Ở Vỹ Dạ. Vườn nhà tàn tạ, xơ xác lá xao xác gió. Bạn vẽ Bồ-đề Đạt-ma/ với nụ cười Di-lặc (Thanh Thảo). Không dưng hiện ra câu hỏi bình thường nhất. Mà có ý nghĩa, đối với mỗi đời người và người đời: câu hỏi về tình yêu? Tình yêu, thời ấy, giữa hoàn cảnh ấy, đầu tiên, là sự gắn kết với tình yêu quê hương. Tình yêu nước không là những rao giảng nhàm chán ống bơ rè, mà bắt đầu như thế, từ nét tàn phai nơi ngôi nhà ấy:
Tôi yêu đất nước này chân thật
Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi
Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi
Và yêu tôi đã biết làm người
Cứ trông đất nước mình thống nhất.
(Trần Vàng Sao - Bài thơ của một người yêu nước mình)
Đất nước, ấy là quê hương nơi hằng ngày phải chứng kiến cảnh tượng:
… đoàn quân xâm chiếm, theo từng nhịp cánh quạt ngừng, đổ bộ lên quê hương tôi
đã đặt trước mặt tôi những trại giam
Đó là một quê hương nơi trái tim người luôn biết “rung động dưới bầu trời sao”. Quê hương ấy đã thấm vào bên trong trái tim người bằng những gì máu thịt nhất chứ không phải những khái niệm mơ hồ, bởi vì, quê hương chẳng phải là điều trừu tượng. Cho nên:
khi bạo lực còn dẫn quân đi nhục mạ quyền làm người
khi ấy, bằng chất liệu gì để rửa sạch thân em
đấy là điều tôi dứt khoát.
(Lê Văn Ngăn - Sóng vẫn đập vào eo biển)
Dường như lại thấy cái bóng khắc khổ của tác giả “Đất của những người bất phục”, “Bên hồ thủy ngữ”… đang trở về, bước chậm dọc theo con đường xanh lá, phía hữu ngạn Hương giang…
Và, Thái Ngọc San, buổi sáng tháng 4/1972. Chiếc xe đạp cũ và mười ngàn đồng chia sẻ dúi vội vào tay anh, trước khi cùng Trần Phá Nhạc nhảy lên chiếc xe tải “di tản” khỏi cư xá Nam Giao. Quê hương, khi tìm ra được con đường phải đi, với anh, trong những tháng ngày khắc khoải ấy là những bước chân đi qua phố chết:
Tôi vẫn đi qua những con đường
khô dấu cây in hằn dấu đạn
…
Tôi nhìn tôi thật đau thương
cẳng chân dài đi qua phố chết
những chữ viết ai còn sót lại trên tường vôi kia
một thời quá khứ
(Thái Ngọc San - Về những con đường khô cây)
Và quê-hương-tìm-thấy đã hiện ra:
Đôi mắt trong hơn biển xanh nước đầy
Em đã lớn lên cùng với núi sông này
Thân em nhỏ nhưng lòng em bền vững
Tôi đã thấy em bay trong trời rộng
Đôi cánh trắng như cánh cò bay
Có bao nhiêu đau thương, bao nhiêu nguy biến
Cúi xuống lòng quê hương tìm hương trìu mến
(Thái Ngọc San - Quê em)
Giờ đây nhìn lại, nhiều nghiên cứu - nhận định về thơ của lớp người trẻ tuổi yêu nước thời ấy đều có chung nhận xét - gọi tên, rằng, đó là “những vần thơ lửa”.
Giữa thời đạn bom chiến tranh khốc liệt như muốn dìm sâu cả dân tộc, nhiều tiếng nói đã cất lên. Trong bối cảnh ấy, hẳn nhiên có nhiều khuynh hướng văn học: thể hiện tinh thần phản kháng, tôn vinh truyền thống dân tộc, tái hiện thân phận con người… và cả khuynh hướng thương mại hóa… Thử nhớ (không đầy đủ) tên vài bài viết, đó là: Những ngày Đối Diện (Trần Hữu Lục), Những chặng đường của nhóm Việt (Trần Thức & Hoàng Dũng)..., vài tác phẩm biên khảo, như: Nhìn lại một chặng đường văn học (Trần Hữu Tá - 2000), Một thế kỷ văn học yêu nước - cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh 1900 - 2000 (2016)… Nhưng riêng về thơ yêu nước ở các đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, thì dường như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, có “kích cỡ” tương xứng?
