Bồng bềnh lắc lư lắc lư những cặp vú rời đỉnh núi cao bồng bềnh trôi về biển chỉ còn những ngôi sao bá vai vào thăm thẳm chỉ còn một khoảng đêm một dệ cỏ những nụ hôn linh tinh bám đầy quần áo những hơi thở bị ngắt quãng những lẩm nhẩm nguyện cầu trong ký ức chúng mình trải đệm giường những vệt lân tinh lót đầy tiếng dế cỏ sương đêm tiếng đất rã rời đó là mùa xuân sao, mùa dại khờ mùa dâng hiến sao những mạch máu chật căng rầng rậc chảy và xa xa sóng biển như những cái phất tay hững hờ xa xa những người quay lưng lại chúng ta như trái đất quay nửa mặt vào bóng tối bồng bềnh mây trôi qua cổ họng chúng mình biết sẽ đến lúc mình tan loãng như mây đến lúc mình hoá mưa rây 9 - 12 - 2000 Gieo bóng mặt trời gieo những cái bóng xếp lớp như lá khô cái bóng tôi cuốn về đâu cùng ngọn gió cái bóng trò chuyện một mình đêm mong manh bóng tôi lang thang cầm tay đêm cầm tay gió mơ về một cọng cỏ một ngôi sao cái bóng tôi gieo xuống một vùng im lặng 2 - 2001 Không đề đi qua cánh đồng dại dột hái những bông cỏ ngây thơ còn sót lại tôi cứ như dòng sông lơ mơ mùa giêng hai chảy mà không chảy tôi đã ăn vào nắng ăn vào mưa ăn những tiếng kêu dài của ruộng đồng nghèo khổ của những dấu chân thô tháp dẫm vào ký ức dẫm cả vào giấc mơ làm sao có tương lai khi những dấu chân này bị xoá nhanh sau một click chiều cuối năm 24 tháng Chạp Canh Thìn Không đề tôi như đất đai buồn nắm chặt lại những giọt nước mình đang mất những khoảng xanh mình chưng cất thoảng mùi rượu lá lúa tôi như đụn cỏ cuối mùa khô chờ từng cú lăn mình đám mây hay con chó nhỏ tôi như cánh đồng sau vụ gặt trơ cuống rạ chĩa lên trời những bơ vơ tôi như vệt nứt đất không soi rõ chiều sâu giọt nước mắt của người bước lùi cắm từng dảnh mạ bước lùi suốt đời tôi không thể bay lên khi những người ấy cắm chặt chân xuống bùn khi bầu trời của họ là những tấm tôn rách 29 - 12 - 2000 Vườn nhà cô đặc những quả ổi chín dần trong mắt má buổi chiều lăn qua đám mây mắt má nhìn con thơm ổi chín nhiều năm khuất sau lãng quên cây ổi nhà ta không còn không còn cây vú sữa những mùa quả con về ngồi trên thành giếng vườn nhà ta cô đặc tay con chạm mùi thơm ngọt hai mươi năm trước tay con chạm mong manh mắt má nhìn con mắt lá. THANH THẢO (nguồn: TCSH số 146 - 04 - 2001) |
Tải mã QRCode
Vĩnh Nguyên - Trần Thị Linh Chi - Lưu Ly - Triệu Nguyên Phong - Tây Linh Phạm Xuân Phụng - Ngàn Thương - Từ Nguyễn - Trần Tịnh Yên - Tuệ Lam - Lê Huỳnh Lâm
Nguyễn Xuân Sanh - Trần Mạnh Hảo - Ý Nhi - Võ Văn Trực - Văn Tăng - Trần Hải Sâm - Thúc Hoàng - Quốc Minh - Trần Hữu Lục
Trần Trình Lãm - Châu Thu Hà - Nguyễn Tiến Chủng - Trịnh Hải Yến - Khaly Chàm - Nguyễn Quang Hưng - Huỳnh Ngọc Lan - Đông Hương
LTS: Phan Duy nhân là bút hiệu của một nhà thơ quen biết với bạn đọc trẻ miền Nam từ đầu những năm 60. Tên thật là Phan Chánh Dinh sinh năm 1941 quê xã Triệu Thượng, huyện Triệu Hải, Bình Trị Thiên, trưởng thành trong phong trào đấu tranh yêu nước của sinh viên Huế. “Thư gửi các bạn sinh viên” của anh in ở tuần báo Sinh viên Huế năm 1964 có thể xem là bài thơ mở đầu cho dòng thơ ca tranh đấu của tuổi trẻ đô thị miền Nam trong tù (Côn Đảo 1968-1973) và sau ngày giải phóng Phan Duy Nhân vẫn tiếp tục sáng tác, dù ít xuất hiện trên báo chí.
LTS: Hoàng Vũ Thuật, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam sinh năm 1945 ở Lệ Ninh - Bình Trị Thiên. Xuất thân là một giáo viên, sau chuyển qua làm công tác văn nghệ. Bạn đọc đã quen tên anh trên các mặt báo, tạp chí Trung ương và địa phương. Tập thơ “Những bông hoa trên cát” xuất bản 1980 đã khẳng định bước đi ban đầu khá vững tay của anh.
THANH THẢOKhối vuông ru-bích
Lý Hoài Xuân - Nguyễn Loan - Trương Kiến Giang - Xuân Diệu - Chế Lan Viên - Nguyễn Hới Thọ - Nguyễn Hoa - Nguyễn Hữu Quý - Dương Toàn Thắng
ĐINH CƯỜNGCào lá ngoài sân đêm
Đức Sơn - Nguyễn Trường - Phan Lệ Dung - Nguyễn Đông Nhật - Kiêm Thêm - Nhất Lâm - Nguyễn Man Kim - Phạm Thị Điểm
LÊ THỊ KIM
Thu Bồn - Nguyễn Duy - Ngô Thế Oanh - Nguyễn Thụy Kha - Thế Dũng - Đỗ Văn Khoái - Mai Văn Hoan
NGUYỄN NGỌC PHÚBuổi sáng
LƯU QUANG VŨ...Và anh tồn tại
LƯU TRỌNG LƯCó những vườn
NGUYỄN VĂN DINHCây Huế Trong vườn Bác
Văn Lợi - Tôn Nữ Thu Thủy - Võ Quê - Phạm Hữu Xướng
LTS: Trần Thị Hiền sinh ngày 4-9-1955 tại Bình Trị Thiên. Chị là cây bút nữ có nhiều triển vọng. Thơ Trần Thị Hiền hồn hậu, trong sáng, tinh tế. Chị là người viết nhiều về đề tài lâm nghiệp. Trong hai cuộc thi của Bộ lâm nghiệp, Trần Thị Hiền hai lần được trao giải thưởng.
LÊ VĂN NGĂNNgười phu xe, từ biệt
TRỊNH QUANG QUỲNHBài thơ người tìm hạt giống
Huy Cận - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Trọng Tạo - Trần Hải Sâm - Lâm Hồng Tú