Biến tấu New York

09:15 22/10/2008
BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

Tôi chuyển đến New York (NY) là do một đám cháy lớn. Tất nhiên, đám cháy chỉ là cách nói hình ảnh để nói về một trạng thái khác thường của sự việc mà trong trường hợp của tôi đó là một cuộc cách mạng. Ngày thứ hai ở NY, tôi thức dậy lúc bốn giờ sáng. Nhìn qua cửa sổ phòng ở tầng mười chín, NY dường như bị cháy, các tòa nhà cao tầng ngập trong lửa, hàng nghìn hàng nghìn tấm thủy tinh lấp lóa màu đỏ máu, những con chim đen lao lên bầu trời - cảnh tượng hệt như ngày tận thế. Khi cảnh đó dứt, đồng hồ báo thức của tôi vẫn chạy theo giờ California ; một ngày mới bắt đầu ở NY. Đêm đó, mặt trăng NY làm tôi giật mình. Một vầng trăng sáng to nhô lên giữa hai tòa nhà cao, nhưng dù nhìn cách gì tôi vẫn thấy trăng không thật tròn. Nếu bạn yêu cầu trẻ em NY vẽ trăng thì hầu hết trăng trên các bức vẽ của chúng đều không tròn mà bị so le, méo mó, bị cắt xén bởi kính và bê tông.

Năm 1626, một giám thị người Hà Lan đã mua lại Manhattan - hòn đảo đá dài ba mươi dặm và rộng hai dặm rưỡi - từ những người Anh Điêng bằng những đồ vật rẻ tiền giá khoảng hai mươi tư đô la. Vào thế kỷ mười chín, do bê tông cốt sắt được sử dụng rộng rãi, mọi người lên cơn sốt làm nhà cao vọt lên trời, cho đến một ngày người NY phát hiện ra rằng họ giống như chim làm tổ giữa rừng bê tông.
Người NY
không có khả năng hình dung đường chân trời, lọt lòng ra họ đã không có khái niệm này. Nếu ở California tư duy của tôi là theo trục hoành thì ở đây chắc chắn nó theo trục tung. Khi thang máy mang tôi từ tầng trệt lên tầng mười chín, ý nghĩ của tôi theo quán tính chuyển động lên cao, tiếp tục vươn lên vòm xanh bầu trời. So với dân số của nó thì ít người NY theo tôn giáo. Sau một lúc suy nghĩ, tôi rút ra kết luận là điều này có liên quan đến các thang máy. Khi bạn suốt ngày cứ lên trời rồi xuống đất thì hầu như không thể có bất kỳ cảm giác nào về sự thần bí của thiên đường và địa ngục. Trong chừng mực nào đó, thang máy đã trở thành nguyên động lực của tư duy của người NY. Nếu mất điện, họ sẽ bị lơ lửng lưng chừng trời, và có thể bị phát điên.

Ngày thứ hai ở NY, tôi lang thang phố xá, ghi chép về mọi người. Ngoài hướng trục tung, tư duy của họ chắc chắn còn mang đặc điểm tuyến tính. Thí dụ họ không bao giờ mơ hồ khi hò hẹn:

23rd Street
Seventh Avenue , hay giữa Wall Street và Broadway. Về sau tôi bắt đầu hiểu rằng họ chỉ là những quân cờ trên bàn cờ. Đường đi nước bước của họ đã cố định và bàn tay nhấc họ lên và di chuyển họ là tiền bạc, số phận, và logic tuyến tính. Nhưng thế không có nghĩa là người NY chỉ có khả năng tới lui theo đường thẳng băng: đối lập với địa lý và sơ đồ phố xá là những mê cung của trái tim họ và những xoắn khúc của lòng ruột họ. Chính những vòng xoắn vòng quay của quyền lực và những vòng vèo uốn khúc của thị trường chứng khoán tạo nên những vòng cuộn trong tâm hồn người NY.

Cuối cùng chúng tôi chuyển đến ngôi làng phía Tây. E và gia đình sống trong một khu nhà ngang rất đặc trưng của NY, có sân và lối vào riêng. Những cầu thang cọt kẹt nối ba tầng nhà với tầng hầm, mảnh sân sau hẹp có khóm trúc nhỏ đung đưa. Được xây từ năm 1929, đây là khu nhà cũ nhất phố. Nó vốn được chia thành bốn mươi căn phòng nhỏ như chuồng chim bồ câu để cho thuê, nhưng qua mấy thế hệ người đến ở nay nó đã hoàn toàn lỗi mốt. Vợ chồng E mua lại nó từ mười năm trước và đã cải tạo lại nó theo sở thích của mình. Việc làm đầu tiên của E khi thức dậy mỗi sáng là đổ đầy thức ăn cho chim vào cái máng nhựa rồi đem treo nó vào cái móc trên cây nơi lũ chim bồ câu và chim sẻ đang tranh giành nhau đến ăn. Sau đó anh uống cà phê và đọc tờ NewYorrk Times - đọc say sưa đến sét có đánh cũng chẳng bứt anh ra được. Tiếp đến là một giọng nữ cao từ nhà bên cất lên họa cùng giọng chíu chíp của lũ sẻ. Giọng bà ta cao vút lên như một cái thang bắc lên trời.

