NGUYỄN QUANG HUY
Tranh của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm - Ảnh: TKC/dantri
1. Giới thiệu
Biểu tượng “trăng” là mã văn hóa - nghệ thuật quan trọng bậc nhất trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nó hiện diện trong nhiều hình thù, đặc điểm khác nhau tùy theo các hoàn cảnh xã hội - tâm giới, chủ yếu qua nhân vật Thúy Kiều. Qua khảo sát và phân tích, “trăng” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã vượt qua một hình ảnh thiên nhiên thông thường từ văn bản gốc của Thanh Tâm Tài Nhân. Nó trĩu nặng các trạng thái tình cảm và các sắc thái sống. Đúng hơn, nó gắn liền với các trải nghiệm tinh thần và thể xác ở thế giới trần tục. Quan trọng nhất, chúng tôi cho rằng, qua chủ thể soi ngắm và trải nghiệm - Vương Thúy Kiều - biểu tượng “trăng” đã biểu đạt các tầng sâu của cái tôi chủ thể. Mục tiêu cụ thể của bài viết này, qua sự mô tả các biểu hiện khác nhau của “trăng” trong liên hệ với Thúy Kiều, chúng tôi chỉ ra các ý nghĩa về tâm lí, văn hóa của chúng. Tuy nhiên, cần phải đặt sự phân tích này trong các tương quan mang tính tổng thể từ các hình ảnh và biểu tượng khác trong văn bản như: bóng đêm, trạng thái biểu hiện của ngày, các biểu hiện của bóng đèn, yếu tố nước, thế giới mộng, v.v. Những thành phần này tạo nên không gian âm tính, vũ trụ âm tính độc lập với thế giới còn lại. Và quan trọng nhất trong tương quan này là biểu hiện cụ thể các trạng thái tâm và thể của nhân vật Thúy Kiều. Do vậy, trong bài này, các yếu tố biểu tượng trăng, chủ thể trải nghiệm - Thúy Kiều, không gian âm tính, ý hướng tạo ảnh sẽ là các trung tâm của vấn đề bàn luận.
Cuộc sống của con người trong Truyện Kiều (Đào Duy Anh, 1989) được Nguyễn Du đặt trong một mạng lưới hàng loạt các mối quan hệ với thế giới xung quanh. Đặc điểm của thế giới này có đầy đủ các biểu hiện của nó từ trên trời xuống cõi âm, vừa hữu hình vừa vô hình, vừa hữu thức vừa vô thức. Ở đây, ngày và đêm; thiên nhiên và xã hội; mơ và thực, âm và dương; thiêng và tục; hồn ma và con người, thiện và ác, v.v. cùng hiện diện trong một liên đới đến kỳ lạ. Giải thích điều này, về mặt lí thuyết nhận thức của con người thời trung đại, và mô hình các thế giới trong văn chương nhà Nho đã được Gurevich (1998) và Trần Nho Thìn (2003) đề cập đến. Cả hai tác giả tập trung vào các nguyên lí vận hành của vũ trụ trong cuộc sống của con người trung đại phương Đông, đặc biệt là ở Trung Quốc và Việt Nam vốn mang tính lưỡng nguyên rõ rệt, tức là một sự liên hệ mang tính “tương cảm”, “tương dữ” giữa con người và thế giới. Ở một phương diện khác, chúng tôi đã có lần đề cập đến tính chất này ở khía cạnh “tâm thức tham dự” của con người thời trung đại, nó biểu hiện cho kiểu tư duy tiền hiện đại (Nguyễn Quang Huy, 2015). Nhìn từ khía cạnh này, thân phận con người luôn chịu sự chi phối và cộng thông với vũ trụ tổng thể gồm ba tầng bậc trời - người - cõi âm. Đề cập và phân tích biểu tượng “trăng” trong Truyện Kiều, các tác giả Lê Văn Lý (2020; 2001), Lưu Khôn (2020), Đào Dục Tú (2020), Trần Đình Sử (2007), Vương Trọng (2017) ghi nhận sự xuất hiện với tần suất lớn trong truyện. Các tác giả đã khai thác, phân tích biểu tượng “trăng” từ khía cạnh ẩn dụ, ký hiệu, v.v. Theo đó, “trăng” là yếu tố thời gian, và quan trọng nhất là ẩn dụ (Trần Đình Sử, 2007), chủ yếu là để hình tượng hóa tâm trạng nhân vật, thấm đẫm cảm xúc vui buồn theo tâm cảnh (Đào Dục Tú, 2020). Những kết quả đề cập trên đây, một mặt, không xuất phát từ một phương pháp nghiên cứu cụ thể, trong các công bố của Đào Dục Tú, Lê Văn Lý, Lưu Khôn, Vương Trọng hoặc rơi vào trường hợp không phải là đối tượng nghiên cứu chính, trong công trình của Trần Đình Sử (2007). Sự lý giải về “trăng” trong Truyện Kiều để lại nhiều dấu ấn nhất, theo chúng tôi là Lê Tuyên (2000). Bằng cái nhìn kết hợp lý thuyết Hiện tượng học của E. Husserl và Phân tâm học vật chất của G. Bachelard, xuất phát từ văn bản, Lê Tuyên cho rằng xét về bối cảnh và ý nghĩa của “trăng” cần đặt trong một tương quan của vũ trụ âm tính, với bối cảnh thời gian đặc thù: “năm của Đoạn trường tân thanh, vì vậy là năm âm lịch, và vũ trụ Đoạn trường tân thanh do đấy được quy định về đêm. Con người hiện sinh của Đoạn trường tân thanh vì thế được quy kết trong đêm theo sự chuyển biến của mặt trăng, cho nên mỗi vầng trăng trong Đoạn trường tân thanh bao hàm một ý nghĩa với thời gian xã hội. Qua mỗi vầng trăng, con người và vũ trụ như kết hợp vào nhau để tạo nên một nhịp đời trong hoàn cảnh. Bao nhiêu chuyển biến của đời Kiều giữa cuộc sống