút nữa. Tôi vùi tay vào khăn, nhét nếp vải vào giữa các ngón tay cho đến khi chúng khô hoàn toàn. Tôi chà xát ngón tay cho đến khi cảm thấy thô rát.

Mọi người sắp đến. Bàn đã bày biện xong.

Khuấy nước sốt. Khuấy, khuấy. Công thức bữa tối thứ Bảy của tôi. Mỗi tuần. Khuấy, khuấy.

Tôi thậm chí còn không biết phòng khám của bác sĩ Morris có những cuộc gọi kiểu này vào các ngày thứ Bảy cơ đấy. Tôi nghĩ họ làm việc từ thứ Hai đến thứ Sáu… Vậy mà chính bà bác sĩ gọi…?

Quái.

Bẻ một quả từ nải chuối chín vàng trên bệ bếp, tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu cao, loại chúng tôi đặt trong gian bếp để tạo sự duyên dáng. Một cách đều đặn máy móc như kim đồng hồ, tôi kéo cuốn sổ nhỏ mà nhiều năm nay tôi đã ghi lại từng miếng ăn đưa vào miệng. Chất béo, calo, đạm, thức ăn giàu carbonhydrat. Từng miếng ăn đều được đánh dấu, ghi tên… tích tích tích, tích tắc. Bổ sung, loại trừ, thêm bớt, xem chừng size quần jean lên-xuống, lên- xuống. Một quả chuối cỡ vừa. Cây bút của tôi đang lướt trên mặt giấy bỗng dừng lại, lượn lờ lơ lửng hệt chiếc trực thăng trên đại dương đang tìm kiếm những người sống sót.

Một âm thanh bật phát ra từ trong tôi như một tiếng cười bùng ra rồi tắc nghẹn. Tôi trượt khỏi ghế, chân đụng vào thùng thép không gỉ. Cuốn sổ rơi xuống nền.

Tôi lặng lẽ ăn chuối.

Trong khi đang ngồi đó, tôi gọi cho thẩm mỹ viện.

“Tôi có thể sắp xếp một cuộc hẹn? Cắt, tô, làm nổi. Móng tay chân. Mặt nữa. Aileen Thompson đây.”

“Ơ. Ừm, được.” Karen, nhân viên lễ tân làm việc tại Bonnie’s nhiều năm nay, rất bối rối. Tôi đoán cô nàng nhận ra việc tôi đang tiết kiệm một xu.

Tẩy sơ lớp da chết là ngon rồi. Ngày mưa của tôi đã đến.

Khi chúng tôi cúp máy, tôi chậm bước lên lầu - rón rén như một tên trộm. Tôi chuẩn bị một bồn nước đầy bọt, nồng mùi tử đinh hương, ngâm mình cho đến khi ngón tay ngón chân tái nhợt nhăn nheo hơn lúc bình thường. Chỉ khi nước trở nên lạnh giá tôi mới ra khỏi bồn.

Tôi khoác chiếc áo choàng vải bông màu nắng với những nếp gấp sang trọng mà Jake tặng cho tôi vài năm trước vào dịp Mother’s Day rồi chậm rãi chải tóc mình, một lần, hai lần… cả trăm lần, có lẽ vậy. Tôi làm khô tóc từ từ, sử dụng bàn chải tròn và đặt máy sấy tóc ở chế độ thấp, sau đó rẽ tóc thành từng múi, chải mượt và thả lọn. Tiếp theo tôi dùng nhíp sửa hàng lông mày.

Không suy nghĩ. Chỉ cần nhổ. Nhổ, nhổ, một sợi nữa biến mất. Nhổ, nhổ. Tất cả gọn gàng đâu ra đó.

Kem dưỡng ẩm. Lớp phấn lót. Son. Kẻ, đánh bóng, tô, vẽ, trang điểm mắt, làm cong mi. Chuốt mi, bôi mi. Thêm mascara. Nháy, nháy. Đừng nghĩ. Nháy.

Thở. Thở thực sự, nhịp thở rất thật, bây giờ. Hơi thở sâu. Không khí vào buồng phổi rồi lại ra ngoài.