Trong giai đoạn lịch sử đặc biệt ấy của đất nước, đã hình thành cả “một loạt các cây bút trẻ, có văn hóa cao”, dấn thân vào con đường tranh đấu và dùng thơ ca như một thứ vũ khí để chống kẻ thù xâm lược và đòi hòa bình - thống nhất Tổ quốc. Nhiều nhà nghiên cứu - phê bình văn học đã “điểm danh” (chưa đầy đủ): Trần Quang Long, Ngô Kha, Phan Duy Nhân, Trần Vàng Sao, Đông Trình, Tần Hoài Dạ Vũ, Triệu Từ Truyền, Nguyễn Quốc Thái, Đỗ Nghê, Lê Ký Thương, Lê Văn Ngăn, Thái Ngọc San, Võ Quê, Cao Quảng Văn, Trần Đình Sơn Cước, Lê Gành, Nguyễn Như Mây, Hữu Đạo, Nguyễn Kim Ngân, Phan Trước Viên, Hoàng Thoại Châu, Trần Vạn Giã, Huy Giang, Phan Viên Hoài, Hoài Hương, Trần Phá Nhạc, Nguyễn Văn Phụng, Đam San, Lê Nhược Thủy, Chinh Văn, Nguyễn Tường Văn, Nguyễn Hoàng Thọ, Đôi Nạng Xứ Dừa, Nguyễn Đông Nhật, Thiên Lý, Huy Giang... tập hợp quanh các tạp chí Việt, Ý thức, Văn mới và nhiều tờ báo khác…
Trong các bài viết và các công trình ấy, dễ dàng tìm thấy nhận định chung nhất: Thơ yêu nước tại các đô thị miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, là một mắt xích trong tổng thể nền văn nghệ dân tộc, là tiếng nói trung thực của những người trẻ tuổi. Trong danh sách vừa tạm điểm qua, có thể thấy số lượng những người viết lớn lên hoặc hoạt động tại Huế là khá nhiều.
*
Những năm tháng ấy, khi chiến tranh leo thang rồi quân đội Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam Việt Nam, tinh thần yêu nước đã được khơi dậy, bùng cháy trong tầng lớp trí thức - văn nghệ sĩ. Hàng loạt tổ chức yêu nước - tiến bộ hình thành tại các đô thị miền Nam. Nhớ lại, thì không thể không nhắc đến cuộc đấu tranh của Phật giáo và việc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức vào tháng 6/1963 tại Sài Gòn và tiếp theo là nhiều cuộc tự thiêu khác tại Huế, tại Đà Lạt, tại Nha Trang… Gây tiếng vang lớn là cuộc tự thiêu của Nhất Chi Mai (tại Sài Gòn, tháng 1/1968), với tiếng kêu thống thiết “chết mới được ra lời”. Nhớ không đầy đủ, thì đó là sự xuất hiện của Lực lượng giáo chức tranh đấu, Hội đồng Nhân dân Cứu quốc (ở Huế); Lực lượng nhân dân tranh thủ hòa bình (ở Đà Nẵng); Lực lượng nhân dân - sinh viên tranh thủ dân chủ (ở Đà Lạt); Hội bảo vệ nhân phẩm phụ nữ, Hội bảo vệ thanh thiếu nhi, Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc (ở Sài Gòn) và nhiều tổ chức quần chúng khác...
Trong bối cảnh ấy, những người viết trẻ ý thức rõ công việc của họ. Nói gọn, thì cảm hứng chủ đạo của dòng thơ yêu nước trong các đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 là khuynh hướng bày tỏ ý thức công dân và khuynh hướng đấu tranh cho hòa bình - độc lập dân tộc; thể hiện ngày càng rõ, nhất là ở những người làm thơ trẻ từ thập niên 1960 về sau. Họ đã cầm bút giữa hoàn cảnh đục - trong, sáng - tối lẫn lộn. Đó là sự phức tạp trong tình hình lũng đoạn của chủ trương văn nghệ thực dân mới, bên cạnh sức ảnh hưởng của văn học dân tộc và tính chất dân chủ trong văn học thế giới (thông qua khá nhiều ấn phẩm dịch). Đó là, một miền Nam chứa đựng trong lòng nó một đời sống văn hóa đặc biệt và nhiều mâu thuẫn, diễn ra giữa một xứ sở chiến tranh kéo dài…
Những câu thơ bên dưới, in ở tuần báo Sinh viên Huế năm 1964 có thể xem là bài thơ mở đầu cho dòng thơ ca tranh đấu của tuổi trẻ đô thị miền Nam, như một tuyên ngôn, cất lên tiếng nói trung thực giữa một xã hội băng hoại:
Nỗi căm hờn sôi trong lòng tuổi trẻ
Trong mắt anh, trong tiếng chị kêu gào
Trong vỗ tay cười trước nỗi thương đau
Ta bừng giận sóng xô trời biển dậy
Ta đã khát trăm năm rồi cổ cháy
Vì kêu la trên nỗi chết không rời...
(Phan Duy Nhân - Thư gửi các bạn sinh viên)
Gần mười năm trước (2015), nghĩ đến anh và những người đi trước, đã “liều lĩnh” thực hiện và may thay, nhờ sự góp sức của nhiều bằng hữu, ấn phẩm “Phan Duy Nhân - Thơ và đời” được ấn hành. Tập sách, như lời tiễn đưa sớm cho chuyến đi dài của anh, hai năm sau đó.
Người đi trước, là những ai? Làm sao quên dáng người với cặp kính cận và chiếc mũ bê-rê, một trí thức trẻ tiêu biểu của đất Cố đô, luôn lôi cuốn - thuyết phục người khác bằng chính nhiệt tình của bản thân.
Ta lên tiếng đòi đêm thâu từ giã
để ngày mai giông tố ngủ bên đường
(Ngô Kha - Trường ca Hòa bình)
Anh đã bị bắt - thủ tiêu nhưng những “bước đi/ từ giấc mơ hiện thực/ từ trái tim hợp xướng Hòa bình” của anh vẫn sống mãi trong mơ ước vĩnh cửu về tự do - hạnh phúc của loài người. Như chính tiên cảm của anh về cái chết của mình:
đêm sửa soạn bài ngụ ngôn của người đãng trí
lá từ giã cành cây làm lễ đọc kinh
người con gái lặng yên xem chúc thư
bó hoa tôi mang đến dòng sông bây giờ đã héo.
(Ngô Kha - Ngụ ngôn của người đãng trí)
Nhưng trước khi đến được sự chọn lựa cho mình một hướng đi, những người cầm bút trẻ tuổi thời ấy đã phải trải qua rất nhiều những dằn vặt, những câu hỏi khó tìm ngay được lời đáp, với những buổi sáng nằm vùi trên gác trọ/ Những chiều hôm mong đợi chẳng ai về/ Tình thuở trước đắp cao dần nấm mộ/ Trong lòng con cỏ mọc đã vàng hoe (Phan Duy Nhân - Thư cho mẹ và chị). Nhưng cuối cùng, cuộc chiến tranh xâm lược với sự có mặt của lính viễn chinh Mỹ và chư hầu, đã bày ra trước mắt những sự thật không thể lảng tránh:
Những ngày trở về tôi sống bơ vơ
Đi mãi về lòng mình lá chết
Thèm một người quen mừng rỡ hàn huyên
Chỉ thấy những người lính viễn chinh nói cười la hét
Những đêm khuya gác tối không đèn
Un buồng phổi khói tàn nhựa thuốc
Muốn viết những bài thơ tố cáo bạo quyền
Muốn viết những trang thư tình dù em không đọc
(Tần Hoài Dạ Vũ - Gửi tới một tương lai)
Sự thật, ấy là sự kiện gây chấn động trên toàn thế giới vào năm 1968 tại Quảng Ngãi:
... Những lính Mỹ
Đội nón sắt
... Chúng bắn xối xả vào Mỹ Lai
Bắn xối xả vào trẻ thơ đang ngậm vú mẹ
Bắn xối xả vào người già đi tản cư
Chúng bắn xối xả vào lịch sử.