đều được quy định bằng những vầng trăng” (Lê Tuyên, 2000, trang 186). “Trăng” hiện lên trong nhiều trạng thái hình thể: “trăng” của thời gian, “trăng” để tả người, “trăng” tương ngộ, “trăng” thề bồi, “trăng” đơn chiếc, “trăng” li cách, “trăng” giải thoát, v.v. “Trăng” hiện diện từ tâm lý đến ngay cả những đổi thay về sinh lý của con người. Vũ trụ của Thúy Kiều, theo Lê Tuyên thuộc về đêm, biểu hiện trong các trạng thái của “trăng”, và các trạng thái đó, về thực chất, là bản thể của nhân vật. Quả đúng như ông quan niệm: “Cái nhìn của ta là một cái nhìn nội giới, và khi ta phóng vào hiện tượng là chỉ để tìm bản thể của ta” (Lê Tuyên, 2000, trang 3). Chúng tôi thống nhất với quan điểm này của Lê Tuyên. Nếu liệt kê các biểu hiện của “trăng” trong Truyện Kiều (được chúng tôi đề cập ở phần dưới đây) chúng ta sẽ thấy xuất hiện các giá trị như: sự chuyển vần của thời gian, biểu thức quy chiếu với vẻ đẹp của con người và độc đáo nhất là Nguyễn Du cấp cho “trăng” thêm rất nhiều động thái khác mà trước và sau ông không ai thể hiện được như vậy, bằng cách thêm vào rất nhiều từ, ngữ chỉ tính chất và hoạt động qua cái nhìn của nhân vật Thúy Kiều. Mở rộng ra, nếu đối chiếu với tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (2008) chúng ta càng thấy sự sáng tạo của Nguyễn Du về phương diện này là rất lớn. “Trăng” trong Truyện Kiều luôn thay hình đổi dạng, nhưng điều đáng chú ý là trong chuỗi sự kiện của văn bản, nó chỉ tập trung trong một số đoạn đặc biệt chứ không phải dàn trải. Cũng trong không gian yêu đương nhưng Kiều với Từ Hải, “trăng” chỉ xuất hiện một lần, ngược lại lại tập trung dày đặc trong quan hệ với hai người khác là Kim Trọng và Thúc Sinh. Mười lăm năm luân lạc trong cuộc đời đầy sóng gió, bao nhiêu lần ánh trăng thay đổi, chủ thể soi ngắm cũng đổi thay khuôn mặt nhận thức về thân phận mình, về con người, về ý nghĩa và giá trị của cuộc sống làm người. Thúy Kiều cũng khi tròn khi khuyết cả hai thế giới tâm và thể; thân phận hồng nhan chết đi sống lại nhiều lần. Đây chính là những phần chúng tôi sẽ bổ khuyết mà các nghiên cứu đi trước chưa đề cập đến hoặc chưa đặt trong hệ thống tổng thể các liên hệ giữa Thúy Kiều và “trăng”, giữa cõi nội giới Thúy Kiều với những hình ảnh, biểu tượng khác như: bóng, đèn, nước, mộng mị, chiêm bao, hồn ma.
2. Bóng trăng, Thúy Kiều trong bối cảnh xuất hiện và ý nghĩa của nó trong Truyện Kiều
Mô tả và diễn giải ý nghĩa của biểu tượng “trăng” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, theo chúng tôi, bên cạnh việc liệt kê ra các lần xuất hiện và các trạng thái của nó, mặt khác, cần thiết phải đặt “trăng” trong các tương quan với thế giới mà nó tương liên. Ở đây thuật ngữ “vũ trụ âm tính” mà Lê Tuyên (2000) sử dụng có lẽ là phù hợp hơn cả. Sự có mặt dày đặc của các yếu tố như bóng đêm, canh khuya, bóng đèn, nến sáp, yếu tố nước (chủ yếu là nước mắt, sông, sương, rượu), v.v. tạo nên một không gian tổng thể với sự phối trộn các yếu tố: TRĂNG - ĐÊM - NƯỚC - ĐÈN - BÓNG - MƠ MỘNG. “Trăng” trong Truyện Kiều, về mặt từ ngữ, là yếu tố thuần Việt. Biểu tượng này vừa là một công cụ kiến tạo văn bản, đồng thời bản thân nó cũng là một văn bản với cấu trúc quan hệ và biểu nghĩa riêng (Trịnh Bá Đĩnh, 2018). Nếu nhìn vào sự thống kê của Đào Duy Anh (1989, trang 573), “trăng” xuất hiện 38 lần. Trong khi đó, ở Kim Vân Kiều truyện (2008), theo thống kê của chúng tôi “trăng” chỉ xuất hiện tổng cộng 15 lần nhưng thiếu vắng màu sắc của tâm cảm, cảm xúc. Nguyễn Du không dừng lại ở đó. Trong trường nghĩa của “trăng”, các yếu tố khác như Ả Hằng (2 lần), Tố Nga (01 lần), bóng thỏ (2 lần), nguyệt (9 lần) được ông tận dụng triệt để. Đặt trong không gian âm tính như chúng tôi đề cập ở trên, các yếu tố lặp lại khác trong văn bản như nước (48 lần), sông (20 lần), bể (24 lần), đèn (15 lần), khuya/ canh khuya (9 lần), bóng (40 lần) cũng cần phải được tính đến nhằm nêu bật các trạng thái mà các nhân vật (chủ yếu là Thúy Kiều) trong câu chuyện thể hiện các căn tính của mình trước thế giới sống. Trong bài viết này, chúng tôi không có tham vọng thống kê và miêu tả, phân tích hết toàn bộ các biểu hiện của những yếu tố trên từ đầu đến cuối văn bản, mà chỉ tập trung vào một vài điểm nhấn để chứng minh cho luận điểm của mình. Theo chúng tôi, có hai phân đoạn đặc biệt, có thể coi như hai trạng thái đối lập về bối cảnh tổng thể trong sự tương liên giữa nhân vật Kiều và biểu tượng “trăng”, hai trạng thái đặc biệt của chủ thể. Một là phân đoạn đầu, gồm 574 dòng đầu và hai, từ dòng 575 - 1274 về sau.
