Bình yên cuộc sống nhân dân từ trách nhiệm và tấm lòng của người chiến sĩ công an

09:34 15/11/2019

TRẦN HỒ  

Lần đầu tiên Công an tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh tổ chức trại sáng tác văn học nghệ thuật, với chủ đề “Công an Thừa Thiên Huế - Vì bình yên cuộc sống” chào mừng kỷ niệm 74 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Ngày truyền thống lực lương CAND Việt Nam (19/8/1945 - 19/8/2019).

21 văn nghệ sĩ thuộc các chuyên ngành: nhà văn, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu tham dự trại viết và kết quả đạt được nằm ngoài mong đợi với lượng tác phẩm đầy đặn, chất lượng.
 

Trại viết đã tạo nên một không khí cởi mở giữa văn nghệ sĩ và các cán bộ chiến sĩ công an. Sẽ không thể quên những lần gặp gỡ các nhân vật những đồng chí điển hình, trao đổi chia sẻ tài liệu trong các phòng ban của ngành công an, những lần thăm phòng Truyền thống; chuyến trại viết về đơn vị công an Phú Lộc tìm hiểu công tác bảo vệ an ninh chính trị, đấu tranh phòng chống tội phạm cả ngày lẫn đêm đầy gian khó. Những cuộc đối thoại chân tình giữa các tác giả và chiến sĩ công an cũng như với người lầm lỡ đang lãnh án, đã phần nào giải mã nhiều nút thắt công việc và cả nơi bề sâu tâm hồn. Hay đó là khoảng thời gian trại viết tham dự các cuộc thao diễn lớn; sau nữa là cuộc chung vui bên bờ biển Vinh Hiền đầy nắng gió; cuộc giao lưu với cán bộ chiến sĩ ở bãi biển Lăng Cô và cả ngọn lửa trại đêm ấm áp, góp niềm cảm hứng cho ra đời những tác phẩm chân thực, nhân văn. Có thể nói đây là cuộc tương giao nghĩa tình để mỗi bên cùng tạo nên những nghĩa cử đẹp cho đời. Như lời của đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bùi Thanh Hà: “Mảng đề tài về lực lượng công an phong phú nhưng khó tiếp cận. Tuy nhiên, không vì thế mà ngăn được sức sáng tạo của văn nghệ sĩ để tạo nên những tác phẩm phản ánh chân thực người chiến sĩ công an”. Kết quả thể hiện rất rõ trong tập sách tuyển chọn tác phẩm từ trại viết: “Vì bình yên cuộc sống” (320 trang, khổ 16x24cm, Nxb. Thuận Hóa, 2019).

Các tác phẩm không những thể hiện rõ tinh thần phụng sự nhân dân của người chiến sĩ, mà còn là công việc thầm lặng trên trang giấy ở công sở hay những kế hoạch từng là bí mật của ban chỉ đạo trong thời khắc mà người dân đã đi vào giấc ngủ. Có một điểm đặc biệt là rất nhiều bài viết nhắc đến yếu tố đạo đức tư tưởng và sự gần dân, gắn bó với nhân dân từ chính sách tuyên truyền cho đến người chiến sĩ trực tiếp thực thi nhiệm vụ trước tội phạm. Nhiều tác phẩm vượt khỏi tính tuyên truyền, được chắt lọc chi tiết, suy ngẫm về mối quan hệ giữa bên bảo vệ pháp luật và bên phạm luật, và gạch nối đó là nhân dân. Nhà văn Nguyễn Quang Hà, tác giả của các tiểu thuyết về chiến tranh cách mạng ở Huế, trong bài viết mở đầu cho tập sách, có đưa hình ảnh tiếng chuông Thiên Mụ với nhiều ý nghĩa, mà trước hết là tiếng ngân vang trong sự thanh vắng của không gian yên bình có sự góp sức lớn lao của người chiến sĩ công an, và nó cũng mang ẩn nghĩa của sự cảnh tỉnh nếu niềm tin từ phía nhân dân bị rạn nứt.