(Nguyễn Văn Phụng - Mỹ Lai, máu, nước mắt và niềm uất hận)
Sự thật ấy đòi hỏi phải gọi thẳng tên - chỉ thẳng mặt kẻ xâm lăng… Và, vũ khí của họ chính là những dòng thơ được viết từ máu của trái tim mình:
Con sẽ vót nhọn thơ thành chông
xuyên vào gan lũ giặc
con sẽ mài thơ như kiếm sắc
chặt đầu văn nghệ tay sai
…
Nếu thơ con bất lực
con xin nguyện trọn đời
dùng chính quả tim mình làm trái phá
sống chết một lần thôi
…
Trái tim là của con người
viết lịch sử mình trên mặt đất
bằng từng nét máu thắm tươi.
(Trần Quang Long - Thưa mẹ, trái tim).
Chưa được gặp anh, người phát ngôn của cả một thế hệ thanh niên yêu nước, vì anh ra đi sớm quá. Nhớ lời kể của anh Lê Hiếu Đằng, một ngày tháng 11/1972, dưới tán rừng tại Svay Rieng (Campuchia): “Hồi ấy là năm 1968. Dứt đợt bom, mình chui ra khỏi đống đất bụi, gọi: “Long ơi, Luật ơi, thì không nghe tiếng trả lời. Trần Quang Long và Trần Triệu Luật cùng xuống một căn hầm”...” Năm ấy, Trần Quang Long mới 27 tuổi. Năm 1974, trong cái “bồng” trên vai, có tập di cảo thơ Sao rừng của anh, mang từ Lộc Ninh ra Quảng Bình và đã trao lại cho chị Lâm Thị Mỹ Dạ...
Con đường đi của mỗi cá nhân và của bất kỳ dân tộc nào cũng đều bắt đầu từ nhận thức về thực tại đời sống và những vấn đề đặt ra cho chính nó:
Hai mươi tuổi con lớn cùng nỗi khổ
Đồng bào ta trong áp bức bạo quyền
Sưu thuế nặng còng lưng đời lao động...
Con đã hiểu thế nào là dân chủ
Là tự do tô những lớp sơn màu
Triệu triệu người nhọc nhằn trong lao khổ
Nuốt tủi hờn qua cơm áo lầm than.
(Hoàng Văn Trương - Dòng máu đỏ).
Đó là Trương Văn Hoàng, lần gặp cuối trong bệnh viện Chợ Quán (Sài Gòn). Vẫn không mất đi cái nhiệt huyết năm nào, dù đang ở thời kỳ cuối của cơn bệnh nan y…
Không dưng mà hiện ra sắc đại ngàn thẫm xanh nơi lưng chừng con dốc Khe Lôi, một ngày đầu năm 1974, giữa núi rừng Trị Thiên, khi bất ngờ gặp lại và nỗi mừng bùng vỡ. Đấy là Lê Gành với con đường của anh, bắt đầu từ những gì yêu thương - gần gụi mà một biểu hiện rõ nhất, là hình ảnh Người Mẹ. Mẹ, là sự tiếp truyền từ những gì rất xa trong lịch sử dân tộc để làm nên truyền thống:
Mẹ đã dạy từ năm con mười tuổi
Bằng chính đời người đầy nước mắt nuôi con
…
Tương lai con là khổ đau đời Mẹ
Đời của cha, nợ máu đồng bào
...
Dưới bóng cờ hiên ngang con của Mẹ
Cùng anh em đi dựng mặt trời!
(Lê Gành - Mười năm, con đã lớn)
Và, căn phòng nơi tầng ba, Thư viện Đại học Huế, năm 1968, lần đầu gặp tác giả của “Thừa Phủ ơi, lòng ta hồng biển lửa” nổi tiếng trong giới sinh viên học sinh các đô thị miền Nam, được sáng tác hai năm sau đó:
Kiêu hùng tóc biếc bay cao/ Em tung nón rách/ Em gào tự do/ Ngày mai trên những chuyến đò/ Có cô con gái học trò sang sông/ Áo bay thơm má em hồng/ Cờ vươn cao gọi gió/ Thừa Phủ ơi/ Lòng ta hồng biển lửa!