Xét trong 574 dòng đầu, vị thế của người quan sát là của cô gái hồng nhan phòng khuê trướng gấm. Ngoài sự hiện diện của “trăng” ta thấy trường quan sát của cô gái phòng khuê Thúy Kiều được đặt trong không - thời gian “âm khí nặng nề” giữa lúc yếu tố dương đang thịnh (cuối xuân). Trạng thái ngày ngả về đêm và âm: “tà tà bóng ngả về tây”, “bóng chiều đã ngả”, “mặt trời lặn núi”. Các hình ảnh: “ngọn tiểu khê”, “dòng nước uốn quanh”, “dưới dòng nước chảy trong veo”, “nước ngâm trong vắt”, “cạn dòng lá thắm”, “sông Tương”, v.v. Các yếu tố nước trong trường hợp này, dù có chủ ý hay không, trong mắt nhìn của chủ thể, nó sẽ gợi lên trong sự ngầm ẩn hoặc hiển hiện “các ấn tượng về sự nhẹ nhàng, êm dịu, mong manh, sự lang thang, biến đổi” (Nguyễn Châu, 1971, trang 60). Và trong đêm, Thúy Kiều dồn hết sinh lực của mình vào trong mộng, mơ tưởng và quan trọng hơn, là sáng tạo (làm thơ được đánh giá đứng đầu hội đoạn trường, làm nhạc và phổ vào đàn, đánh đàn). Nhìn trong trường tổng thể này, các hình ảnh cùng trường trên cấp độ các dữ kiện trực tiếp, là có chủ ý trong quan sát của người nhìn - Thúy Kiều. Ngay cả trạng thái ánh sáng ban ngày (lặp lại 85 lần), nhưng trạng thái của nó đa phần gắn vội vàng ngả về chiều và yếu ớt: ngày ngắn chẳng tày gang, trời hôm mây kéo tối rầm, ban ngày thắp sáp hai bên, v.v. Vũ trụ sống của Thúy Kiều chính là vào ban đêm, về khuya, với “trăng”.
Khởi điểm của “trăng” và Thúy Kiều từ câu 171 đến câu 244, cùng với “trăng” là hai mối liên hệ đi suốt các trạng thái biến cố thân và tâm của cuộc đời nhân vật Kiều: Đạm Tiên và Kim Trọng. “Trăng” được thể hiện qua các biểu hiện: “gương nga vằng vặc”, “bóng nga”, “bóng nguyệt xế mành”, v.v. Kiều một mình đối diện với “trăng”. Cõi nội giới dâng trào nhiều suy tư về phận người, đặc biệt là phận hồng nhan, tài hoa, bạc mệnh. Kiều Nghĩ về duyên phận, tình cảm yêu đương luyến ái của mình. Nhưng những điều đó với Kiều tại thời điểm này chưa rõ hình thù, đúng ra là mới sơ chớm những ưu tư. Với hai biểu hiện cơ bản của tâm: 1/ rộn đường gần (nghĩ đến Đạm Tiên - Người mà đến thế thì thôi) với nỗi xa (nghĩ đến Kim Trọng - Người đâu gặp gỡ làm chi). 2/ Ngổn ngang trăm mối bên lòng, nỗi riêng lớp lớp sóng dồi. Nhưng chính các điểm này lại can thiệp đến hết cuộc đời của Kiều về sau. Trong mối quan hệ với Kim Trọng, lần một, từ dòng 245 đến dòng 558 biểu tượng “trăng” hiện lên trong các trạng thái: tuần trăng khuyết, tuần trăng thấm thoắt, đêm trăng, góp lời phong nguyệt; gương dọi đầu cành, bóng trăng đã xế, vầng trăng vằng vặc, bình gương bóng lồng, trăng trong, nguyệt, cầm trăng, bóng tàu vừa lạt vẻ sân, trăng thề, phong nguyệt, nguyệt nọ hoa kia. Có thể coi trong 574 câu đầu, với sự xuất hiện 21 lần của yếu tố “trăng” trong các kết hợp khác nhau, đa dạng về hình thái nhưng chủ âm của nó là góp lời phong nguyệt, gió trăng, trăng trong và trăng thề. Về cơ bản, hình ảnh “trăng” trong các biểu hiện này là trăng của mơ mộng, hồi hộp chờ đợi, dự cảm, hy vọng