Cây thị rỗng ruột và những câu chuyện ly kỳ
Nếu như làng Việt cổ ở Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội) mang dáng dấp đặc trưng của vùng quê đồng bằng Bắc bộ, thì làng Phước Tích (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế) lại còn khá nguyên vẹn những yếu tố gốc của làng cổ vùng văn hóa Huế và miền Trung.
Đây là ngôi làng thứ hai của Việt Nam được bộ VH-TT&DL xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia.
| Trải qua hàng trăm năm, hiện nay, cây thị cổ thụ vẫn um tùm che bóng mát, tỏa hương ngào ngạt. Người dân Phước Tích truyền tai nhau rằng, vào mùa gió Nam (gió phơn mùa hạ - PV), trái thị chín vàng sẽ theo gió rơi xuống sân miếu, ai muốn nhặt đem về nhà thì phải vào miếu xin Bà. Mỗi mùa như vậy trên cây rơi xuống chưa đầy chục trái, vì vậy dân làng rất quý, khi đem quả thị về nhà thì người dân cung kính bỏ lên bàn thờ chứ không nỡ ăn. Người già, trẻ nhỏ trong làng đi ra đi vào hít hà hương quả thị để cầu mong sự chở che, bao bọc của thần miếu, thần cây. |
Ông Nguyễn Duy Tùng (78 tuổi), một vị cao niên trong làng cho biết, theo sử sách và gia phả của các họ ghi lại, xứ Cồn Dương lúc đó vẫn còn là nơi rừng rú âm u, các tộc người Mọi, người rừng vẫn còn ẩn nấp rình bắt người Việt. Sau nhiều lần đánh đuổi, các ngài thủy tổ mới lấy được đất để khai canh, lập ấp. Khi vào đến giữa rú thì bắt gặp cây thị khổng lồ, cành nhánh sum suê tỏa bóng, bên cạnh là miếu thờ Ponagar của người bản địa.
Khi đến gần miếu, cả một vùng trời đất âm u bỗng sáng rực, các ngài thủy tổ đã quỳ lạy, thề nguyện rằng dù chiếm được đất, nhưng ở chốn thâm sơn cùng cốc này người Việt vẫn giữ nguyên miếu và chăm nom việc quét dọn, thờ cúng theo đúng tiết lễ. Dựa vào đặc trưng của miếu gắn liền với cây thị nên người Việt gọi là miếu Cây Thị để tỏ lòng thành kính. Miếu Cây Thị nằm ở xóm Trung Hòa (xóm giữa), xoay mặt về hướng đông, các câu đối chữ Hán ghi trước miếu, trên các trụ lâu ngày bị bào mòn, nên thời điểm xây dựng miếu lần đầu không rõ năm nào, chỉ biết miếu được tu sửa lại dưới thời Tự Đức.
Miếu được xây dựng bằng gạch vò xưa, có tường bao quanh, phía trước có bình phong trang trí hình chim phụng gắn mẻ sành, hai bên có cửa vòm cũng xây bằng gạch vồ cuốn tròn dùng làm lối ra vào. Các nhà khoa học cũng nhận định rằng, miếu Cây Thị thờ mẫu Ponagar đã được Việt hóa trong quá trình chung sống và kế thừa dòng tín ngưỡng Chăm. Vào ngày 16 tháng giêng âm lịch hằng năm, con dân quanh xóm tổ chức cúng tế tại miếu. Tuy lễ cúng không rình rang, nhưng luôn có thủ lợn bọc mỡ chày cùng cau trầu rượu để tỏ lòng thành kính.

Bóng cây thị tỏa rợp ngôi miếu cổ
Dù đã nghìn năm tuổi nhưng cây thị bên miếu cành lá vẫn xanh tốt, sum suê, bộ rễ xù xì nổi lên mặt đất với những hình thù kỳ dị, thân cây to đến bảy tám người ôm không xuể. Tán lá đồ sộ che mát một khuôn viên rộng đến hàng chục mét vuông, dù trưa hè chói chang xung quanh miếu vẫn râm mát lạ thường. Mang trong mình nhiều giai thoại và những câu chuyện kể ly kỳ, cây thị đã trở thành một phần văn hóa gắn với người dân Phước Tích suốt bao đời nay.
Theo dân làng kể lại, bao đời nay người dân Phước Tích khi đi qua miếu đều phải cúi đầu để tỏ lòng thành kính, nếu trong suy nghĩ có ý báng bổ, mạo phạm thì thế nào về đến nhà cũng bị Bà Dàng bắt mất hồn. Dân làng cũng kiêng kị đi ngang miếu vào xế trưa và lúc nhập nhoạng tối, có việc gì cần thiết cũng phải đi vòng đường khác bởi nếu hợp vía thì thể nào cũng bị thần cây bắt giấu vào trong miếu, sau mấy ngày đêm mới thả cho về.
Tuy sống trên đất Cồn Dương suốt mấy trăm năm nay, nhưng cư dân Việt vẫn rất sợ miếu Cây Thị, một cành cây ngọn cỏ xung quanh khu vực đất miếu người dân cũng không dám giