Bông dại vàng

08:25 13/09/2017

LÊ THỊ HOÀI NAM

   Tưởng nhớ Phan Quang Định

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Văn 1980. Nguyên là giáo viên Trường thực nghiệm Thừa Thiên Huế. Truyện ngắn đầu tay in trên SH số 39 (Tĩnh vật)

Ngân đọc đi đọc lại bức thư đầy lo âu ấy dễ đến chục lần. Chưa bao giờ Ngân thấy ở ông tâm trạng hoảng loạn, dự cảm những điều chẳng lành đến thế.

Không thể chậm trễ! Hôm sau, Ngân gác mọi công việc cùng với con gái bay về hướng bắc.

*

Người đàn ông nằm bất động. Thân hình ông lép dẹt chìm trong mảnh màu trắng lạnh. Bộ râu mọc hung mọc túa ra che kín khuôn miệng "Sao người sút nhanh thế?": Cách đây chưa đầy tháng, ông có vào Huế thăm mẹ con Ngân. Lũ trẻ của Ngân yêu quí ông theo kiểu của chúng. Cả hai đứa rúm người lại đu vào hai cánh tay ông. Ngân sợ ông mệt, nhưng ông bảo "Hãy để cho bầy chim nhỏ tin cậy đậu trên cánh tay tôi".

Lá thư mới nhất ông báo cho nàng biết sẽ chuyển thể một truyền thuyết sang kịch bản phim. Thời gian này, ông đi thực tế nhiều, làm việc không biết tiếc thân. Bạn ông - một bác sĩ khoa tim mạch, biết rõ trái tim bệnh tật của ông "Tim ông thế, mà ông còn làm việc sao? Ông sẽ giết chết ông thôi!" Ông cười "Sáng tạo là để mình chết đẹp hơn".

Giờ đây, trái tim lỗi nhịp ấy không còn đủ sức để gánh nổi những ước mơ. Kịch bản phim hãy còn dang dở kia. Biết bao điều ông dự định ấp ủ... Nhưng dòng sông - gương mặt cuộc đời ông đã bắt đầu quánh đặc lại. Ôi! Ước sao nó là một cái gì khác để Ngân có thể sẻ chia. Ngân đặt tay lên ngực mình: sáu mươi tiếng trong một phút - giọt nước nào gõ đều vào thùng sắt tây rỗng. Ông cô đơn cả với chính Ngân.

Đêm nay, Ngân ngồi đan lặng lẽ bên giường người bệnh. Đã mấy ngày nay, tiếng nói ông phiêu dạt xứ sở nào? Mắt ông đan trong lưới đêm, để rồi trong sự huyền bí của đêm, ông lạc đến xứ xở khác.

Duy có một lần mắt ông hé mở. Nhưng không phải để nhìn Ngân. Cảm giác chưa hề có Ngân trên cõi đời này, đang ngồi cạnh ông đây, ông thờ ơ hướng cặp mắt đã bắt đầu dại đi lên trần nhà. "Người khát một khoảng trời chăng". Trong hai hòn bi đã bị ố màu, Ngân nhận thấy những cánh chong chóng đang uể oải quật từng vòng một, lúc nhanh, lúc chậm. Bất giác, Ngân nhớ đến Giôn-xi, cô bé đã gửi chìa khóa cuộc đời mình vào chiếc lá định mệnh - Chiếc lá cuối cùng. Ai sẽ là họa sĩ Bơ-men của ông? Cuộc đời này lẽ nào lại khô khát?

Bỗng từ cửa, một bóng đen từ đâu lao tới bập vào những cánh quạt đang quay. Ngân rú lên. Trái tim muốn vỡ. Mắt Ngân hoa lên. Cái chấm đen rơi xuống nền gạch men trắng cứ loang mãi ra, loang mãi ra thành một vùng tối. Trước lúc ngất đi, Ngân chỉ kịp nhận ra một lão già với bộ mặt kinh khiếp, khoác chiếc áo choàng của loài dơi hiện ra từ trong màu đen chết chóc ấy.

Trong khi vắng mặt Ngân, một cuộc đối thoại đã diễn ra.