gắn bó và viên mãn tròn đầy với những khoảnh khắc tâm trạng tình yêu đôi lứa, là biểu hiện của chủ âm “lòng xuân phơi phới”. Nhưng cũng trong mối liên hệ này, với Kim Trọng, trong lần gặp lại sau nhiều biến cố, từ dòng 3010 đến dòng 3254, “trăng” chỉ xuất hiện các trạng thái: 1/ trăng tàn - chỉ Thúy Kiều, 2/ còn vầng trăng bạc, 3/ trăng vòng tròn gương, 4/ trăng cao và 5/ gió trăng mát mặt. Lồng vào đó là các yếu tố “đêm nay”, “đêm chầy”, “canh khuya”, “dưới đèn tỏ rạng”, “trông hoa đèn”, “nến giá”, “gà gáy sáng”, “trời vừa rạng đông”. Thế giới nội tâm đã đạt được trạng thái của sự tĩnh. Thân - tâm đã thông suốt lẽ đời. Bởi đến đây, như Thúy Kiều đã xác nhận đã trải qua “cay đắng trăm đường”, “một mình nếm trải mọi mùi đắng cay”.
Trong cơn gia biến và luân lạc, từ dòng 575 - 1274 về sau, vị thế của người quan sát là của cô gái hồng nhan tha phương, nếm trải, thân kỹ nữ, con hầu. Nếu chỉ xét từ câu 575 đến câu 1274 (từ gia biến đến khi gặp Thúc Sinh), “trăng” xuất hiện 17 lần, trong các trạng thái: trăng già độc địa, gương nhật nguyệt, thấy trăng mà thẹn những lời non sông, vẻ non xa tấm trăng gần, tưởng người dưới nguyệt, bóng nga thấp thoáng dưới mành, trong nguyệt trên mây, lãng đãng bóng vàng, ngậm gương nửa vành, trăng ngàn ngậm gương, vừa tuần nguyệt sáng gương trong, bốn bề trăng thâu, cung đàn trong nguyệt, lần lần thỏ bạc, cầm nguyệt, nguyệt hoa; hoặc ngâm ngợi nguyệt/ chau nét nguyệt/ cung đàn trong nguyệt/ thỏ bạc. Bối cảnh tương liên khác của chủ thể: nương ngọn đèn khuya/ dầu chong trắng đĩa/ dưới đèn hỏi han/đèn khuya/ tàn canh/ đêm thu/ dặm khuya/ đêm thu/ canh tàn. Tâm thế của chủ thể trong phân đoạn này tập trung vào yếu tố cảm nghiệm của kẻ tha hương lữ thứ, nỗi đau của kẻ lưu lạc “sống nhờ đất khách thác chôn quê người”, thui thủi nắng mưa nơi góc bể chân trời. “Trăng” có hai biểu hiện cơ bản: 1/ hình ảnh của hoài niệm và ký ức và 2/ những biến đổi về nhận thức trong thời gian trải nghiệm thân phận, nghiêng về lí trí. Tâm thức chủ thể không mơ mộng mà chuyển sang “mê”, “giấc mê”, sợ hãi, sự rình rập của oan trái và những toan tính tự tử. Yếu tố nước cũng thay đổi: nước đục bụi trong, đặc biệt nhất là sự xuất hiện của sông lớn, biển (bể): góc bể bơ vơ, cửa bể chiều hôm, ầm ầm tiếng sóng, dòng trường giang, v.v. Trạng thái của nó là gợn sóng lớn, ngọn nước thủy triều với tính chất nghiêng về hung bạo. Âm hưởng của nó khơi gợi vào cõi chết, tương ứng với hành trình trầm luân, lưu lạc của Thúy Kiều. Các sự kiện đó đưa đến những nhận thức bên trong về kiếp người, thân phận làm người của chính cô con gái tài sắc họ Vương: Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì/ Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai/ phận bạc như vôi/phận hèn/ làm thân xương trắng quê người/ giận duyên tủi phận/ thân lươn/ chấp nhận làm kiếp phong trần/ Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa/ liều nhắm mắt đưa chân, v.v. và tự tử trên sông, trên dòng trường giang Tiền Đường.