Sống. Còn sống. Đang tồn tại. Đừng nghĩ bất kỳ điều gì khác. Mình đang sống hôm nay.

Và mọi người sẽ sớm có mặt ở đây. Bạn sống cho những bữa tối thứ Bảy như thế này.

Bạn sống.

Quần thụng xám và áo len dài tay màu tươi, đỏ, đỏ, đỏ! Máu đỏ. Hoa hồng đỏ. Sống sót. Cuộc sống.

Khi tôi đi như trượt xuống cầu thang trong đôi tất len, cái máy sấy cuối cùng cũng kêu ro ro. Tôi vội bước. Tôi ghét nếp nhăn. Đồ đã giặt xong, trắng bong, như muốn mời gọi ấp ôm - như chính tôi thèm khát trao cho tất cả những người thân quen vòng tay tràn đầy ấm áp và mềm như nhung. Nồng ấm như giọng bác sĩ Morris khi cố tìm lời an ủi thay cho những từ ngữ lạnh lùng tang tóc.

Từ ngữ lạnh giá, rùng mình, đông cứng. Từ ngữ chết.

Việc vặt mà tôi thường chán ghét giờ thấy không còn tệ nữa, mùi quần áo sạch sẽ thơm tho quen thuộc như hòa cùng ánh nắng tinh khiết ướp hương khuôn mặt tôi. Tôi lướt tay trên chiếc áo trong vải bông trong khi xếp đồ. Dưới đầu ngón tay tôi, những chồng mềm mại phồng lên làm thành một loại nhạc cụ, lướt-kêu, lướt-kêu, vuốt nhẹ mượt mà. Gấp, xếp, gấp, xếp chồng.

Đâu ra đó. Mọi thứ ở đúng vị trí của nó.

Những chiếc áo sơ mi của Steve gọn gàng trong ngăn kéo của anh. Anh thực sự cần cho những người có nhu cầu một số đồ mà anh ít dùng đến, hoặc thêm vào đống giẻ lau kính các loại xe của thằng Jake. Tiếng đồng hồ lười nhác điểm tích tắc khi tôi đi qua các căn phòng. Nhàm chán và yên tĩnh như những mẩu bánh vụn trên chiếc bàn ngoài hiên, không ngừng lay động trong gió.

Hàng tồn kho. Phế liệu. Thức ăn thừa.

Jake đến trước. Lúc gần hai giờ tôi nghe thấy tiếng động cơ xe của thằng con ầm ầm trước khi làm rung chuyển căn nhà, tôi còn cảm nhận rõ hơn từ đôi bàn chân mình. Nó đun xe thẳng vào ga ra và tôi mỉm cười vì nó là con trai của tôi và còn gì tuyệt hơn khi gặp cục cưng của mình? Khối u trong cổ họng của tôi.

Khối u.

“Cha con sẽ không thích con chiếm chỗ của ông ấy đâu.” Tôi gọi to khi Jake đập cửa.

Tiếng cười của Jake lấp đầy căn phòng - thô nhưng man, không giống chút nào tiếng the thé nhức óc vẫn còn vang vọng trong tâm trí tôi từ dạo nào ở sân chơi. Nó kéo tôi vào vòng tay thật nhẹ nhàng, ôm ấp nâng niu như thể tôi là cánh hoa, là giấy lụa, là người đẹp của nó. Tôi ôm lấy mặt nó, hôn nhẹ lên má.

Nhún vai, đôi mắt nó ánh lên vẻ tinh nghịch. “Lẽ ra cha về nhà trước mới phải chứ.”

Nhà. Tôi rất thích vì Jake vẫn nghĩ thế dù nó đã đi xa mấy năm rồi.

Tôi hứ và tiếp tục khuấy, khuấy mãi cái nồi nước sốt không cần khuấy nữa.

Phải làm một chuyện gì đó.

“Học hành sao rồi?” Tôi hỏi, tiến đến bàn để xếp lại khăn ăn. Những câu hỏi vô thưởng vô phạt. Những hành động giản đơn nhàm chán vô bổ.

Jake lục lọi tủ lạnh. Nó lôi ra một xoong thịt hầm đêm qua.

“Trường học là trường học. Tuy nhiên cái luận án đang làm con ê mông.” Nó để xoong vào lò vi sóng và quay lại tủ lạnh.

“Cuộc sống… tiến triển sao rồi?” Không gấp nữa, tôi chỉ đứng đấy và nhìn nó chằm chằm. Tôi nhớ rõ từng đường nét trên lưng con trai tôi. Áo phông và quần jean của nó, mái tóc không đều trên cái cổ rám nắng.

Nó uống hộp nước cam. Tôi thậm chí không nhăn mặt cũng chẳng quan tâm. Tốt. Đẹp.

“Sẽ ổn thôi,” Jake quay sang tôi, đáp. “Ông thầy hướng dẫn con cho rằng đến giờ vẫn ngon ơ, nhưng con còn cả núi việc phải làm.”

“Mẹ chắc rằng điều đó thật tuyệt vời.”

Nó đảo mắt. Tôi rành ánh nhìn đó: mẹ biết gì về cuộc sống và đam mê của con chứ, và như thế nào mới là cuộc sống thực sự. Lò vi sóng kêu khi nó lấy một cái nĩa.

“Con đã nói chuyện với Tess chưa?”

Jake lại khựng tại lò vi sóng vẻ lạnh lùng, quay lưng về phía tôi. “Dạ. Đêm qua.”

“Rồi…?”

Nó lấy thức ăn và thả mình xuống ghế. Khi nó nhìn lên thì không còn kiểu mẹ biết gì… nữa mà thay bằng ánh mắt tôi biết rõ - ngây thơ thủa nào. Đó, hôn nó và mặt nó tươi ngay. Nó nhún vai rồi ngấu nghiến món cơm, gà. Nước xốt kem.

“Cô ấy không biết mình muốn gì.” Nó liếm nước xốt dính trên ngón út. “Nhưng con đã nói với cô ấy rằng con sẽ không đợi mãi đâu.” Giọng gay gắt. Gượng ép.

Tôi nghĩ đến chiếc nhẫn của bà ngoại Elizabeth mà tôi đã cho nó. Có lần nó ướm lời tặng Tessa. Tôi tự hỏi bao lâu nữa nó mới lại xin mẹ trao nhẫn. Tôi nuốt nước bọt, hình dung về chiếc nhẫn trên ngón tay của cô gái đó.

Cuối cùng thì ai sẽ đeo nó? Tôi sẽ được thấy chứ? Chiếc nhẫn của bà ngoại tôi?

Lễ cưới. Người mẹ và con trai cùng khiêu vũ. Những đứa con. Những kỳ nghỉ.

Con trai tôi sẽ hạnh phúc chứ? Cuộc sống của nó sẽ tươi đẹp?

“Ờ, vậy là tốt rồi. Hãy tự chăm sóc bản thân trước tiên. Trên hết mọi chuyện khác.”

“Dạ.” Nó không cười, đôi mắt nheo lại, kiểu tôi biết những giọt nước mắt đang chực chờ. Tôi nhói lòng. Mùa xuân của tôi bỗng xỉn vàng sương giá.

Cuộc sống. Ngắn hơn.

“Chỉ cần an bình hạnh phúc thôi,” tôi nói. “Cuộc sống, tình yêu, bất cứ điều gì. Hạnh phúc và an bình.”

Như chiếc mô tô của nó? Như mối quan hệ tệ hại của nó với Tess? Hay an lành và bình yên như những lần hẹn khám bác sĩ và các dấu hiệu cảnh báo mà bạn không nên lờ đi.

Jake chớp mắt, chiếc nĩa của nó lơ lửng trong không trung như thể đang được nâng bởi một cái cần cẩu đồ chơi. “Mẹ không sao chứ? Trông mẹ tái nhợt.” Sự lo lắng ánh trong đôi mắt nó rồi lan sang cả cái cau mày mang nét buồn bã tư lự.