Có sự trùng hợp thú vị ở nhiều bài viết là trong đời, tác giả từng tiếp xúc với những anh chị em làm công tác an ninh, đều là người nhiệt huyết với tinh thần cống hiến, hy sinh đáng trọng. Một số tác giả thường viết tiểu thuyết, truyện ngắn và bài về ngành công an đã có dịp góp mặt trong Trại viết lần này, như nhà văn Hà Khánh Linh (với các tiểu thuyết Thúy, Chiến tranh và sau chiến tranh), nhà văn Nguyễn Nguyên An (với những tập sách do Nxb Công an Nhân dân ấn hành như Trường đại học của tôi, Ngọn đèn vẫn tỏ, v.v). Nhà văn Tô Nhuận Vỹ (với bộ tiểu thuyết Dòng sông phẳng lặng được chuyển thể thành phim cùng tên) có dòng tâm sự về “những chiến sĩ an ninh chân chính” gặp trong đời, làm nền cho những nhân vật trong các tiểu thuyết khác (như Phía ấy là chân trời, Ngoại ô). Những con người thực bước vào trang sách rồi tỏa sáng đến lớp chiến sĩ sau. Những nhân vật điển hình trong các tác phẩm xưa nay và trong trại viết lần này, không gian và câu chuyện luôn hiển hiện trong cuộc sống quanh ta và điều này khiến cho mỗi họ cùng với độc giả như được soi vào tấm gương chung của xã hội để nhận diện ý nghĩ và hành vi ứng xử của mình.

Những cây viết văn học trẻ tham gia trại viết đã có cách nhìn khá định tĩnh và chính chắn, thể hiện được nội lực sáng tạo và tính độc lập trong tư duy về “lá chắn thép” của sự bình an. Trang viết của họ bám sát diễn tình vụ án, trách nhiệm người chiến sĩ trước hiểm nguy và bên cạnh đó là niềm ước về nỗi hoàn lương trở lại nhịp sống thường tình của thành phần lầm lỡ. Một kịch bản duy nhất trong trại viết, qua phần thể hiện trích đoạn khá thành công trong buổi bế mạc, xúc động, thắp lên ánh sáng từ bóng tối tâm thức của lỗi lầm và sự ngộ nhận vượt ngoài khuôn thước của pháp luật và nhân quả. Bên cạnh những bài viết lấy cảm hứng từ thực tế trại viết, là dòng hồi ức về những lần tác giả gặp nạn, có công an; rồi trong đời thường họ gặp người công an, trong những lần tuần tra, cùng theo dấu tội phạm; cũng có tác giả từng đặt chân đến các đơn vị công an với nhiều lý do khác nhau trong đó có công việc viết nhọc nhằn... tất cả dường như tạo nên một cuộc sống riêng lấp lánh sắc màu.

Mảng ca khúc, dòng nhạc vang lên thanh thoát, gợi về niềm yêu nghề từ trong gian khó, trong sự khắc nghiệt của lửa và tính cấp bách của niềm sống. Nhiều ca khúc chạm đến nơi sâu xa nỗi lòng của người chiến sĩ để lại dấu chân trong bóng tối mênh mang và trong vùng mờ của cái ác hoành hành. Âm hưởng trần hùng, lời ca trong sáng gần gũi, làm bật lên ý chí gần như là niềm đam mê phụng hiến cho yên bình. Nét đẹp của âm nhạc và lời ca khiến người nghe tưởng về cuộc sống tươi sáng của người công an nhân dân trong sự hòa quyện với gia đình, xã hội. Không những họ tự hào khi được người dân tin yêu, mà chính người thân, và tình yêu cũng trở nên thiện lành trong mỗi khoảnh khắc của sự sống trôi nhanh. Những bức ảnh ánh lên niềm tin trong mắt người chiến sĩ, là tính kỷ luật, nền nếp, sức mạnh và sự nhanh nhạy ứng phó tác chiến; là những khoảnh khắc họ hòa vào thiên nhiên thơ mộng với những chiếc xuồng vặn sóng. Có tác phẩm điêu khắc lột tả tinh thần đoàn kết đứng canh gác bên nhau nhìn về nhiều hướng song đó là cũng là nhìn về một hướng vì Tổ quốc thân yêu. Hay đó là không gian bức tranh phóng hiện một sớm nắng trài dài trên tàng cây cổ thụ và con đường xanh in thêm bóng dáng của người chiến sĩ nhẹ nhàng trên chuyến xe tuần tra trong ngày mới đang lên.

Trại viết “Công an Thừa Thiên Huế - Vì bình yên cuộc sống” khai mạc ngày 31/5, đã được bế mạc đầy ấn tượng vào ngày 24/8/2019. Một điều rất tuyệt, là lòng nhiệt huyết của Ban Tổ chức đối với các thành viên trại viết, tạo nên không khí ân tình. Dẫu rằng phần tư liệu và thời gian địa điểm thực tế chưa thật sự phong phú một phần do đặc thù của ngành, song chừng ấy đủ cho ra đời những tác phẩm phản ánh được trách nhiệm và tấm lòng của người chiến sĩ công an Thừa Thiên Huế trong mối tương quan mật thiết với cuộc sống nhân dân. Điều này một mặt thể hiện sức mạnh của ngành công an, một mặt khẳng định tầm vóc của nghệ thuật vốn đã được ghi nhận từ hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta.