Có một hiện tượng thú vị nữa về “trăng” trong Truyện Kiều, ở trường hợp quan hệ giữa nhân vật Vương Thúy Kiều với Thúc Sinh, 11 lần xuất hiện, xét từ dòng 1274 đến dòng 1526. Trường nghĩa của “trăng” xuất hiện lần lượt là “nguyệt hoa hoa nguyệt”, “trăng gió”, “trăng sân”, “dưới trăng”, “thềm quế cung giăng”, “chị Hằng”, “thỏ đã non đoài ngậm gương”, “trăng tủi”, “trăng hoa” và cuối cùng, một tuyệt tác của tưởng tượng nghệ thuật - “vầng trăng” xẻ làm đôi in và soi cho hai người hai nửa, một cho thân gối chiếc, một cho thân dặm trường. “Trăng” trong mối quan hệ này là phong lưu nhất, biểu hiện ở tính chất “trăng hoa”, “trăng gió”. “Trăng” trong trường hợp này là của cô gái từng trải phong tình. Và với Thúc Sinh, gặp Kiều là một giải phóng, một thăng hoa khỏi các đè nén của người vợ nề nếp gia phong con quan Lại bộ. Với Kim Trọng trong buổi đầu, mặc dù Kim sẵn sàng buông thả, sẵn sàng “gió trăng”, nhưng yếu tố văn hóa đã ngăn Kim lại qua sự cấm chỉ của Thúy Kiều. Với Từ Hải, trong 400 dòng thơ, “trăng” chỉ xuất hiện 01 lần: trăng thanh (trong bối cảnh chuẩn bị gặp gỡ), 01 lần “trăng gió” (với ý nghĩa khẳng định Từ Hải không phải là kiểu người tìm đến lầu xanh để đùa chơi: Từ rằng: ‘Tâm phúc tương cờ’/ Phải người trăng gió vật vờ hay sao), mặc cho có sự chờ đợi của Kiều trong nhiều “đêm thâu đằng đẵng”. Về cơ bản trong mối quan hệ này không có “trăng”. Không gian đêm chuyển sang ngày nhiều hơn. Cấu trúc lời văn trong đoạn tả mối quan hệ Từ Hải và Thúy Kiều rất vội vàng. Các yếu tố bối cảnh phối nền cũng vắng bóng. Nhưng xét từ một yếu tố khác, có lẽ trong phận vị một phu nhân vinh hoa quyền quý và yếu tố lí trí “rạch ròi” chiếm ưu thế từ phía Kiều và kết hợp với con người có bản chất chuộng hành động của Từ Hải làm cho môi trường mộng mơ không xuất hiện. Nhân vật Thúy Kiều trong quan hệ với người anh hùng họ Từ tập trung vào lí trí, thuyết lý đạo nghĩa, phân biệt rành mạch thiệt - hơn, đen - trắng. Như vậy, có thể thấy “trăng” xuất hiện trong nền không - thời gian của đêm, nhưng trong một số biểu hiện cụ thể như chúng tôi chứng dẫn ở trên, không phải lúc nào cũng có sự song trùng. Quan trọng nhất là yếu tố chủ thể soi ngắm nó ở trong các trạng thái nào: chủ thể mơ mộng, nghiêng về tình cảm, cảm tính hay chủ thể nghiêng về sự tỉnh táo lạnh lùng của lí trí.
3. Bàn luận
Qua các phần liệt kê các biểu hiện của trăng ở trên khiến ta liên tưởng đến những câu thơ của thi sĩ Đinh Hùng thời hiện đại trong bài Hờn giận: Em đến, trăng rằm xanh bóng mây,/ Em đi, trăng hờn cong nét mày. Chính các tâm thế của chủ thể đã kiến tạo nên những thế giới khác nhau. Biểu tượng “trăng” trong Truyện Kiều vừa là một hiện tượng nghệ thuật, vừa là hiện tượng tâm lý - văn hóa, với chúng tôi, cũng nhìn trong quan điểm tương tự Đinh Hùng. Trong hiện tượng nghệ thuật, “trăng” là một biểu tượng tham dự vào những phần quan trọng nhất của cấu trúc truyện kể. Nó tham dự mật thiết vào các biến cố của nhân vật Vương Thúy Kiều. Có cảm giác như nhịp điệu hiện diện của “trăng” cũng chính là nhịp điệu của truyện kể, của cấu trúc trữ tình. Ở khía cạnh nhân vật, trong tương quan với người con gái tài sắc họ Vương, mỗi một quan hệ cụ thể, “trăng” đều hiện diện với các sắc thái riêng. Hay diễn tả khác đi, “trăng” được tri giác khác, xuất hiện trước thị giác theo một “ảnh tượng” đã được tái cấu trúc. Nói theo ngôn ngữ của Hiện tượng học, nó là biểu hiện của ý hướng tính từ một chủ thể soi ngắm. Vì rõ ràng, “trăng” là một dữ kiện “chất thể” nhưng do “ý hướng tạo ảnh” từ chủ thể nên nó hiện diện trong nhiều trạng thái khác nhau.
Trong hiện tượng văn hóa - tâm lý, “trăng” trong Truyện Kiều gắn với mộng, với sáng tạo, suy tư, mơ tưởng. Động thái ngẩng cao hướng con mắt nhìn về ánh sáng trong xanh dịu nhẹ trên bầu trời đêm mang lại cho con người nhiều suy tư, nhiều mơ tưởng. Ở phía khác, sự xuất hiện dày đặc của “trăng” nếu xét trong sự đối lập với chuỗi sự kiện của lí trí, của ban ngày, của các cấm chỉ nho phong, của sự ngột ngạt trong xã hội, v.v. đã tạo nên sự cân bằng trong nội giới. Nó là cánh cửa để giải phóng bản ngã khỏi các ức chế, kiểm duyệt; để con người thuộc nòi tình và phong lưu kia có cơ hội gửi gắm và thể hiện những mơ mộng, ưu tư, hoài niệm, những sầu muộn và quan trọng nhất là sáng tạo. Điều này rất đúng với yếu tố tài làm những câu tuyệt bút nhả ngọc phun châu và tạo ra những âm thanh qua tiếng đàn khiến cả trời, người và quỷ thần đều rung cảm của Thúy Kiều. Với “trăng”, Kiều sống nhiều cuộc đời, từ êm đềm mơ mộng đến luân lạc tha hương trải sương nằm gió. Mỗi một vị thế thân phận Kiều đều có các liên hệ và giá trị biểu hiện của “trăng”. Thứ ánh sáng huyễn ảo này mang đến cho Kiều những yếu tố khác với đời sống thông thường, cao hơn đời sống thông thường. Có lẽ, với Kiều, trong thế giới của “trăng”, là một phản tỉnh đối với thế giới ban ngày.
4. Kết luận
Xuất phát từ sự tri giác đặc thù của con người trung đại về thế giới và sự tri giác bản thân mình, quan hệ giữa con người và thiên nhiên mang tính chất tương liên đậm nét, tồn tại cho và trong nhau. Khảo tả riêng về trường hợp biểu tượng “trăng” trong Truyện Kiều, từ sự thống kê cho thấy có sự biểu hiện đa dạng, nhiều hình dáng, nhiều trạng thái khác nhau. Về mặt phương pháp, việc hướng đến các giá trị của biểu tượng này, cần đặt “trăng” trong một tương quan tổng thể với nhiều biểu tượng khác. Điều này xuất phát từ chủ thể soi ngắm ứng với các trạng huống trải nghiệm cuộc sống riêng của chủ thể. Đây là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du. Và Thúy Kiều đã kiến tạo một vũ trụ “trăng” cho riêng mình. “Trăng” gắn với Kiều phần lớn mang các tính chất mơ mộng, trơ trọi, cô độc, hoài niệm, giải tỏa. “Trăng” trêu ghẹo và khiêu khích, trăng chứng giám sự thề hẹn nhưng cũng nhìn thấy những đau khổ chia li của Kiều, v.v. Chính những điều này, nếu xét trong lịch sử văn học dân tộc, là một đóng góp rất quan trọng của Nguyễn Du. Nếu nhìn trong trường văn hóa trung đại, “trăng” thuộc vũ trụ vĩ mô, là một thực thể trên cao, trong cái nhìn của văn hóa trung đại, không có quyền uy như “trời” nhưng lại liên quan đến sự vận hành của “khí” và “đạo”. Sự vận hành này thuận hay nghịch với con người là do chính những phẩm chất, những yếu tố “tính” và “tình” trong mỗi con người quy định. Trong trường nhìn của lý thuyết Hiện tượng học, Phân tâm học, các biểu hiện của “trăng” là những phóng chiếu của tâm thức con người, hay đúng hơn, trăng cũng chính là những biểu hiện của các trạng thái nội giới, các trạng thái bản ngã của chủ thể. Nguyễn Du để nhân vật vào đêm/ khoảng vắng đêm trường/ trong canh khuya (nghiêng về cảm tính, cảm xúc, âm tính), v.v. đối diện với đèn, bóng, trăng, với chính mình nhằm tạo ra những khám phá và thể hiện các chiều sâu thế giới phức thể bên trong con người. Cũng chính trong bóng đêm con người dễ bộc lộ các tính chất tự nhiên, bản chất, cái tự phát, sống động mà ban ngày (nghiêng về lí trí, dương tính) ít khi con người thể hiện. “Trăng” trong Truyện Kiều vừa biểu hiện của nghệ thuật vừa là biểu hiện của văn hóa - tâm lý. Có thể khẳng định rằng, sự tồn tại những biểu hiện của “trăng” trong Truyện Kiều là một trong những phần lung linh huyễn ảo và có giá trị nghệ thuật nhất.
N.Q.H
(TCSH383/01-2021)
_______________
Danh mục tham khảo
Đào Dục Tú. (2020, 7 15). kimdunghn.wordpress.com. Được truy lục từ kimdunghn.wordpress.com/2014/08/03/tan-man-ve-trang-trong-truyen-kieu/
Đào Duy Anh. (1989). Từ điển Truyện Kiều. Hà Nội: Khoa học Xã hội.
Gurevich, A. (1998). Các phạm trù văn hóa trung cổ. (N. Hoàng, Dịch giả) Hà Nội: Giáo dục.
Lê Tuyên. (2000). Thể tánh của thi ca. California: Southeast Asian Culture & Education Foundation (SEACAEF).
Lê Văn Lý. (2020; 2001, 8 1). thovadoi.com. Được truy lục từ https://thovadoi.com/trang-trong-truyen-kieu/
Lưu Khôn. (2020, 8 1). http://hoiaihuuangiang.org/. Được truy lục từ http://hoiaihuuangiang.org/docs/pdf/2008/trangtrongtruyenkieu.pdf
Nguyễn Châu. (1971). Ảnh tượng trong triết học Gaston Bachelard. Sài Gòn: Đại học Văn khoa Sài Gòn.
Nguyễn Quang Huy. (2015). Tâm thức tham dự trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du. Khoa học Đại học Sư phạm Đà Nẵng (17A(04)), 37-43.
Nguyễn Quang Huy. (2016). Giới hạn thân phận con người và motif tự tử trong truyện Nôm bác học. Khoa học Đại học Huế, 111-120.
