GS.Bs Bùi Minh Đức tại buổi giới thiệu sách
“Văn hóa ẩm thực Huế” là một tác phẩm được Gs.Bs Bùi Minh Đức viết trong nhiều năm, với gần 600 trang, khổ 16x24cm, Nxb Văn Hóa - Văn Nghệ (2011). Cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu và nghiêm túc về văn hóa ẩm thực, một bộ phận cấu thành Văn hóa Huế.
Cuốn sách được mở đầu bằng những lời mộc mạc, tha thiết: “Kính dâng hương hồn ba tôi…Kính dâng hương hồn mẹ tôi… Trìu mến tặng người vợ hiền… Thương mến tặng các con…” và kết thúc bằng hai câu lục bát thấm đẫm hồn quê xứ Huế: “Chữ thương đi với chữ tình Xin dâng quê mẹ, Huế mình, Huế ta.” Trừ phần lời tựa, lời mở đầu, nguồn tài liệu “Văn hóa ẩm thực Huế” có đến 30 đề mục, đưa ra những luận điểm khái quát về Ẩm thực xứ Huế dưới góc nhìn văn hóa và khoa học, và những bài chi tiết từ các món ăn dân gian, ăn chay đến những món cao lương mỹ vị. Tác giả dành nguyên một số đề mục để nói đến ẩm thực Huế khiến người đọc phải ngạc nhiên vì tính dân dã của nó như “Hột muối sống ở Huế”, “Những ngọn rau độn bụng ở Huế”, “Huế, ăn nên thuốc” đến các vấn đề có vẻ gai góc như “Chiến trường trên mâm cỗ”, “Ảnh hưởng Chăm trong văn hóa ẩm thực Huế” và những góc nhìn biện chứng bằng các triết lí văn hóa như “Khẩu vị người Huế”, “Triết lí ẩm thực của người Huế”…
Bác sĩ Bùi Minh Ðức là con thứ 2 trong một gia đình công chức nghèo ở Thành Nội (Huế). Năm 1960, ông tốt nghiệp Ðại học Y khoa Sài Gòn. Năm 1972, ông tốt nghiệp Chuyên khoa Tai Mũi Họng tại Ðại học Wurzburg (Ðức) và trở thành Hội viên Hội Tai Mũi Họng Ðức. Ông tiếp tục sang Mỹ nghiên cứu. Năm 1973, ông trở về nước làm Chủ nhiệm bộ môn Tai Mũi Họng tại Ðại học Y khoa Huế. Đến Tháng 2.1975, cùng với gia đình, bác sĩ Bùi Minh Ðức sang Mỹ lần thứ hai và làm việc làm tại trường Ðại học Louisville cho đến ngày về hưu.
Ngoài lĩnh vực chuyên môn của một bác sỹ, ông còn có nhiều đóng góp trên lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, đặc biệt là văn hóa Huế cũng như nhiều nhiều báo cáo khoa học về Văn hóa Huế tại các Hội nghị Quốc tế về Việt Nam học và các hội thảo về Văn hóa Huế. Đến nay, Bác sỹ Bùi Minh Đức đã có gần 4000 trang “Từ điển tiếng Huế”, 300 trang sách “Dấu ấn văn hóa Huế”, 400 trang sách về “Chữ nghĩa tiếng Huế”, 450 trang về “Dấu tích văn hóa Huế”, 600 trang về “Văn hóa ẩm thực Huế”. Tính từ cuốn “Từ điển tiếng Huế” in lần thứ nhất chỉ 531 trang đến nay (2011) vừa tròn 10 năm, Bác sỹ Bùi Minh Đức đã kịp viết biên khảo cho Huế gần 6000 trang sách. 10 năm và 6000 trang sách được xuất bản, với nhiều tư liệu, biên khảo công phu, có giá trị cao thật sự là một đóng góp đồ sộ cho văn hóa Huế. Các công trình của Bác sỹ Bùi Minh Đức được thực hiện xuất phát từ tấm lòng hiếu thảo của người con đối với Mẹ yêu thương, đã làm cho người ta hiểu hơn về văn hóa Huế, làm cho người ta sợ mất đi những giá trị đã được ghi nhận...
Buổi giới thiệu sách đã diễn ra trong không khí thân tình, độc giả và những người yêu Huế đã được nghe nhiều ý kiến, phát biểu qua nhiều góc nhìn khác nhau về công trình của Gs.BS Bùi Minh Đức, đó là phát biểu của bác sỹ Dương Đình Châu, TS. Thái Kim Lan, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn Bửu Ý… và thưởng thức một vài món ăn đặc trưng tiêu biểu của ẩm thực Huế. Với những gì mà Bác sỹ Bùi Minh Đức đã làm được, chúng tôi nghĩ rằng mảnh đất xứ Huế nên có động thái tôn vinh xứng đáng những đóng góp của riêng cá nhân ông. PV |
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.