Khi vị giám thị Hà Lan mua Đảo Manhattan , đây chỉ là một dải đất rừng chim bay thú gầm. Sau khi người Anh chiếm được nó, một đô đốc của hạm đội Anh đã mua ba trăm mẫu đất để trồng thuốc lá và đến định cư bên sông Hudson . Trước khi mất, ông ta đặt tên cho trang viên của mình là “ Greenwich ”. Năm 1822, trong khi trốn chạy một bệnh dịch, mọi người đã đổ xô đến đây tìm khí hậu mát mẻ, trong lành, và thế là cái xóm nhỏ hẻo lánh dần trở thành một chốn phồn hoa sầm uất. Cuối thế kỷ mười chín, giới nhà giàu ưa theo kịp thời thượng lại chuyển đến một khu phố mới dựng, và thế là Greenwich nằm bên đường bị quên lãng và tàn lụi. Sau đó, các nghệ sĩ và những người nổi loạn đến ở đây, lối sống phóng túng và những tư tưởng phi chính thống của họ làm kinh ngạc những người Italia và Ailen theo đạo di cư đến đây.

Vào một ngày năm 1916, một nhóm thanh niên sau khi uống rượu suốt đêm ở quán bar đã trèo lên đỉnh cổng vòm cung của Quảng trường Washington vừa bắn súng vừa la hét tuyên bố thành lập nước cộng hòa độc lập - New Bohemia. Họ chỉ chịu leo xuống khi ông thị trưởng chấp thuận yêu cầu của họ. Làng Greenwich, hay “xứ Bohemia Nhỏ”, từ đó nổi danh toàn quốc.
Một chiều, E xong việc trên tầng chót nhà xuống. Tôi hỏi anh viết lách thế nào. Anh kể tôi nghe một câu chuyện về Flaubert. Một hôm vào bữa ăn trưa, Flaubert nghỉ việc vào ăn, một vị khách cũng hỏi ông câu như vậy. Ông đáp ông chỉ viết được một dấu phẩy. Đến bữa tối, vị khách lại hỏi, và Flaubert đáp là ông đã qua được cái dấu phẩy rồi.