Phan Ngọc. (2001). Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Hà Nội: Thanh niên.
Thanh Tâm Tài Nhân. (2008). Kim Vân Kiều truyện. (Đ. Nguyễn, & K. Nguyễn, Các dịch giả) Hà Nội: Đại học Sư phạm.
Trần Đình Sử. (2007). Thi pháp Truyện Kiều. Hà Nội: Giáo dục.
Trần Nho Thìn. (2003). Văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa. Hà Nội: Giáo dục.
Trịnh Bá Đĩnh. (2018). Từ kí hiệu học đến biểu tượng. Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vương Trọng. (2017). Truyện Kiều Nguyễn Du: ở trong còn lắm điều hay. Hà Nội: Hội Nhà văn.
Tải mã QRCode
HÀ VĂN LƯỠNG1. Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Xô Viết là một bản anh hùng ca bất tử của dân tộc Nga trong thế kỷ XX (1941-1945). Nó mãi mãi đi vào lịch sử vẻ vang và oanh liệt, không chỉ của đất nước Xô Viết mà còn cả với nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới, khẳng định bản chất tốt đẹp và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con ngưòi Xô Viết.
LƯƠNG THỰC THULTS: Lương Thực Thu, sinh năm 1903 tại Bắc Kinh, thời nhỏ học ở trường Thanh Hoa. Năm 1923 du học tại Mỹ. Năm 1926 về nước, lần lượt dạy học ở trường Đại học Đông Nam, Đại học Thanh Đảo, Đại học Bắc Kinh, và Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Năm 1949 sang ở Đài Loan, chủ yếu giảng dạy ở Đại học Sư phạm Đài Loan. Năm 1966 nghỉ hưu, năm 1987 ốm chết tại Đài Bắc.
NGUYỄN XUÂN HOÀNG (Đọc “Lý luận và văn học”, NXB Trẻ 2005 của GS.TS Lê Ngọc Trà)Ra mắt bạn đọc năm 1990, năm 1991, cuốn sách “Lý luận và văn học” của Giáo sư - Tiến sĩ Lê Ngọc Trà được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. 15 năm qua, những tưởng một số vấn đề về lý luận văn học mà cuốn sách đề cập đã không còn mới, đã “lạc hậu” so với tiến trình phát triển của văn học. Nhưng không, khi đọc lại cuốn sách được nhà xuất bản Trẻ tái bản lần thứ nhất năm 2005, những vấn đề mà GS.TS Lê Ngọc Trà đề cập vẫn còn nóng hổi và giữ nguyên tính thời sự của nó.
TRẦN ĐÌNH SỬLí luận văn học Việt Nam thế kỉ XX đã trải qua ba lần thay đổi hệ hình tư duy. Lần thứ nhất diễn ra vào những năm 1932 đến 1945 với việc hình thành quan niệm văn học biểu hiện con người, xã hội, lấy thẩm mĩ làm nguyên tắc, chống lại quan niệm văn học thời trung đại lấy tải đạo, giáo huấn, học thuật làm chính tông, mở ra một thời đại mới trong văn học dân tộc.
HỒ THẾ HÀĐà Linh - Cây bút truyện ngắn quen thuộc của bạn đọc cả nước, đặc biệt, của Đà Nẵng với các tác phẩm Giấc mơ của dòng sông (1998), Nàng Kim Chi sáu ngón (1992),Truyện của Người (1992) và gần đây nhất là Vĩnh biệt cây Vông Đồng (1997). Bên cạnh ấy, Đà Linh còn viết biên khảo văn hoá, địa chí và biên dịch.
NGÔ MINHBữa nay, người làm thơ đông không nhớ hết. Cả nước ta mỗi năm có tới gần ngàn tập thơ được xuất bản. Mỗi ngày trên hàng trăm tờ báo Trung ương, địa phương đều có in thơ. Nhưng, tôi đọc thấy đa phần thơ ta cứ na ná giống nhau, vần vè dễ dãi, rậm lời mà thiếu ý.
NGUYỄN KHẮC PHÊ Ba công trình dày dặn nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của cùng một tác giả, cùng được xuất bản trong năm 2005 kể cũng đáng gọi là "hiện tượng" trong ngành xuất bản. Ba công trình đó là "Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa" (NXB Văn hóa Thông tin, 315 trang), "Hồ Chí Minh - một nhân cách lớn" (NXB Văn hóa thông tin, 510 trang) và "Đạo Khổng trong văn Bác Hồ" (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).
PHAN CÔNG TUYÊNLTS: Cuộc thi tìm hiểu “60 năm Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Ban Tư tưởng - Văn hoá trung ương, website Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát động trong cả nước. Tại Thừa Thiên Huế, cuộc thi được phát động từ ngày 7/5/2005 đến ngày 10/7/2005; Ban tổ chức cuộc thi đã nhận được 160.840 bài dự thi của rất nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều thành phần trong xã hội tham gia. Điều này chứng tỏ cuộc thi mang nhiều sức hấp dẫn. Sông Hương xin trích đăng báo cáo tổng kết cuộc thi của đồng chí Phan Công Tuyên, UVTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Trưởng Ban tổ chức cuộc thi tại Thừa Thiên Huế.