- Thưa Ngài. Hẳn Ngài đã biết tôi chờ Ngài mấy ngày nay rồi. Ở xứ sở này, con người sao cứ lang thang. Tôi không có nhiều thời giờ. Tôi còn có phận sự của tôi ở nơi khác nữa.

- Thì ông cứ đưa tôi đi.

- Nhưng... Thưa Ngài! Xin Ngài hãy tắt dùm ngọn lửa đang ẩn cháy trong lồng ngực Ngài kia.

- Đừng hy vọng về điều đó, dù là khi tôi đã cùng ông qua bên kia sông.

- Làm sao tôi có thể đưa Ngài đi được. Thú thực, tôi sợ những ngọn lửa ấy.

- Đó là công việc của ông.

- Xem ra thì Ngài vẫn còn tha thiết với đời lắm! Con người kể cũng lạ...

- Thưa Ngài! Ngài không biết đấy, vào một đêm mùa đông buốt giá đến quỷ cũng chẳng muốn ló mặt ra đường, tôi đang ngủ, bỗng bên tôi vang lên lời khẩn cầu: "A-đét! Thần A-đét đâu? Hãy đến với ta!". Lần theo địa chỉ, tôi đã đến gõ cửa phòng Ngài. Tôi thấy Ngài bất động trong chiếc ghế chỉ còn ba chân (cái chân ghế thứ tư được thay thế bằng chồng báo cũ). "Ngài đã trải qua nhiều đêm như thế này ư?". Lần ấy, tôi muốn đưa Ngài đi. Đừng tưởng sự ra đi nào cũng hàm chứa điều trừng phạt. Tôi không ác độc như con người tưởng.

Bỗng tôi nhìn thấy ngọn lửa. Chính ngọn lửa ấy đấy và tôi biết mình đã nhầm. Ngài không cần đến sự giúp đỡ của tôi. Trong mắt Ngài, tôi đọc thấy nỗi đau sinh nở. Có lẽ... nghịch lý là cách nói riêng của các Ngài?

- Cứ cho là như vậy.

- Ngài là một nghệ sĩ?

- Người ta vẫn gọi tôi như thế!

- Vậy điều gì đã làm cho các ngài khắc khoải đến thế.

- Ông định phỏng vấn tôi (?). Điều đó lẽ nào ông lại không hiểu.

- Chẳng lẽ lại là mớ chữ nghĩa nằm bừa bộn trên những trang viết của Ngài?

- Đó không phải là chữ nghĩa mà là những số phận, những cuộc đời.

- Lại nghịch lý! Thế lần ấy, số phận nào, cuộc đời nào in dấu lên trang viết của Ngài?

- Bông dại vàng.

- Bông dại vàng! một loài hoa mà tôi chưa bao giờ nghe nói đến.

- Vâng, bông dại vàng là một loài rất hiếm, được mọc lên từ nấm mồ của một kiếp đời.

- Một kiếp đời! Ai thế?
*
Đó là kiếp đời của người trai trẻ đã sinh ra và lớn lên ở một làng ven thảo nguyên hoa dại.

Khi vừa lọt lòng mẹ, "bà mẹ" vừa gỡ những "tràng hoa" quấn quanh cổ đứa bé vừa nói với người mẹ "Nó sẽ là chàng trai tài hoa và nhân hậu".

Năm chàng hai mươi tuổi thì mẹ qua đời. Trong những ngày khóc mẹ, chàng bỗng khám phá ra điều bí ẩn của chính cuộc đời mình. Mỗi khi chàng khóc những giọt nước mắt đều biến thành giọt vàng. Và, cuộc đời người trai cũng bắt đầu bất hạnh từ đó.

Ngày hôm sau, tin lạ như vũng dầu loang. Cả một vùng thảo nguyên trong lành bị ô nhiễm bởi những lời đàm tiếu. Tất cả kẻ to mặt đến bọn cùng đinh lũ lượt kéo đến vây bọc ngôi nhà bé nhỏ của chàng:

- Hỡi người trai, hãy đem nước mắt của mi ra để mua vui bọn ta.

Một giọng nói "Trong chum, ngoài vại" bè ra. Lập tức, dàn hợp xướng quái gỡ gào lên: "khóc đi! khóc đi!"

Trước cảnh tượng ấy, trái tim trong trắng của chàng run lên "Ai lại lấy nỗi đau của người khác ra để mua vui".

Nhưng họ không buông tha chàng, không gian vỡ ra bởi lời gào thét. Người trai đứng đó bất động. Mặt trời úp lửa trên đỉnh đầu mà điều họ nóng lòng thỏa mãn vẫn chẳng chịu đến. Bỗng kẻ nào đó nhảy bổ đến trước mặt chàng xấn xổ "Có khóc không?". Trong khoảnh khắc, không hiểu điều gì đã xô đẩy, thay vì làm theo ý họ, người trai bỗng phá lên cười. Chàng cười, cười ngặt nghẽo. Cười mãi, cười với tất cả các kiểu cười mà con người có được. Và cuối cùng, dòng nước mắt giàn giụa đã trộn vào tiếng cười của chàng. Kìa, kỳ lạ chưa! Những giọt nước mắt đang sánh dần, sánh dần biến thành dải vàng rực rỡ.

Những bộ mặt đỏ tía lên vì la hét giờ như được đục đẽo từ đá. Nhưng không phải ai cũng tham vàng.

Những ngày tiếp nối, họ chẳng để chàng yên. Nhưng dù có gào thét, chửi bới đến thế nào nước mắt người trai không chảy nữa.

Trên đời này có biết bao cuộc hò hẹn? Sự tàn nhẫn cũng có nơi gặp gỡ của nó. Một buổi sáng, đám người trở lại. Lần này, không ai bảo ai, trong tay mọi người đều cầm một chiếc kìm lớn. Sau những lời đe dọa, họ đâm tới tấp vào chàng. Người đã tự nguyện tước bỏ lá chắn. Người trai giẫy giụa, quằn quại. Nước mắt tuôn chảy. Những dải vàng tuôn chảy.

Nỗi đau bám đầy vào bánh xe thời gian.

Cho đến một ngày kia, trên cơ thể chàng trai không mũi kim nào đâm thủng. Sẹo mẹ đè sẹo con, sần cứng lên thành bộ áo giáp. Khuôn mặt và thân hình chàng biến dạng trở thành quái dị. Ai có thể nhận biết người đàn ông ấy là chàng trai trẻ thuở nào? Nụ cười không cánh mà bay và nỗi buồn cũng chẳng đậu lại trong tim chàng nữa.

Xóm làng đã lãng quên người đàn ông trong cảnh đói khát bần hàn. Chàng trở thành người đánh xe ngựa sống cuộc đời cô độc nhưng bình yên. Cũng từ đấy chàng câm. Lũ trẻ trong làng có đứa đã ném đá một cách không ác ý, nhưng chúng cảm thấy chàng không hề nhận biết.

Chiều chiều, sau buổi đi làm về, chàng trai - một người, một ngựa rong ruổi đi về phía thảo nguyên hoa dại.

Có lẽ cuộc đời người trai sẽ an bài từ đó cho đến khi về với đất nếu chiều thu ấy, làng ven thảo nguyên không xuất hiện hai mẹ con người thiếu phụ trẻ. Mẹ con nàng từ đâu đến? Tên gì? Chẳng ai biết được. Người ta quen gọi nàng: Thiếu-Phụ-Buồn. Bởi đôi mắt bao giờ cũng gợn nỗi u hoài hay bộ trang phục chỉ một màu tang tóc?

Nàng không đẹp nhưng gương mặt đôn hậu. Bàn tay thô ráp, dấu ấn của một thời lam lũ. Hai mẹ con người thiếu phụ là bạn đồng hành duy nhất của người đàn ông đánh xe ngựa trên con đường dẫn đến thảo nguyên. Bao nhiêu ngày tháng đã qua đi? Họ đã nói với nhau những gì? Chỉ có cỏ làm chứng.

Một ngày kia, tin dữ loang ra: con gái người thiếu phụ đã bị vị thần thảo nguyên bắt mất chỉ còn cô bé đã dại dột hái một bông hoa dại được coi là linh hồn của thảo nguyên. Thiếu phụ vô cùng đau khổ - Trái tim nàng tơi tả, rớm máu. Trước lời cầu xin của người mẹ, nữ thần nhân ái đã rỉ vào tai nàng "Hãy dâng lễ cho thần thảo nguyên một bông dại vàng".

Những lời khuyên ấy đã đẩy nàng vào nỗi tuyệt vọng. Làm thế nào để có vàng đối với người đàn bà khốn khó như nàng?

Bỗng đôi mắt thiếu phụ rực lên. Nàng ào ra cửa lao về phía cuối làng, nơi có ngôi nhà nhỏ của người đàn ông đánh xe ngựa.

Dân làng thấy thế, có người cảm cảnh xót thương, nhưng cũng không ít kẻ buông lời mai mỉa:

- Sao, chị ta định đến cầu cứu cái lão đánh xe ngựa ấy à? Có gì nơi lão ấy nhỉ? Bây giờ, lão nghèo kiệt xác!

Đêm hôm ấy, người đàn ông đánh xe ngựa cùng chung số phận với nàng. Chưa bao giờ ông thèm cái vị mặn chảy ra từ khoé mắt đến thế. Ông nằm vật ra phản, nhớ đến kỷ niệm đau buồn rồi ông hét lên "Kim! Kim". Ông nhỏm dậy, lục tìm dưới đáy hòm chiếc kim mà ngày nào, kẻ ra đi trong cơn giận giữ chẳng nhớ mang theo. Ông dồn sức đâm tới tấp vào cơ thể đã chai sạn. Nhưng tất cả sự cố gắng ấy vẫn không đủ đô cho một nỗi đau đối với con người ông. Nước mắt đã giã biệt ông.

Trong nỗi điên dại của kẻ đường cùng, ông đứng phắt dậy, vung cánh tay ra xa để rồi phập vào đôi tròng mắt. Loáng chốc, thân hình ông gập lại như có lát chém phạt ngang thân. Ông khuỵu xuống, máu và nước mắt từ hai hốc mắt ông túa ra, Trên môi ông, nụ cười méo mó đậu lại.

Ngày hôm sau, người ta thấy người đàn ông đánh xe ngựa loạng choạng bước ra. Trên tay ông nâng một đóa dại vàng. Nếu ai nhìn kỹ sẽ thấy trong màu vàng rực rỡ ấy vẫn còn những tia máu chưa được lọc kỹ.

Gần về sáng, mùi hương của loài hoa sữa, loài hoa có cái tên rất đời ấy đã bay đến đậu vào cái mũi xinh nhỏ. Ngân cựa mình. Đôi mắt ngơ ngác "Người đâu?". Ngân vụt đến bên cửa sổ. Dòng sông đen nào loáng chảy trong lớp sương mỏng mờ ảo như nỗi cô đơn bủa vây lấy Ngân. Một con thuyền trắng, với cánh buồm trắng như những đốm nắng loang giữa trời khuya. Có bàn tay nào phía ấy vẫy gọi. Ngân thầm thì "Vĩnh biệt! Vĩnh biệt!".

Người ta có ý định đưa ông về nghĩa trang thành phố. Nơi đây, quả là đô thị của những linh hồn chết. Những ngôi mộ nằm ken sít nhau, nằm phơi mình giữa nắng trời không một bóng cây che thân. Thoáng chốc, Ngân cảm thấy những ngôi mộ rung lên. Sự ồn ào, khắc nghiệt của cuộc đời lại dội lên từ những nấm mộ ấy. Không! Đây không phải là nơi mà Ngân yên lòng để ông nằm lại. "Nhưng ông sẽ yên nghỉ ở đâu?" Ngân nhớ lại trước đây, mỗi khi có nỗi buồn trong ngôi nhà "bão táp", ông lại ra đi, tìm những giây phút yên tĩnh, thanh thản ở thiên nhiên. Ông thường nói "Thiên nhiên bao giờ cũng là người bạn thủy chung của tôi".