Hiện nay, người NY là những người rất cô độc - cứ nhìn vào mắt họ là thấy. Nói chung, trừ những người tâm thần ra, không ai nhìn thẳng vào mắt người khác, và ở một nơi mật độ dân số dày đặc như thế này, điều đó có nghĩa là không bị quấy rầy. Chẳng hạn đi xe điện ngầm, để tránh cái nhìn của ai đó, bạn phải đọc báo, nhắm mắt lại nghỉ ngơi, hoặc đơn giản là ngó lơ lên trời như người mộng du vậy. Kỹ năng này phải tập hàng năm trời mới thành thục được. Tất nhiên, nếu có một cặp phụ nữ xinh đẹp hiện ra, cánh đàn ông sẽ đứng cả dậy và cái nhìn lờ đờ của họ sẽ sáng lên như ánh đèn trong sương mù.
Họ không bao giờ nhìn chòng chọc như chuột đồng, mà lén nhìn bằng khóe mắt, trông qua thì mắt chẳng động đậy hay là rất khó thấy chuyển động, dường như muốn nói “Gì vậy? Để tôi yên”.
Giới “quý tộc độc thân” ở NY đặc biệt nhiều. Lý do rất đơn giản: sống độc thân là cách tốt nhất giữ gìn sự cô độc - không vợ không con, chẳng bị ai quấy rầy. Trừ những khi tụ tập bạn bè hay gia đình, còn thì cánh độc thân nói chung thường ăn một mình ở nhà bằng cách gọi điện đến nhà hàng Tàu trong vùng gọi mang thức ăn đến - thịt lợn kho chua ngọt ăn với xúp nóng - hay với phó-mát khô, hoặc gặm mẩu bánh mì mua đã mấy ngày. Vừa ăn họ vừa nhìn vào bốn bức tường giống như con ruồi bị mắc mạng nhện hoảng hốt nhìn quanh; đôi khi họ lầm rầm trò chuyện một mình. Cho nên không có gì ngạc nhiên là phần lớn dân NY đều dùng thuốc chống suy nhược. Nếu hai người cô độc hợp lại với nhau thì chắc chắn có thêm sự phiền toái. Một lần tôi bay từ NY đến Paris . Khi vừa lên máy bay tôi đã thấy ra sự khó xử của mình, vì tôi ngồi giữa một cặp vợ chồng bay từ NY đi. Người phụ nữ ngồi cạnh lối đi, người đàn ông ngồi kề cửa sổ. Tôi lập tức đề nghị đổi chỗ, nhưng họ từ chối. Thoạt đầu tôi nghĩ là tình cảm vợ chồng của họ có trục trặc, và tôi là cái mộc che giữa hai người, nhưng hóa ra không phải thế. Ngược lại, đó là một cặp vợ chồng già rất âu yếm nhau, họ luôn miệng gọi nhau là “anh yêu”, “em yêu”, là “cục cưng”, tới mức tôi nghe mà sởn cả gai ốc. Họ chăm chút nhau, chồng thì lấy dép và sách cho vợ, vợ thì giấu chai rượu vang miễn phí cho chồng để đến Paris uống. Tôi thấy ngạc nhiên hơn nữa là dù bị tôi ngồi chắn giữa nhưng cặp vợ chồng này vẫn thoải mái nói đủ thứ chuyện - từ thời tiết NY đến khách sạn Paris, từ những cuộc xô xát giữa những người bà con của họ đến việc đầu tư vào thị trường chứng khoán. Tôi nén thở, ngả người ra lưng ghế để cho họ có chỗ chuyện trò. Thật cực bất đắc dĩ mới phải ngồi nghe họ nói chuyện thế này, nhưng xâm phạm quyền riêng tư của họ thì không được. Một lần nữa tôi lại đề nghị đổi chỗ nhưng cả hai vẫn dứt khoát phản đối. Mãi sau tôi mới hiểu là họ đã chọn đặt chỗ từ trước để có người làm chứng cho sự cô đơn của họ.

Cô đơn không phù hợp với im lặng. Nó có âm thanh riêng, mà ở NY thì âm thanh này là vô giới hạn. Trước hết là xe cảnh sát, xe cấp cứu, xe cứu hỏa luôn rú còi vang trời để khiến mọi người phải chú ý. Rồi đến lũ chó bị xích giữ suốt ngày, hiếm khi được thả ra phố. Cho nên khi nhìn thấy một con chó lạ là chúng thả sức sủa ầm ĩ. Cũng như đối với nhiều người NY khi muốn bày tỏ điều gì thì họ chỉ có cách là hét to lên. Mồm há to, và vì luôn bị ngắt quãng bởi còi cảnh sát, nên họ buộc phải nuốt mất lời.
         NGÂN XUYÊN dịch
              (từ tiếng Anh World Literature Today,
                   May-August 2005)
(nguồn: TCSH số 219 - 05 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TRUNG SƠNTrong số những con vật gần gũi với con người, con mèo không đứng vị trí thứ nhất thì cũng nhì. Chỉ riêng việc chú mèo có đặc quyền thỉnh thoảng "chung chăn" với con người lúc trời mưa rét cũng đủ để xếp chú đứng ở thứ bậc cao trong mối quan hệ với con người. Cũng vì vậy, trong thành ngữ và tục ngữ có nhiều câu nói đến con mèo ngẫm ra khá thú vị.

  • ĐOÀN MINH TUẤN                     Tùy bútĐã từ lâu lắm, nhiều mùa xuân đã qua, nhà văn Đoàn Giỏi có cho tôi mượn cuốn sách rất hay viết về "chó và mèo trên thế giới" của hai tác giả người Pháp Marlyse et Frange.

  • NGUYỄN QUANG HÀHầu như mỗi chúng ta chỉ biết Mai Xuân Hòa là nhạc sĩ. Anh đã ra mắt hai tập nhạc viết cho người lớn: "Nỗi đợi chờ", "Khát vọng",và hai tập cho thiếu nhi: " Những điều em thích", " Những ngôi sao đẹp".

  • PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

  • LÊ KHAI           Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ.  Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.

  • HÀ KHÁNH LINH            Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

  • TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.

  • NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.

  • PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước  vào đời.

  • NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

  • TRẦN HOÀI                  Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...

  • LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.

  • NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.

  • TỐ HỮU        Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời

  • VÕ MẠNH LẬP            Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                         Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.