TRẦN THỊ THANHTừ Hán Việt là một lớp từ khá quan trọng trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Việt Nam. Với con số 60% - 70% từ Hán Việt có trong tiếng Việt, nó đã và đang đặt ra một nhiệm vụ cấp thiết làm thế nào để cho mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên viết và nói đúng tiếng Việt trong đó có từ Hán Việt.
NGUYỄN ĐẮC XUÂN LTS: Bài dưới đây là tham luận của nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đọc trong Hội nghị Lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương, tháng 12-2008. Tác giả có những nhận định khá mới mẻ, những đề xuất khá hợp lý và khá mạnh dạn, tất nhiên bài viết sẽ không tránh phần chủ quan trong góc nhìn và quan điểm riêng của tác giả. Chúng tôi đăng tải gần như nguyên văn và rất mong nhận được những ý kiến phản hồi, trao đổi, thạm chí tranh luận của bạn đọc để rộng đường dư luận.S.H
MAI HOÀNGCẩm cù không nổi tiếng bằng một số truyện ngắn khác của Y Ban như Thư gửi mẹ Âu cơ, I am đàn bà, Đàn bà xấu thì không có quà… Không có những vấn đề hot như sex, nạo phá thai, ngoại tình… tóm lại là những sự vụ liên quan đến “chị em nhà Eva”.
INRASARATham luận tại Hội thảo “Nhà văn với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, Hội Nhà văn Việt Nam, Đồng Nai, 8-1-2009.
HOÀNG NGỌC HIẾNWallace Stevens ví hành trình của những nghệ sĩ Tiên phong (hoặc Tiền vệ) của chủ nghĩa hiện đại những thập kỷ đầu thế kỷ XX như những cuộc phiêu lưu của những nhà thám hiểm núi lửa, họ đã đến núi lửa, “đã gửi về tấm bưu ảnh cuối cùng” và lúc này không có ước vọng gì hơn là trở về nhà.
TRẦN HOÀI ANH1. Nhà thơ - Người đọc: Niềm khắc khoải tri âmKhi nói về mối quan hệ giữa nhà thơ và độc giả, Edward Hirsch đã viết: “Nhiều nhà thơ đã nắm lấy ý Kinh Thánh Tân Ước “Khởi thuỷ là lời”, nhưng tôi thích ý kiến của Martin Buber trong “Tôi và bạn” hơn rằng: “Khởi thuỷ là những mối quan hệ” (1).
VIỆT HÙNGCông tác lý luận phê bình văn học nghệ thuật đang là mối quan tâm lo lắng của giới chuyên môn, cũng như của đại đa số công chúng, những người yêu văn học nghệ thuật. Tình trạng phê bình chưa theo kịp sáng tạo, chưa gây được kích thích cho sáng tạo vẫn còn là phổ biến; thậm chí nhiều khi hoặc làm nhụt ý chí của người sáng tạo, hoặc đề cao thái quá những tác phẩm nghệ thuật rất ư bình thường, gây sự hiểu nhầm cho công chúng.
HẢI TRUNGVũ Duy Thanh (1811 - 1863) quê ở xã Kim Bồng, huyện An Khánh, tỉnh Ninh Bình là bảng nhãn đỗ đầu trong khoa thi Chế khoa Bác học Hoành tài năm Tự Đức thứ tư (1851). Người đương thời thường gọi ông là Bảng Bồng, hay là Trạng Bồng.
NGUYỄN SƠNTrên tuần báo Người Hà Nội số 35, ra ngày 01-9-2001, bạn viết Lê Quý Kỳ tỏ ý khiêm nhường khi lạm bàn một vấn đề lý luận cực khó Thử bàn về cái tôi trong văn học. Anh mới chỉ "thử bàn" thôi chứ chưa bàn thật, thảo nào!... Sau khi suy đi tính lại, anh chỉnh lý tí tẹo tiêu đề bài báo thành Bàn về "cái tôi"trong văn học và thêm phần "lạc khoản": Vinh 12-2001, rồi chuyển in trên Tạp chí Văn (Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh), số 4 (Bộ mới, tháng 3-4)-2002. Trong bài trao đổi này chúng tôi trích dẫn căn cứ theo nguyên văn bài báo đã in lần đầu (và về cơ bản không khác với khi đưa in lại).
TRƯƠNG ĐĂNG DUNGCùng với sự phát triển của một thế kỉ văn học dân tộc, lí luận văn học ở Việt Nam cũng đã có những thành tựu, khẳng định sự trưởng thành của tư duy lí luận văn học hiện đại.
NGUYỄN NGỌC THIỆNTrong vài ba thập niên đầu thế kỷ XX, trung xu thế tìm đường hiện đại hóa văn xuôi chữ quốc ngữ, các thể tài tiểu thuyết, phóng sự được một số nhà văn dụng bút thể nghiệm.
L.T.S: Trong ba ngày từ 03 đến 05 tháng 5 năm 2005, tại thành phố Huế đã diễn ra hoạt động khoa học quốc tế có ý nghĩa: Hội thảo khoa học Tác phẩm của F. Jullien với độc giả Việt Nam do Đại học Huế và Đại học Chales- de-Gaulle, Lille 3 tổ chức, cùng sự phối hợp của Đại sứ quán Pháp ở Việt Nam và Agence Universitaire francophone (AUF). Hội thảo có 30 tham luận của nhiều giáo sư, học giả, nhà nghiên cứu Việt Nam, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc.