Jean - Claude Grumberg (JCG), một nhà viết kịch, nhà văn nổi tiếng ở Pháp, nhưng có thể nhiều bạn đọc chưa nghe tên bao giờ - cũng như với nhà văn Han Kang (Hàn Quốc) vừa bất ngờ đạt giải Nobel. Thế giới mênh mông, cái biết của mỗi người chúng ta là rất nhỏ bé.
Tôi có may mắn gặp dịch giả Trương ThịAn Na - nguyên là giảng viên tại trường Đại học Khoa học - Đại học Huế và Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, khi cô trở lại thăm Huế cùng thân phụ là thầy Trương Quang Đệ, từng là Trưởng Khoa Ngoại ngữ Đại học Sư phạm - Đại học Huế nhiều năm. Nhờ đó, tôi mới biết JCG và tác phẩm mới của ông. Trước đó, ông đã là tác giả của khoảng 30 vở kịch và tất cả kịch bản đều đã in thành sách. Tác phẩm “Chuyện kể về món hàng quý giá nhất đời”; Món hàng quý giá nhất (MHQGN - bản tiếng Việt) của ông ngay sau khi xuất bản đã nhận được nhiều giải thưởng…
MHQGN dày chưa đến trăm trang, nhưng theo tôi, đây là một tiểu thuyết có sức níu giữ người đọc rất lâu, sau khi buông cuốn sách. Với tài nghệ của một tác giả sân khấu nổi tiếng, mỗi chương trong MHQGN đến với độc giả như là một màn kịch đầy cuốn hút nhờ tình huống bất ngờ mà người đọc khó đoán trước được. Nói như dịch giả - PGS. Phan Ngọc, đây là “mẹo” của nhà tiểu thuyết, trộm nghĩ, các tác giả đang muốn níu kéo bạn đọc có thể học hỏi nhiều kinh nghiệm về nghệ thuật dựng truyện, kết cấu chương hồi qua tác phẩm MHQGN. Tuy vậy, “món hàng quýgiánhất” mà tác giả gửi đến bạn đọc không phải là nghệ thuật viết tiểu thuyết mà là sự thức tỉnh nhân loại trước tai họa do một lớp người bị“mùlòa” nhưng lại tự coi mình là thượng đẳng, gây ra, đồng thời tôn vinh vẻ đẹp tuyệt vời của lòng nhân hậu, tình yêu thương đối với con trẻ…
Tiểu thuyết bắt đầu bằng một chương rất ngắn, như chỉ để kể một câu chuyện cổ tích: “Ngày xưa, một người đàn ông đốn củi và vợ sống trong một khu rừng lớn…”. Cuốn tiểu thuyết chủ yếu xoay quanh khung cảnh như thế, nhưng ngay lập tức, tác giả lại phủ định: “Không đâu, không đâu…” hẳn là để bạn đọc chớ vội nghĩ đây là một chuyện “cổ tích”, vì chỉ mấy dòng sau, bối cảnh tiểu thuyết đã được mở ra: “…vào thời điểm mà chiến tranh thế giới đang hoành hành xung quanh khu rừng này.”
Chỉ vậy thôi, tác giả không trực tiếp miêu tả trận đánh nào trong “chiến tranh thế giới” - ở đây là thế chiến thứ hai. Có thể nói luôn ở đây là MHQGN sẽ giúp những ai có ý định tiếp tục khai thác đề tài chiến tranh kinh nghiệm quý giá: đó là không “sa lầy” vào việc miêu tả các sự kiện “ngày xưa” và đã có quá nhiều sách báo nói đến; chỉ chọn lựa những câu chuyện - có khi là các “góc khuất” chạm đến những vấn đề nhân bản, khiến người đọc xúc động sâu xa.
MHQGN là một tác phẩm như thế.
Con tàu là tàu chở hàng và bà vợ ông đốn củi tưởng tượng con tàu chở đầy ắp thức ăn, quần áo và mơ ước một ngày nào đó người ta ném cho bà thức ăn hay quần áo vì thế khi nhận được con bé thì bà xem như là một món hàng quý giá nhất đời. “Món hàng” quý vì bà không có con, bà lại đã hết tuổi sinh đẻ, nên càng quý, vì đó là “thứ mà bà cầu khẩn không biết bao nhiêu ngày tháng, một thứ của những giấc mơ của bà”. Trớ trêu thay, khi bà “cuốn chặt sinh linh bé nhỏ đó với mấy lớp khăn quàng… siết chặt cái kho báu của mình vào lòng” thì bà cảm thấy “cái miệng ham hố vừa mới bú cái vú chảy sệ của bà, rồi dừng, rồi la hét…. Nó đói, đứa bé đói, con tôi đói. Bà cảm giác trở thành mẹ, vừa sung sướng, nhưng lại rơi vào cảnh chết người…”. Vì bà là một bà mẹ không sữa. Đã thế, ông chồng đã sớm phát hiện ra cái dấu vết “chết người” trên mình đứa bé, sau khi nghe bà vợ cho biết “niềm vui của đời tôi” do “các vị thần của con tàu ban tặng”…
Ông đốn củi làm thuê cho bọn “chiếm đóng” nên biết rõ những đoàn tàu đi qua khu rừng chở toàn người Do Thái, “đến giữa tâm điểm của địa ngục” thì sẽ bị “xử lý” trong các lò thiêu! Ông bảo vợ: “Nếu bọn Đức mà tìm thấy đứa bé ở nhà ta thì chúng bắt chúng ta úp mặt vào tường thôi.” Khi ông định mang đứa bé ra đặt lại trên đường tàu thì “bà vợ ông đốn củi điên tiết nhào tới, giật lấy gói hàng trong tay ông chồng…”. Việc không thành, nhưng khi bà vợ dọa nếu ông ném xuống dưới bánh tàu hàng cả hai mẹ con thì ông sẽ bị nguyền rủa suốt đời, ông đốn củi đã nhượng bộ…
Bạn đọc không thể dự đoán được số phận ba nhân vật kể trên sẽ đi tới đâu -như trên đã viết, đó là “mẹo” của nhàtiểu thuyết. Đó là chưa nói đến mảng thứhai của cuốn tiểu thuyết - cũng ba nhân vật, đan xen với mảng thứ nhất. Đó là người bố đã ném con bé xuống tuyết khi anh ta thấy bà già như đang đón đợi điều gì đó bên đường tàu. Lúc đó, trên toa tàu còn cô vợ và đứa con song sinh với bé gái vừa bị/được ném xuống. Tác giả chỉ “trích yếu” một góc nhỏ trong tấn thảm kịch hàng ngàn người Do Thái cứ lần lượt bị đưa lên các chuyến tàu một đi không trở lại - ngoại trừ một số rất ít, như người cha của cặp sinh đôi ra đời vào mùa xuân năm 1942. Anh ta, một sinh viên y khoa sắp tốt nghiệp, nên được chọn làm người cắt tóc cho nạn nhân trên các chuyến tàu - những thân người ngắc ngoải bị ném xuống bên đường hoặc đưa đến lò thiêu, nhưng mái tóc thì được thu gom để biến thành hàng hóa! Biết chắc là cảgia đình mình sớm muộn sẽ phải chết, sau bao dằn vặt đau đớn, anh đành chọn cách ném một đứa con xuống, may ra…
Đúng là anh và con bé đã gặp may, nhưng phải trải qua biết bao tình huống kịch tính đến nghẹt thở. Nhưng không chỉ có thế, tác giả không chỉ giỏi tạo ra tình huống truyện đầy kịch tính mà quan trọng hơn là các tình huống bất ngờ đều đặt ra vấn đề nhân bản khiến bạn đọc phải suy ngẫm về tính người của nhân loại cho đến tận hôm nay, chứ không phải chỉ là chuyện “ngày xưa” trong thế chiến 2.
Vâng! 80 năm qua, sau thế chiến 2, nhân loại vẫn chưa tỉnh ngộ, biết bao nhiêu cuộc chiến và thảm sát đã diễn ra trên khắp địa cầu, hàng triệu con người đã phải chết vì đạn bom, vì bạo lực! Bất kể vì lý do gì, những cuộc tàn sát ấy cũng là sự “mù lòa” của con người. Thật trớ trêu khi con người lại “tự hào” đã tiến lên mặt trăng, sao hỏa và chế được tên lửa “siêu thanh”!
Ôi chao! Ước chi những kẻ“tựhào” sản xuất được vũkhígiết người “nhanh hơn chớp” ấy được đọc những trang sách miêu tả ông đốn củi “vô học” và thô vụng, từ chỗ định ném trả lại đứa bé ra đường tàu, vì ông cũng lây bệnh “mù lòa”, lặp lại như vẹt lời bọn chiếm đóng rằng con bé là “sản phẩm của quỷ dữ, một kẻ không có tim”, đến lúc tỉnh ngộ, đã trân quý cái sinh linh bé nhỏ ấy như thế nào. Đó là cái đêm ông phải thức giấc vì nghe tiếng khóc con bé, định thụi cho nó một cú, nhưng bà vợ đã kịp đưa bàn tay chai sần ấy đặt lên ngực “quà tặng” quý nhất đời bà và nói: “Bọn không có tim cũng có một quả tim giống y như tôi và ông thôi.” Phải nói mấy lần như thế, người chồng mới bắt đầu tỉnh ngộ, sau khi tuôn ra những câu nói khủng khiếp, ông cảm nhận “một cái gì nồng ấm, một cái gì êm dịu mới mẻ mà sự tiếp xúc của lòng bàn tay mình với làn da và quả tim của món hàng bé nhỏ làm nẩy sinh tận đáy lòng những nhịp tim mà từ nay ông cảm thấy nó đang đập trong lòng mình…”.
Tuy vậy, tác giả không đơn giản hóa nhân vật, ông đốn củi không dễ thừa nhận ngay “cái của nợ này”, nhưng rồi cũng đến ngày - khi ông “nâng nó lên tới mặt ông, cho tới râu ông, nó giơ tay để tháo cái mũ của ông, hoặc kéo mấy sợi râu của ông…” thì đó là lúc hạnh phúc tuyệt đỉnh, là ngày “tốt đẹp hơn tất cả những ngày trước đó”, ông bàng hoàng, đôi mắt ướt đẫm… Và trong một buổi nhậu say khướt của đám người làm thuê, khi cả bọn “Dzô dzô dzô - bọn không tim hãy chết hết đi!” thì ông đốn củi sau một lúc im lặng đã thét lên: “Bọn không tim có một quả tim đấy!” Nhưng thật là đau đớn, vào lúc Con Người tỉnh ngộ, không còn là con vẹt hò hét theo lý lẽ của “bọn chiếm đóng” mà dám nói lên sự thật thì đó cũng là lúc một kẻ cũng làm thuê cho bọn chúng như ông, phát hiện ra con bé và dẫn theo hai “dân quân” đến… Bạn có thể hình dung cuộc “đụng đầu” diễn ra thế nào không? Xin không dẫn đoạn miêu tả bạo lực khá ác liệt không thể tránh được với kết cục: Ông đốn củi - con người tỉnh ngộ, dám nói lên sự thật, đã phải trả giá bằng sinh mạng của mình, sau khi tiêu diệt những kẻ “mù lòa” chỉ biết theo lệnh bọn chiếm đóng. Điều quan trọng hơn là ông đã kịp bày “thế trận” để bà vợ ôm được con bé chạy vào rừng sâu…
Lại một tình huống bạn đọc không thể đoán trước được. Trong rừng sâu, tại một nơi bí hiểm nhất, có một “người đàn ông có cái đầu tật nguyền” do không chịu làm tay sai cho bọn chiếm đóng, nhưng có trái tim nhân hậu, đã nhường bớt sữa con dê đang nuôi, cứu sống con bé từ nhiều ngày trước, khi bà đốn củi tìm thấy nơi ông trú ẩn. Tuy vậy, hôm nay, lần đầu, ông cho bà bước vào “căn cứ địa” của mình. Khi đặt đứa bé bên cạnh con dê, người đàn ông nói: “Này con gái của các thần linh ơi. Đây là mẹ nuôi của con đó. Mẹ thứ ba của con.” Đứa bé mừng rỡ, ôm ghì lấy con dê, con dê buông thả mình trong vòng tay con bé…”. Ôi! Không lẽ loài người lại có những kẻ nhẫn tâm hơn súc vật? Hình như đã có học giả nêu vấn đề như thế rồi hỏi: Đã có ở đâu các đàn bò - loại súc vật vẫn bị xem là “ngu như bò” - lao vào bắn giết nhau như con người chưa?!
May sao là chiến tranh kết thúc khi những người lính Hồng quân xuất hiện. Nhưng thật xót xa, hai chiến sĩ Hồng quân thận trọng luồn vào rừng sâu, “nhìn thấy một người đàn ông có súng, họ bắn gục ông ta tại chỗ”; và khi lật mặt người bị bắn, họ “nói với giọng khinh bỉ: “Một lão già chả ra sao!”” Liệu có nên trách hành vi vội vàng của người lính? Hẳn là hai người lính nghĩ rằng đây là tay sai của bọn Đức; cũng có thể nghĩ đây là “tai nạn” không tránh khỏi do “quán tính” ghê gớm của một cuộc chiến tranh đã giết chết hàng triệu người!
Sáng hôm sau, bà mẹ chôn cất ân nhân, “bà khóc như mưa như gió, khiến cho món hàng bé nhỏ cũng khóc theo”. Tay dắt đứa bé, tay dắt con dê nhằm phía mặt trời mọc mà đi…
Câu chuyện tiếp tục bằng một hình ảnh vừa bất ngờ vừa nói lên một tấm lòng cao thượng của con người đó là khi ông bố ruột của con bé đã tìm thấy con bé con mình nhưng vì nó đang ở trong tay người mẹ nuôi cưu mang nó với bao khó khăn nên ông rời đi và để bù đắp cho sự mất mát đó ông đã trở thành bác sĩ nhi khoa để chăm sóc cho những đứa bé con người khác và còn nữa… xin dành phần kết cuốn sách để bạn đọc thả trí tưởng tượng.
MHQGN là một tiểu thuyết, được dựng nên từ trí tưởng tượng của tác giả. Ở trang gần cuối sách, JCG cũng đã viết: “Đương nhiên là không, hoàn toàn không có thật…”. Tuy vậy, trang “Phụ lục cho những người yêu thích các chuyện thực” liền đó, tác giả đã cung cấp cho bạn đọc số liệu cụ thể đoàn tàu số 45 xuất phát từDrancy ngày 11/11/1942 chở778 người - trong đócómột người mùlà ông nội của tác giả và đoàn tàu số 49 xuất phát ngày 2/3/1943 chở một ngàn người Do Thái, trong đó có thân phụ của tác giả! Hầu hết bị thiêu chết, năm 1945 chỉ còn 6 người. Tác giả dẫn tư liệu trên từ một cuốn sách xuất bản ở Pháp, trong đó có một cặp song sinh tại quận 10 Paris bị đưa lên đoàn tàu số 64!...
Như vậy đó. Thực tế và trí tưởng tượng của nhà văn có thể không trùng hợp nhưng đúng như tác giả đã viết cuối tiểu thuyết: “Đây là điều duy nhất xứng đáng để tồn tại trong những câu chuyện kể cũng như trong đời sống thật. Tình yêu thương, tình yêu thương dành cho con trẻ, cho con mình cũng như cho con người khác. Dẫu sự vật có tồn tại hay không tồn tại thì, tình yêu thương làm cho cuộc sống này luôn được tiếp tục.” Và có thể nói, dù chỉ một sinh linh bé nhỏ vượt qua cái chết, đây cũng là bài ca chiến thắng của tình yêu thương con người đối với mọi thế lực bạo tàn…
N.K.P
(TCSH430/12-2024)
Tải mã QRCode
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.
Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.
PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.
ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.
NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".
HOÀNG KIM DUNG (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)
PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...
Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.
ANH DŨNGLTS: Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.
SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.
NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?
MINH QUANG Trời tròn lưng bánh tét Đất vuông lòng bánh chưng Dân nghèo thương ngày Tết Gói đất trời rưng rưng...
NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.
Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.
NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.
ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.
HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.
FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.
KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.