“Mẹ ổn mà.” Tôi lại hứ, với tay lấy một chiếc khăn ăn khác.

“Thực ra là không. Mẹ đầm đìa mồ hôi kìa. Con chắc đó. Mà ở đây lạnh ngắt.”

Một giọng cười hoang mang. “Mẹ ổn mà, Jacob.”

“Cha con các người nên lên kế hoạch cho một kỳ nghỉ là vừa.”

Lại hoang mang giọng cười.

“Hawaii hay gì gì đó. Nơi nào mà cha có thể chơi golf còn con thì kiếm được chút ánh nắng mặt trời. Nhâm nhi cocktail pha chanh.”

Golf và cocktail.

May quá, chuông cửa kêu vang.

“Để đó cho mẹ.” Tôi vọt lẹ.

Mẹ và Janie đang tranh cãi trước hiên suýt làm nước mắt tôi trào ra. Janie, hai tay ôm quá trời đồ, bắt đầu đẩy mọi thứ cho tôi - những túm bánh, bí xanh, cà tím…

“Nhìn này,” nó nói, tay lắc lư chiếc túi nhỏ. “Zilbert sắp đóng cửa mà mua rẻ một nửa đó.”

Trong chiếc túi nó đang đong đưa có một lô một lốc hộp nâu nhỏ bóng đẹp căng phồng lớp ni-lon.

“Nửa giá, hở? Hời đó.”

Nó cười toe toét. “Hàng độc giá rẻ tốt hơn loại thường. Phép màu.”

Phép màu.

Tôi lấy chiếc túi từ tay nó, những tuýp kem chống lão hóa yêu thích của chúng tôi lăn qua lăn lại như những kẻ tìm kiếm cảm giác mạnh trên con tàu dài - kiểu tàu cướp biển để tổ chức lễ hội. Nguy hiểm!

Chống lão hóa.

“Ở đây nghe mùi…”. Mẹ nói, đẩy cặp kính lên mũi. Bà dùng khuỷu tay thúc tôi sang bên. “Cháy phải không? Có mùi khét.”

Thở dài, tôi lắc đầu. “Cháy?”

Janie nhăn mũi cười khúc khích y chang hồi nhỏ. Tiếng cười đáng yêu, hầu như không phát ra âm thanh nên nghe hơi giả. Nhưng vẫn mãi là vậy, em gái tôi, nhỏ hơn tôi hai tuổi. Hai năm luôn có nghĩa là một cái gì đó trưởng thành, lớn lên, già hơn, tuy nhiên, ở tuổi 45 và 47, bây giờ thực ra chúng tôi giống hệt nhau.

“Thôi nào,” tôi nói, gỡ những chiếc túi tote ra khỏi tay nó. “Chắc nãy giờ mẹ loay hoay trong bếp.”

Thật tình thì mẹ tôi không có bất cứ điều gì rắc rối. Bà đang tráng rửa dĩa tô, cái xoong không của thằng Jake và một cái chảo rán còn dính dầu mỡ thịt viên và mấy con dao phết bơ. Bà luôn tìm việc để làm. Jake đang ngồi phía xa, cau mày trước một ô chữ.

“Steve đâu?” Mẹ hít hít như thể bà là chó săn còn chồng tôi là con mồi.

“Chơi golf, bà,” Jake hét to khiến Janie và tôi cười tức ruột.

“Chơi golf? Chơi golf! Chà...”. Bà lắc lắc đầu. Jake mỉm cười, nháy mắt với tôi và Janie. “Thôi mà bà, đó là sở thích của cha. Cha làm việc cực nhọc cả tuần. Cha xứng đáng hưởng chút thời gian để chơi chứ.”

Miếng xốp kêu ken két trên trên thớt. Bên cạnh tôi, Janie lại bấm bụng cười, vai nó rung rung khi cố gắng kìm lại. Tôi cũng vậy, tiếng cười sắp bùng ra, như những chiếc bong bóng căng phồng, cuộn xoáy - những dấu hiệu đầu tiên của một cơn bão.

Trong bồn rửa, mẹ cọ kin kít con dao vào đầu cái muỗng sứ. “Làm việc cực nhọc! Hừm. Đàn ông có nghĩa vụ phải chăm làm. Vào thời mẹ, tất cả đều làm việc chăm chỉ nhọc nhằn, và mẹ sẽ nói với các con điều này, cha của các con, ừ, cha của các con…”.

“Không bao giờ, chưa hề cần một ngày nghỉ,” tôi, Janie và Jake đồng thanh.

Mẹ quay ngoắt lại, chỉ cái muỗng gỗ vào chúng tôi, vài giọt nước thẫm nhỏ xuống nền đá phiến. Màu sắc ửng hồng trên má cùng nụ cười phẫn nộ trên môi. “Tại sao, các người…”. Bà vẫy chiếc thìa như một thứ vũ khí, nhưng bật cười vẻ thất bại và tắt vòi nước.

Jake, lúc này đang đứng ngay sau, choàng tay qua vai bà. “Xin lỗi bà. Không thể nhịn được ạ. Chọc bà giận dễ thật.”

“Và vui nữa,” Janie thêm. “Rượu?” Cô đang mở một chai vang trắng. Tôi không bao giờ uống rượu.

“Nhất định rồi.” Giọng tôi nhẹ như cơ thể đang chứa đầy khí heli, như tôi đang bềnh bồng trên mây.

“Tuyệt.” Em gái tôi mặt ánh vẻ tinh nghịch. “Còn mẹ sao nào? Tối nay say bữa với hai con gái cưng của mẹ chứ?”

Mẹ lắc đầu. “Say, Jane Louise? Say rượu? Con gái thì không…”.

“Mẹ!” Janie và tôi cười, hét tướng lên. Jake đứng cạnh dì, đang tự rót cho mình một ly.

“Chà, chuyện quái gì vậy?” Mẹ nói, cụng vào cánh tay của Jake và gật đầu nhìn cái chai trên tay nó. “Rót cho bà một ít, Jacob. Rót đi, ít thôi.”

Tôi thấy Janie tròn mắt và tôi biết mình cũng vậy. Mẹ uống rượu? Tôi nói to. Và bây giờ chúng tôi mới thực sự cười, bật cười, cười vang. Mặt của Janie nhăn cả lại và tiếng cười tuôn ra từ nó như một cái thùng phuy bị lật. Tôi cũng đang ứ tràn, bùng phát tràn lan đến mức muốn cuốn trôi, rửa sạch mọi thứ. Các khối u, u ác tính, giai đoạn bốn.

“Sao không?” Mẹ nói, nâng ly. “Chỉ sống một lần, phải chứ?”

Chỉ sống một lần.

“Ôi, thế này kia!” Giọng Steve oang oang trong phòng khách rồi lập tức anh xuất hiện ở đó, chồng tôi, người bạn thân nhất của tôi, tình yêu bạc của tôi. “Tất cả là gì đây?”

Steve liếc sơ quanh phòng, tôi chắc chắn một người sành sỏi như anh luôn biết phải làm gì trong mọi tình huống, lướt nhanh tới kệ bếp và với chút nỗ lực mở nút chai vang khác và rót cho mình một ly. Janie và tôi vẫn dựa vào bệ, và năm người chúng tôi xếp thành một vòng tròn. Chúng tôi kết thành một đám.

“Tôi đã bỏ lỡ điều gì rồi?” Steve hỏi bằng giọng mà tôi đã quá quen thuộc. Tốt hơn hoặc tệ hơn. Bệnh tật và sức khỏe. Cho đến khi cái chết làm chúng ta chia lìa.

“Chúng ta đang nâng ly chúc mừng chuyện gì?” Mặt Steve ửng đỏ sau trận golf. Anh quàng tay quanh người Jake, kéo thằng nhỏ vào người, ghì mạnh - bỗ bã, thô bạo, đàn ông với đàn ông.

“À, mẹ biết uống rượu, là một.” Đôi má đầy tàn nhang của Janey ướt đẫm nước mắt vì cười và mắt cô em gái tôi nhìn thẳng vào mắt tôi. Tỏa sáng, chớp nháy, truyền tải, chạm vào.

Thấu hiểu.

Tôi lau má, ngắm nhìn những khuôn mặt xung quanh mình.

“Cho chính bây giờ,” tôi nói. “Khoảnh khắc này.”

Hồ Nghĩa dịch từ nguyên bản The Last Supper
(TCSH391/09-2021)

............
* Tình yêu bạc: 25 năm kết hôn và chung sống.




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • RAPHAEN XÔLE (Cu Ba)

    Khi con người mở mắt ra (nỗi sợ hãi đã buộc chúng khép lại), thì việc đầu tiên mà anh ta trông thấy là cái hố có đường kính hai mét và một vòng tròn nhỏ màu xanh nằm cao chừng mười mét ở phía trên.

  • ALICE MUNRO

    LGT: Alice Munro sinh ngày 10 tháng bảy năm 1931 ở Wingham, Ontario, Canada, với tên khai sinh là Alice Ann Laidlaw. Cha của bà là chủ nông trại, mẹ là cô giáo.

  • LGT: Romain Gary tên thật là Romain Kacew, sinh năm 1914 tại Moskva và được nuôi dưỡng bởi một người mẹ đã đặt rất nhiều kỳ vọng nơi con trai mình. Năm 14 tuổi, ông theo mẹ đến Pháp và định cư tại Nice.

  • IURI BONDAREP

    Lần đầu tiên, chúng tôi nhìn thấy cô ta ở cạnh bàn bóng bàn ở sân hành lang nhà an dưỡng. Cô mặc chiếc áo len dài tay màu xanh, chiếc váy thật thẳng nếp, mái tóc màu sáng được cắt ngắn, và cứ mỗi lần vụt rơkét cô lại hất mạnh những sợi tóc vương khỏi trán. Những lúc như vậy, đôi mắt nâu đen của cô lại mỉm cười.

  • O.HENRY

    Rất lâu trước khi bụng dạ lờ đờ của anh nhà quê cảm nhận được hơi xuân thì tay thị dân ấy đã biết rằng bà chúa xanh màu cỏ ấy đã lên ngôi.

  • LTS: Trong 24 bài trong tập Cỏ dại của nhà văn Lỗ Tấn do GS. Trần Đình Sử dịch, Sông Hương số tháng 10 năm 2011 đã giới thiệu đến bạn đọc 3 bài “Sau khi chết”, “Sự giã từ của cái bóng” và “Sự run rẩy trên đường đồi bại”. Kỳ này Sông Hương xin giới thiệu tiếp với bạn đọc 4 bài chọn lọc từ Cỏ dại.

  • VILIAM KHÂYNÊXEN (Đan Mạch)

    Khi Lêô tỉnh giấc, trong tai anh vẫn còn vang lên những lời của ông giáo sĩ giảng đạo.

  • LGT: Nhà văn, nhà nghiên cứu sử học và văn hóa Mỹ Jon Holmes sinh ra tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng công nghệ Texas nơi ông từng tham gia phong trào nhân quyền và phản chiến, Jon Holmes chuyển đến New York làm việc cho một tạp chí nhiếp ảnh và phụ trách một chương trình sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ hiện đại cho một đại công ty ở Bos- ton.

  • KNUT HAMSUN (*)

    Do tôi viết. Viết vào ngày hôm nay cho trái tim vơi nhẹ đi. Tôi đã mất chỗ làm ở tiệm cà phê cùng những ngày sung sướng của tôi. Tất thảy mọi thứ, tôi đã mất hết. Và tiệm cà phê ấy là tiệm cà phê Mắcximilăng.

  • HENRY JAMES 
         (Tiếp theo Sông Hương số 290 tháng 4/2013)

    Một buổi sáng (tôi cho là ở gần La Spezia) Harold đang vẽ bên gốc cây, không xa quán trọ, tôi ngồi cạnh, lớn tiếng đọc Shelley(18) - người có thể chứng tỏ được trìu mến hơn bất cứ ai.

  • ELENA PUCILLO TRUONG

    Nỗi khắc khoải đã kéo dài từ bao lâu?
    Có lẽ một năm. Quá nhiều. Lấy cớ đi vào toilette, hai tay tôi nắm chặt chiếc bồn rửa mặt trong nhà hàng như muốn bẻ làm đôi. Bao nhiêu bức bối đang dồn vào trong... bao nhiêu đau đớn... đau đến nỗi tôi không dám ngẩng mặt nhìn bóng mình trong gương.

  • Henry James (1843 - 1916), nhà văn Mỹ viết tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình văn học; đặc biệt yêu văn học và nghệ thuật Pháp. Ông định cư ở Londres, Anh từ 1876. Tác phẩm: 112 truyện ngắn (1864 - 1910), Toàn tập (1990 - 2009), nội dung thể hiện ở nhiều chủ đề như: ý thức, tâm lý, mơ mộng, tình cảm, vẻ đẹp, chân lý nghệ thuật.

  • FRANÇOIS CHENG
    (Trích từ tác phẩm Khi những linh hồn lang thang trở về)

    Dưới gầm trời này, dưới cái gầm trời rất thấp này, tất cả đều có thăng có trầm, tất cả đều bị biến đổi. Tác phẩm về Những đột biến đã chỉ rõ điều đó, tổ tiên chúng ta đã nói: “Cứ năm năm thì có chuyển biến nhỏ, cứ năm trăm năm thì có đại đột biến”.

  • L.T.S: Sherwood Anderson (1876 - 1941) là nhà văn lớn của Mỹ. Ông có nhiều tư tưởng tiến bộ, và thường tỏ thiện cảm với những lực lượng vô sản cách mạng Mỹ, đặc biệt là trong những năm 1931 - 1935. Truyện ngắn "Những ngọn đèn chưa thắp" (Unlighted Lamps) của ông dưới đây được liệt vào một trong những chuyện ngắn xuất sắc trong nền văn học Mỹ từ trước đến nay. Câu chuyện về bi kịch nội tâm của những con người không phá vỡ nổi bức tường ngăn cách giữa những tình thân và cho đến khi nhắm mắt vẫn chưa kịp thắp lên ngọn lửa thông cảm.

  • Elena Pucillo Truong là người Ý, Tiến sĩ Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài (Đại học Milano Italia). Cô dạy tiếng Pháp và Văn minh Pháp tại Milano từ năm 1982 và gần đây có dạy tiếng Ý tại Nhạc Viện, tại phòng lãnh sự danh dự Ý và tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM.

  • LGT: Etgar Keret sinh ngày 20/8/1967 tại Ramat Gan, Israel. Nhà văn nổi tiếng với truyện ngắn và kịch bản phim, có ảnh hưởng lớn tới lớp nhà văn trẻ hiện nay ở Israel.

  • L.T.S: Narayan là nhà văn miền Nam Ấn Độ, sáng tác bằng tiếng Anh. Sinh 10/10 năm 1906 tại làng Madras (mất 13/5/2001), từng sống ở thành phố Mysore cổ kính của quê hương ông.

  • Ferit Edgu sinh năm 1936, từng sống sáu năm ở Paris học chuyên ngành gốm. Trong nhiều năm ông là người viết kịch bản quảng cáo và rồi điều hành một nhà xuất bản. Sự vô lý của cuộc đời, những ám ảnh dục tính, sự sa đọa và sự bất hòa của người trí thức là những chủ đề của ông.

  • HEINRICH BÖLL (CHLB Đức)

    (Heinrich Böll sinh 1917, mất 7-85 - giải thưởng Nôbel văn học 1972)

  • Ngoài các tác phẩm lớn về Việt Nam như Vạn Xuân, Lãn Ông, mấy năm gần đây, nữ văn sĩ Pháp Yveline Feray đã cho ra đời những tập truyện thần thoại và dân gian của các nước châu Á như Việt Nam, Trung Hoa, Campuchia, Tây Tạng. Vào cuối năm 2010, bà đã cho xuất bản tập “Chuyện kể của bà ngoại Ấn Độ”.