T.H  
(SHSDB34/09-2019)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • VÕ QUANG YẾN Tôi yêu tiếng nước tôi                Từ khi mới ra đời làm người                                                Phạm Duy

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGKhao khát, đinh ninh một vẻ đẹp trường tồn giữa "cuộc sống có nhiều hư ảo", Vú Đá, phải chăng đó chính là điều mà kẻ lãng du trắng tóc Nhất Lâm muốn gửi gắm qua tập thơ mới nhất của mình? Bài thơ nhỏ, nằm nép ở bìa sau, tưởng chỉ đùa chơi nhưng thực sự mang một thông điệp sâu xa: bất kỳ một khoảnh khắc tuyệt cảm nào của đời sống cũng có thể tan biến nếu mỗi người trong chúng ta không kịp nắm bắt và gìn giữ, để rồi "mai sau mang tiếng dại khờ", không biết sống. Cũng chính từ nhận thức đó, Nhất Lâm luôn là một người đi nhiều, viết nhiều và cảm nghiệm liên tục qua từng vùng đất, từng trang viết. Câu chữ của ông, vì thế, bao giờ cũng là những chuyển động nhiệt thành nhất của đời sống và của chính bản thân ông.

  • MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHTôi nghe rằng,Rạch ròi, đa biện, phân minh, khúc chiết... là ngôn ngữ khôn ngoan của lý trí nhị nguyên.Chan hoà, đa tình, niềm nỗi... là ngôn ngữ ướt át của trái tim mẫn cảm.Cô liêu, thuỷ mặc, bàng bạc mù sương, lấp ló trăng sao... là ngôn ngữ của non xanh tiểu ẩn.Quán trọ, chân cầu, khách trạm, phong trần lịch trải... là ngôn ngữ của lãng tử giang hồ.Điềm đạm, nhân văn, trung chính... là ngôn ngữ của đạo gia, hiền sĩ.

  • MAI VĂN HOANTập I hồi ký “Âm vang thời chưa xa” của nhà thơ Xuân Hoàng ra mắt bạn đọc vào năm 1995. Đã bao năm trôi qua “Âm vang thời chưa xa” vẫn còn âm vang trong tâm hồn tôi. Với tôi, anh Xuân Hoàng là người bạn vong niên. Tôi là một trong những người được anh trao đổi, trò chuyện, đọc cho nghe những chương anh tâm đắc khi anh đang viết tập hồi ký để đời này.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ giới thiệuNhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà phê bình Hoài Thanh (1909-2009)Chúng ta từng biết cố đô “Huế Đẹp và Thơ” một thời là nơi hội tụ các văn nhân, trong đó có những tên tuổi kiệt xuất của làng “Thơ Mới” Việt Nam như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…; nhưng nhà phê bình Hoài Thanh lại đến với Huế trong một hoàn cảnh đặc biệt và có thể nói là rất tình cờ.

  • LÊ TRỌNG SÂM giới thiệuBà sinh ra và lớn lên ở Painpol và Saint-Malo, một đô thị cổ vùng Bretagne, miền đông bắc nước Pháp. Học trung cấp và tốt nghiệp cử nhân văn chương ở thành phố Nice, vùng xanh da trời miền nam nước Pháp. Là hội viên Hội nhà văn Pháp từ năm 1982, nay bà đã trở thành một trong số ít nhà văn Châu Âu đã tiếp thu và thâm nhập sâu sắc vào rất nhiều khía cạnh của văn hoá Việt Nam.

  • MAI VĂN HOAN giới thiệu Vĩnh Nguyên tên thật là Nguyễn Quang Vinh. Anh sinh năm 1942 (tuổi Nhâm Ngọ) ở Vĩnh Tuy, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bố anh từng tu nghiệp ở Huế, ông vừa làm thầy trụ trì ở chùa vừa bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo. Thuở thiếu thời anh đã ảnh hưởng cái tính ngay thẳng và trung thực của ông cụ. Anh lại cầm tinh con ngựa nên suốt đời rong ruổi và “thẳng như ruột ngựa”.

  • LGT: Vài năm lại đây, sau độ lùi thời gian hơn 30 năm, giới nghiên cứu văn học cả nước đang xem xét, nhận thức, và đánh giá lại nền “Văn học miền Nam” (1954 - 1975) dưới chế độ cũ, như một bộ phận khăng khít của văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX với các mặt hạn chế và thành tựu của nó về nghệ thuật và tính nhân bản. Văn học của một giai đoạn, một thời kỳ nếu có giá trị thẩm mỹ nhân văn nhất định sẽ tồn tại lâu hơn bối cảnh xã hội và thời đại mà nó phản ánh, gắn bó, sản sinh. Trên tinh thần đó, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết vừa có tính chất hồi ức, vừa có tính chất nghiên cứu, một dạng của thể loại bút ký, hoặc tản văn về văn học của tác giả Nguyễn Đức Tùng, được gửi về từ Canada. Bài viết  dưới đây đậm chất chủ quan trong cảm nghiệm văn chương; nó phô bày cảm nghĩ, trải nghiệm, hồi ức của người viết, nhưng chính những điều đó làm nên sự thu hút của các trang viết và cả một quá khứ văn học như sống động dưới sự thể hiện của chính người trong cuộc. Những nhận định, liên hệ, so sánh, đánh giá trong bài viết này phản ánh lăng kính rất riêng của tác giả, dưới một góc nhìn tinh tế, cởi mở, mang tính đối thoại của anh. Đăng tải bài viết này chúng tôi mong muốn góp phần đa dạng hóa, đa chiều hóa các cách tiếp cận về văn học miền Nam. Rất mong nhận được các ý kiến phản hồi của bạn đọc. TCSH

  • MAI VĂN HOAN giới thiệuNăm 55 tuổi, Hồng Nhu từng nhiều đêm trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh gắn bó trọn hai mươi lăm năm với bao kỷ niệm vui buồn. Và cuối cùng anh đã quyết tâm trở về dù đã lường hết mọi khó khăn đang chờ phía trước. Nếu không có cái quyết định táo bạo đó, anh vẫn là nhà văn của những thiên truyện ngắn Thuyền đi trong mưa ngâu, Gió thổi chéo mặt hồ... từng được nhiều người mến mộ nhưng có lẽ sẽ không có một nhà văn đầm phá, một nhà thơ “ngẫu hứng” như bây giờ.

  • LÊ HỒNG SÂMTìm trong nỗi nhớ là câu chuyện của một thiếu phụ ba mươi tám tuổi, nhìn lại hai mươi năm đời mình, bắt đầu từ một ngày hè những năm tám mươi thế kỷ trước, rời sân bay Nội Bài để sang Matxcơva du học, cho đến một chiều đông đầu thế kỷ này, cũng tại sân bay ấy, sau mấy tuần về thăm quê hương, cô cùng các con trở lại Pháp, nơi gia đình nhỏ của mình định cư.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ     (Đọc “Cạn chén tình” - Tuyển tập truyện ngắn Mường Mán, NXB Trẻ, 2003)Với gần 40 năm cầm bút, với hơn hai chục tác phẩm văn xuôi, thơ và kịch bản phim, nhà văn Mường Mán là một tên tuổi đã quen thuộc với bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ. Có lẽ vì ấn tượng của một loạt truyện dài mà ngay từ tên sách (Lá tương tư, Một chút mưa thơm, Bâng khuâng như bướm, Tuần trăng mê hoặc, Khóc nữa đi sớm mai v...v...) khiến nhiều người gọi ông là nhà văn của tuổi học trò, trên trang sách của ông chỉ là những “Mùa thu tóc rối, Chiều vàng hoa cúc...”.

  • NGUYỄN VĂN HOATranh luận Văn Nghệ thế kỷ 20, do Nhà xuất bản lao động ấn hành. Nó có 2 tập: tập 1 có 1045 trang và tập 2 có 1195 trang, tổng cộng 2 tập có 2240 trang khổ 14,4 x 20,5cm. bìa cứng, bìa trang trí bằng tên các tờ báo, tạp chí có tư liệu tuyển trong bộ sách này.

  • VĨNH CAO - PHAN THANH HẢIVườn Thiệu Phương là một trong những Ngự uyển tiêu biểu của thời Nguyễn, từng được vua Thiệu Trị xếp là thắng cảnh thứ 2 trong 20 cảnh của đất Thần Kinh. Nhưng do những nguyên nhân lịch sử, khu vườn này đã bị triệt giải từ đầu thời vua Ðồng Khánh (1886-1889) và để trong tình trạng hoang phế mãi đến ngày nay. Trong những nỗ lực nhằm khắc phục các "không gian trắng" tại Tử Cấm Thành và phục hồi các khu vườn ngự của thời Nguyễn, từ giữa năm 2002, Trung tâm BTDTCÐ Huế đã phối hợp với Hội Nghệ thuật mới (Pháp) tổ chức một Hội thảo khoa học để bàn luận và tìm ra phương hướng cho việc xây dựng dự án phục hồi khu vườn này.