Anh, một trong những người sống sót trở về từ nhà tù Côn Đảo không thể nào quên phút giây trào nước mắt khi giữa chốn địa ngục trần gian lại nhận được tấm lòng người mẹ:
Đời sống ngục tù vốn nhiều thiếu vắng
Thiếu bát cơm thơm mùi vị quê hương
Thiếu bàn tay của mẹ dịu dàng…
(Võ Quê - Món quà xuân mẹ ra Côn Đảo)
Không gì khác hơn là, chính tình yêu quê hương - đất nước đã dẫn đến hành động chống lại sắt thép - bạo lực. Huỳnh Văn Hoa, trong bài viết “Nguyễn Hoàng Thọ, ánh lên những ngọn lửa hồng” đã dẫn cách nói của Võ Quê, là thứ thơ của “lửa đường phố” với dũng khí “đi giữa rừng súng máy” (Trần Phá Nhạc):
Dạy mai lớn lên
Biết yêu người cách mạng
Vắt từng nắm cơm qua cửa ngục
Gửi người tình sa cơ
Dạy biết thêu từng chiếc khăn vàng lụa óng
Mùi châu thổ thơm thơm
Lau vết thương người anh hùng lỡ vận
(Nguyễn Hoàng Thọ - Để thấy trong tim hồng lên dòng lịch sử)
Và, dù không hề có ảo tưởng về những sáng tác của chính mình, vốn được xem là chút tâm tình - nhiệt huyết tuổi thanh xuân, những người cầm bút thời ấy vẫn tin rằng, văn chương - nghệ thuật là cái phần đáng quý nhất của Người:
Tôi dứt khoát là người yêu nghệ thuật
Vẽ bàn tay thành những mấu tim
Chém vào lưng bóng tối
Chân lý nơi mỗi tấm gương không hề phản chiếu
Nỗi u hoài của những đường gươm
Lướt qua đầu sự thật
(Trần Phá Nhạc - Đi giữa rừng súng máy)
Đó chính là thái độ của người cầm bút trước xã hội và con người, trong hoàn cảnh cực đoan của miền Nam Việt Nam. Đó là sự chọn lựa dấn thân, trên cả hai bình diện ý thức công dân và ý thức nghệ sĩ. Đóng góp của họ, về mặt văn học sử, có lẽ là sự “góp máu” vào truyền thống yêu nước của dân tộc. Và thời ấy, khi ở độ tuổi còn rất trẻ, có lẽ họ chưa hề xem văn chương là sự nghiệp gì to tát. Dù vậy, những tác phẩm của họ, trong chừng mực nhất định, đã xác lập ngôn ngữ thời đại, góp phần làm mới thi ca Việt Nam.
Nhiều người trong số họ đã ra đi. Ra đi từ những giọt nước mắt. Những giọt nước mắt bên những dòng sông Việt Nam. Những giọt nước mắt có mùi lá cỏ, làm thơm nước Hương giang. Những giọt nước mắt bắt đầu từ rất xa trong cả ngàn năm quá khứ, chảy đến những năm tháng nhiễu nhương của một thời đạn bom tao loạn. Những giọt nước mắt ra đi là để trở về. Những giọt nước mắt khổ đau - hạnh phúc - hy vọng.
Giờ đây, còn lại những câu thơ. Có phải, những câu thơ viết từ máu của trái tim sẽ sống bền lâu? Như thế, phải chăng, có thể giữ lại niềm mơ ước? Có thể nào chăng, cái bóng thầm tiếng động những câu thơ sẽ thấm vào giọng hát trong mơ. Giọng hát ấy, có thể tìm được ít nhiều sự sẻ chia chăng? Có thể chúng sẽ rơi vào quên lãng chăng?
Biết không? Không biết.
N.Đ.N
(TCSH431/01-2024)
Tải mã QRCode
Cuộc đời và sự nghiệp của Văn Cao luôn là những bí ẩn đối với hậu thế. Ai sẽ là người dựng lên được một Văn Cao - một trong những tượng đài của dân tộc Việt Nam thế kỷ 20, nhưng cũng là một con người của cuộc đời thực với những vui buồn, đớn đau, hạnh phúc...?
NGUYỄN KHẮC PHÊLần này, tác giả bộ trường thiên tiểu thuyết viết về thời Tây Sơn - Nguyễn Huệ "Sông Côn mùa lũ" (SCML) trở lại thăm nơi vua Quang Trung lên ngôi khi Huế vừa sang thu. Nước sông Hương do những trận mưa đầu mùa trên đại ngàn cuốn đất bùn con đường lớn Trường Sơn vừa xẻ rộng tràn về, không còn trong xanh như dịp ông về thăm Huế mùa hè hai năm trước, nhưng Cố đô qua hai kỳ Festival, nhiều khu phố được tôn tạo, khang trang hơn nhiều. (*)
VĂN THAOTháng 10-1944, nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác bài hát Tiến quân ca trên một căn gác nhỏ tại số nhà 45 phố Nguyễn Thượng Hiền. Căn gác này cũng là nơi Văn Cao đã sống và hoạt động cách mạng từ năm 1944 đến ngày toàn quốc kháng chiến 22-12-1946. Đội danh dự Việt Minh do Văn Cao phụ trách cũng từ đây toả đi làm nhiệm vụ. Nhiều cán bộ cao cấp của Đảng như các đồng chí Vũ Quý, Lê Quang Đạo, Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Thành Lê... cũng đã thường xuyên dùng địa điểm này để hoạt động trong những năm đầu cách mạng. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của Văn Cao như: Bài thơ Chiếc xe gác qua phường Dạ Lạc; các ca khúc Chiến sĩ Việt Nam, Công nhân Việt Nam, Không quân Việt Nam, Hải quân Việt Nam đã ra đời tại đây.
VĨNH NGUYÊNHội VHNT Thừa Thiên Huế chủ trương đưa văn nghệ sĩ về bám sát thực tế địa phương, vùng sâu vùng xa, nên những năm gần đây đã liên tục mở trại sáng tác ở các huyện trong tỉnh. Các năm trước là Quảng Điền, Phú Vang, Hương Thuỷ và năm 2004 này là Phú Lộc.
PHAN THÀNH TRUNGMột ngày đẹp trời. Lễ mừng thọ cụ Nguyễn Hữu Đang 80 tuổi được tổ chức vui vẻ, trân trọng tại Chòi ngắm sóng Hồ Tây, đúng vào ngày kỷ niệm Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 1992. Với danh nghĩa là em kết nghĩa của cụ Đang, Phùng Cung và Phùng Quán đã đứng ra tổ chức lễ thọ này. Hai nhà thơ vốn quen tính vui đùa dí dỏm đã gọi hóm là “Mừng sống dai”...
“Cụ Hồ Chí Minh được nhân dân rất quý mến. Tên cụ có nghĩa là “sáng suốt”. Cụ là một nhà chính trị xuất chúng, một nhà chiến lược Cách mạng, một người yêu nước nồng nàn. Cụ đã nêu gương chính nghĩa và đạo đức cho thế hệ thanh niên noi theo” (Nhà báo Mỹ - Starôbin)
NGUYỄN KHẮC PHÊNếu không có nghị lực hơn người, nhà giáo ưu tú - nhà nghiên cứu Văn Tâm đã bước sang thế giới khác từ 7- 8 năm trước rồi, sau cơn tai biến mạch máu não “thập tử nhất sinh”. Nhờ kiên trì tập luyện và đủ thứ thuốc men, từ bên “cửa tử”, dần dần anh đã “phục sinh” và với cây gậy ngắn để có thể tự đi lại trong nhà khi cần lục tìm tư liệu, cây bút nghiên cứu phê bình cẩn trọng mà không thiếu sự sắc sảo Văn Tâm đã cống hiến cho nền văn học chúng ta những tác phẩm dày dặn và thật sự có chất lượng: “Đoàn Phú Tứ - con người và tác phẩm” (1995, tái bản 2002), “Vườn khuya một mình” (2001), “Tản Đà khối mâu thuẫn lớn” (2003 - Tái bản, bổ sung). Một số bài nghiên cứu gần đây của anh về nhà văn Phùng Quán và nhà thơ Bằng Việt đăng trên “Sông Hương” cũng rất công phu, đồng thời vẫn thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận vẻ đẹp của văn chương.
(Trích) Lê Mỹ Ý: Thưa ông, đã từng là "Người đi tìm mặt " trong thơ, đến bây giờ ông đã tìm được khuôn mặt của mình chưa?Hoàng Hưng: Tôi thấy rằng cái mặt của tôi, bản thân cái mặt đó nó cũng không phải là một cái mặt và cũng không phải là bất biến qua thời gian, ngay cả trong từng lúc nó cũng không chỉ là một cái mặt mà nó có đến vài cái mặt. Qua thời gian lại càng có sự diễn biến. Việc đi tìm cái mặt của bản thân thực ra có những người không bao giờ thấy cả, tức là không biết mình như thế nào.
Tháng 4 năm 1988, khi đang chữa bệnh ở chùa Pháp Hoa (Đồng Nai), trong một bức thư gửi bạn, nhà văn Nguyễn Minh Châu tâm sự rằng ông vẫn thèm viết tiếp một bài về vấn đề “Nhà văn và sự nghiệp dân chủ hóa đất nước” Nhưng rồi bệnh ngày càng nặng khiến ông cho đến khi qua đời đã không thực hiện xong dự định. Tuy vậy đồng nghiệp và bạn đọc vẫn may mắn được biết ý kiến căn bản của ông về vấn đề này.
VÕ THỊ QUỲNHĐến Hội Văn nghệ một chiều xuân Giáp Thân, tết còn đỏ hạt dưa, còn thắm mai vàng, còn hồng hoa đào và còn lủng lẳng tròn trịa những quả quất trĩu cành - chúng tôi tưởng nhớ anh - nhà thơ luôn dịu dàng, luôn hiền hoà: XUÂN HOÀNG. Bao kỷ niệm một thời nhà thơ sống gắn bó sáng tạo với Bình Trị Thiên, với Huế lại ùa về trong lòng những người đến thắp hương kính viếng hương hồn anh - chiều nay...
VÕ QUÊNhững ngày đầu xuân Giáp Thân, giới văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế vô cùng thương tiếc khi nghe tin nhà thơ Xuân Hoàng đã từ trần vào ngày mồng 3 Tết (24.1.2004) tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đi của nhà thơ Xuân Hoàng là một tổn thất lớn đối với phong trào văn học của khu vực Bình Trị Thiên ruột thịt và của cả nước.
HỒ THẾ HÀ Ngày thơ Việt Nam chính thức được mang tên, đến nay, đã tròn một năm. Một năm là khoảng thời gian rất ngắn, nhưng trong ý nghĩ và dự cảm của mọi người suốt dòng chảy văn hoá, để thi ca trở thành hiện thực như hôm nay là một quá trình trải nghiệm của lịch sử và truyền thống lâu dài của dân tộc Việt Nam-một dân tộc yêu thi ca, có tiềm năng, trữ lượng và những giá trị thi ca không bao giờ vơi cạn.
PV: Là một nhà văn nổi tiếng với những tập truyện ngắn Người sông Hương, Làng thức... và các tiểu thuyết Ngoại ô, Dòng sông phẳng lặng (3 tập), Phía ấy là chân trời... những đứa con tinh thần của anh ra đời gần như tập trung liên tục trong khoảng hơn mười năm (trước và sau 1975). Trừ một số bài viết ngắn đăng ở báo và tạp chí, nếu tôi không nhầm thì, tác phẩm gần đây nhất của anh, tiểu thuyết Phía ấy là chân trời, hình như xuất bản từ năm 1988? Tại sao anh "dừng lại" đột ngột và lâu như vậy?Tô Nhuận Vỹ (TNV): Với lý do gì đi nữa thì việc "tịt đẻ" lâu như vậy cũng là chuyện chẳng hay gì đối với một nhà văn. Trong thời gian tôi "tạm dừng" đó, nhiều tác giả bạn bè tôi đã lao động miệt mài, "đẻ" hàng chục "đứa con tinh thần" rồi đó.
NGUYỄN ĐÌNH SÁNGNăm 1975, lần đầu tiên tôi gặp nhạc sỹ Trần Hoàn tại Hà Nội. Lúc đó, tôi đang an dưỡng tại Ban thống nhất Trung ương và có ý định xin về Huế công tác. Nhà thơ Cù Huy Cận Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin lúc bấy giờ đã bảo tôi đến gặp nhạc sỹ Trần Hoàn để trình bày nguyện vọng. Anh tiếp tôi với một ngôn ngữ hết sức dân dã, mang đậm chất miền trung. Anh hỏi: “Mi quê mô?” Tôi thưa cùng anh: “Em người Quảng Trị.” Anh hỏi tiếp: “Rứa mi học cái chi?” Tôi thưa: “Em học thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội.” Anh nheo mắt cười và trả lời: “Đồng ý! Lên Bộ Văn hoá làm quyết định rồi về công tác. Trong miềng chừ nhiều việc lắm...”.
NGUYỄN TRỌNG TẠOTôi biết nhạc sĩ Trần Hoàn vĩnh biệt cõi trần vào lúc 5 giờ 6 phút ngày 23 tháng 11 tại bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, nhờ cú điện thoại của một nhà báo gọi đến đặt bài. Đã mấy hôm nay biết ông hôn mê sâu, khó qua khỏi mệnh trời, nhưng khi nghe tin ông qua đời, tôi vẫn chưa tin là ông đã mất.
NGUYỄN TUYẾN TRUNGLâu rồi tôi mới có dịp đến thăm nhạc sĩ Mai Xuân Hoà và cô giáo Nguyễn Thị Hồng - hai vợ chồng đều đã nghỉ hưu, vẫn ở tại số nhà 71 đường Bến Nghé thành phố Huế.
HỮU THUTrong suốt ba nhiệm kỳ đảm đương cương vị Bí thư Tỉnh uỷ, với anh chị em làm báo, chú Vũ Thắng thường dành cho những ưu ái, đó là có thể gặp gỡ vào bất cứ lúc nào, dù ở cơ quan hay nhà riêng. Do vậy mà ngôi nhà cũ ở đường Mai Thúc Loan quá đỗi thân thiết với nhiều người làm báo, trong đó có tôi.
VÕ QUANG YẾNỞ Pháp ngưòi ta thường bảo một con chim én không đủ để báo mùa xuân. Tôi thì tin một nữ sĩ có thể chiếu sáng một chiều thu lá vàng mưa bay nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể là nữ sĩ ấy. Chị là thi sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, ái nữ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị.
NGUYỄN HUY THẮNGNhững ngày đầu tháng 12-1954, người dân Hà Nội và khắp các vùng xung quanh nô nức kéo đến Nhà hát Nhân dân xem “văn công”. Văn công là từ bấy giờ dùng để chỉ những buổi biểu diễn văn nghệ trên sân khấu nói chung. Nhưng đợt “văn công” cuối năm 54 ấy mang một tính chất đặc biệt, vì là một đại hội có quy mô lớn (Đại hội Văn công toàn quốc), từ kháng chiến về, lần đầu tiên ra mắt công chúng Thủ đô vừa thoát khỏi ách tạm chiếm.
NGUYỄN QUANG HÀTạp chí sáu tỉnh Bắc miền Trung vẫn duy trì đều đặn hàng năm gặp gỡ giao lưu để cùng tìm cách nâng cao chất lượng tờ tạp chí văn học của địa phương mình. Năm nay, năm 2003 Tạp chí Nhật Lệ đến phiên đăng cai cuộc họp mặt. Khách mời năm nay, ngoài các cơ quan trong tỉnh Quảng Bình, còn có đại biểu của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, của tạp chí Diễn đàn, cơ quan ngôn luận của Hội về dự.