Ông tộc trưởng dòng họ Phan dẫn Ngân ra một triền đồi. "Đây là nghĩa trang họ Phan"- Ông bảo với Ngân.

Ngân tung tầm mắt ra xa. Nơi đây tuy hoang vắng nhưng không gợi cảm giác thê lương. Hoa dại mọc tím cả triền đồi. Những ngôi mộ lúp xúp, khiêm tốn như xóm nhỏ nằm thu mình trong thung lũng. Ngân mãn nguyện.

Trước khi từ giã, hai mẹ con Ngân lại lên mộ.

- Mẹ ơi! Ở đây toàn đá là đá mà cũng có hoa đẹp thế này mẹ hả?

"Ừ đẹp thật!". Nghe con hỏi, Ngân thoáng chút vẩn vơ, không hiểu sao cái màu tím đẹp đến say lòng này lại có thể mọc lên từ cỏ nhỉ? Nào nó có được nâng niu, chăm sóc gì đâu, cho dù một gàu nước tưới vội, một bàn tay vuốt nhẹ vô tình. Nhưng màu hoa ấy chẳng vì thế mà kém thắm. Cũng bị bạc đãi, màu hoa càng đẹp hơn bao giờ hết. Có lẽ kiếp hoa dại...

- Ông mất rồi, cần gì hoa mà mẹ hái nhiều thế?

- Con ạ, người chết cần hoa hơn cả người sống.

Ráng chiều đỏ ối chụp lấy nghĩa trang. Trong chạng vạng, con gái Ngân run rẩy:

- Về thôi mẹ, tối mất rồi, con sợ.

Ngân phủ đầy hoa dại lên mộ. Hai mẹ con đi xuống đồi. Trước mắt, bầu trời như thấp hơn. Những đám mây vô tình cứ bay đi ngàn năm. Phía chân trời Ngân bỗng nhận ra một đám mây mang khuôn mặt trầm tư đang ngước nhìn lên khoảng không vô tận. Bất giác, Ngân thốt lên:

- Người ơi! tìm cái gì trong vô tận ấy?

Huế - hè thu 89
L.T.H.N.
(TCSH43/06-1990)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG TÙNG Ăn của rừng rưng rưng nước mắt                                 (Tục ngữ)

  • TRẦN CHẤN UY Đơn vị đặc công chúng tôi nhận mật lệnh thọc sâu hậu cứ địch chuẩn bị địa bàn cho chiến dịch Mậu Thân. Nói đơn vị cho có vẻ sang, nhưng thực ra chúng tôi chỉ có mười hai người kể cả một đồng chí du kích dẫn đường.

  • PHẠM PHƯƠNG Y cao lớn và nhàu nát. Điều đó làm cho con người y trở nên bí ẩn khác thường. Ở y, người ta thấy rõ đường nét của một người Âu với sống mũi cao và đôi mắt sâu hoắm như một vết thương. Nhưng, cũng trong vết thương sâu hoắm ấy, rõ ràng hiển hiện một sự mênh mang đến kì cục. Trong đôi mắt ấy... có biển cả. Và, đen sì - một màu đen Hoa Bắc chính gốc không lẫn đi đâu được.

  • HỒNG NHU BỮA TIỆC ĐÔI TÌNH NHÂN

  • NGUYỄN THÀNH LONG - Kính lạy Cha. Cha cho gọi con. Cha thấy trong người thế nào ạ? - Cha cảm ơn con đã tới. Có lẽ con là người cuối cùng Cha trò chuyện ở trên đời. Sắp sửa ra đi. Cha thấy Cha cô độc lắm.

  • NGUYỄN ĐẠT Nhớ Đoàn Đại Oanh   Có thể chiều tối đã xuống lúc tôi say, ngủ gục ở bàn rượu. Không phải mình tôi, mà chúng tôi; cả thảy bốn người, tính gồm chủ gia trong đó, anh ấy tên Giang.

  • UÔNG TRIỀU   Khi còn bé, đã có lần Điểm Bích được mọi người kể cho nghe câu chuyện về mẹ mình. Mẹ Điểm Bích là nàng Ba, một thôn nữ xinh đẹp, bạc phận.

  • HẠO NGUYÊN 1. Trong căn phòng chạng vạng và thoảng mùi khói thuốc, hai người đàn ông trầm ngâm.

  • TRẦN THÙY MAITối thứ bảy cuối tuần, Phương tuyên bố:- Tuần sau anh bắt đầu viết tập hai bộ tiểu thuyết của anh Nhớ đừng huy động vào việc gì hết đấy nhé...

  • LÊ MINH KHUÊ Tường lên chuyến xe rời khu cải tạo phạm nhân sau cùng. Đành phải ngồi cạnh một người đàn bà. Tường nhận ra bà khi ngồi sau bàn nói chuyện với bố.

  • HOÀNG NHI “Chẳng có chút kinh nghiệm nào trước cõi vô tận không dò được của tâm hồn. Chỉ có sự kinh ngạc trước sự bấp bênh về cái tôi và bản sắc của nó.”                                                 (Milan Kundera)

  • LGT: Trại sáng tác văn học Hương Vân (thôn Lại Bằng, huyện Hương Trà) do Hội Nhà văn TT. Huế đứng ra tổ chức. Trong vòng 10 ngày của tháng 7 trăng vàng trong các mảnh vườn hoa trái, 10 trại viên đã để lại tình cảm sâu đậm với người dân xứ miệt vườn nơi đây bằng những trang văn đầy chất lãng tử. Bên cạnh đó, ở mặt chìm của tác phẩm, những “bụi bặm” từ xã hội công nghiệp cũng được phản ảnh một cách thâm trầm nhưng khẩn thiết...Sông Hương xin giới thiệu một số ít tác phẩm từ Trại viết này.

  • TRIỀU NGUYÊN Chị Mảnh vác chiếc xe đạp nước đi trước, còn tôi vác sào, chống lẽo đẽo đi sau như cái bóng. Đi một quãng tôi phải dừng lại trở vai, rồi cố bước thật nhanh để bám kịp chị.

  • NGUYỄN TOÀN Nhà có hai chị em. Chị như chim công, nó chẳng bằng cú. Đấng tạo hóa sau khi tạo tác một sinh vật xinh đẹp như chị chắc phải lấy làm mãn nguyện sung sướng. Rồi trong lúc quá chén ngài đã vô tình tạc nên một sinh vật dị hình nữa, là nó.

  • PHẠM PHƯƠNG Thằng bé đứng bên sông. Nó thấy màu đỏ ửng phía chân trời, nơi có hàng thùy dương và con đường đất ẩm. Đứa con gái nhà ai, trong làn khói lam chiều rơm đốt giữa mùa, mặc một bộ đồ cỏ úa, đang tha thẩn nhặt cỏ gà.

  • NGUYỄN HỮU HỒNG MINH Khi về già người ta thường hoài niệm về tuổi trẻ và thích ngồi đợi những buổi sáng. Bởi vì đêm tối lạnh lẽo và âm u làm sao!

  • DẠ NGÂN Sau giấc ngủ trưa, hai chiếc gối kê cao trên đầu giường, tôi bắt đầu buổi làm việc tại nhà như vậy. Đó là sự nhân nhượng của toà báo với những biên tập viên cao niên và tôi, cũng như nhiều đồng lứa trong giới, tận hưởng đặc quyền đó bằng trách nhiệm tự giác thường trực.

  • NHẤT LÂM Tết êm đềm trôi hết tháng Giêng, mà bầu trời thung lũng Mu Lu còn khá lạnh. Chập tối, hơi đá từ dãy núi Ta Chan phả ra, sương buông màn màu sữa đục.

  • HUY PHƯƠNG Đã nghe thấy tiếng gió rì rào, như từng đợt sóng nhỏ tràn qua mái nhà. Trời trở rét… Chả trách mà tối hôm qua, cánh cửa kính cứ hết sập lại mở, rập rình mấy lần làm anh mất ngủ.

  • LÊ VĂN… Rồi cũng xong … Anh lơ xe nhảy lên cuối cùng, la lớn:- Tới đi chú Tám ơi!