  • HỒNG DIỆUNhà thơ Cao Bá Quát (1809-1854) được người đời hơn một thế kỷ nay nể trọng, với cả hai tư cách: con người và văn chương. "Thần Siêu, thánh Quát", khó có lời khen tặng nào cao hơn dành cho ông và bạn thân của ông: Nguyễn Văn Siêu (1799-1872).

  • HÀ VĂN THỊNHI. Có lẽ trong nhiều chục năm gần đây của lịch sử thế giới, chưa có một nhà sử học nào cũng như chưa có một cuốn sách lịch sử nào lại phản ánh những gì vừa xẩy ra một cách mới mẻ và đầy ấn tượng như Bob Woodward (BW). Hơn nữa đó lại là lịch sử của cơ quan quyền lực cao nhất ở một cường quốc lớn nhất mọi thời đại; phản ánh về những sự kiện chấn động nhất, nghiêm trọng nhất đã diễn ra trong ba năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới: sự kiện ngày 11/9, cuộc chiến tranh Afganistan và một phần của cuộc chiến tranh Iraq.

  • ĐẶNG TIẾN     (Đọc Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)Một tờ báo ở ngoài nước đã giới thiệu bốn cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp mới xuất bản. Dĩ nhiên là một bài báo không thể tóm lược được khoảng 1700 trang hồi ký viết cô đúc, nhưng cũng lảy ra được những đặc điểm, ý chính và trích dẫn dồi dào, giúp người đọc không có sách cũng gặt hái được vài khái niệm về tác phẩm.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO       (Đọc tập truyện ngắn “Trà thiếu phụ” của nhà văn Hồng Nhu – NXB Hội Nhà văn 2003)Tôi đã được đọc không ít truyện ngắn của nhà văn Hồng Nhu và hầu như mỗi tập truyện đều để lại trong tôi không ít ấn tượng. Trải dài theo những dòng văn mượt mà, viết theo lối tự sự của nhà văn Hồng Nhu là cuộc sống muôn màu với những tình cảm thân thương, nhiều khi là một nhận định đơn thuần trong cách sống. Nhà văn Hồng Nhu đi từ những sự việc, những đổi thay tinh tế quanh mình để tìm ra một lối viết, một phong cách thể hiện riêng biệt.

  • ĐỖ QUYÊN…Đọc thơ Bùi Giáng là thuốc thử về quan niệm thơ, về mỹ học thi ca. Đã và sẽ không ai sai nhiều lắm, cũng không ai đúng là bao, khi bình bàn về thơ họ Bùi. Nhắc về cái tuyệt đỉnh trong thơ Bùi Giáng, độ cao sâu tư tưởng ở trước tác Bùi Giáng nhiều bao nhiêu cũng thấy thiếu; mà chỉ ra những câu thơ dở, những bài thơ tệ, những đoạn văn chán trong chữ nghĩa Bùi Giáng bao nhiêu cũng bằng thừa…

  • LÊ THỊ HƯỜNGTrong căn phòng nhỏ đêm khuya, giai điệu bản sonat của Beethoven làm ta lặng người; một chiều mưa, lời nhạc Trịnh khiến lòng bâng khuâng; trong một quán nhỏ bên đường tình cờ những khúc nhạc một thời của Văn Cao vọng lại làm ta bất ngờ. Và cũng có thể giữa sóng sánh trăng nước Hương Giang, dìu dặt, ngọt ngào một làn điệu ca Huế khiến lòng xao xuyến.

  • NGÔ MINHĐến tập thơ chọn Giếng Tiên (*), nhà thơ - thầy giáo Mai Văn Hoan đã gửi đến bạn yêu thơ 5 tập thơ trữ tình, trong đó có hai tập thơ được tái bản. Đó là tập đầu tay Ảo ảnh, in năm 1988, tái bản 1995 và tập Hồi âm, in năm 1991, tái bản năm 2000. 15 năm xuất bản 7 đầu sách (2 tập tiểu luận) và đang có trong ngăn kéo vài tập bản thảo tiểu luận nữa, chứng tỏ sức sáng tạo sung mãn đáng nể trọng của một thầy giáo vừa dạy học vừa sáng tác văn chương.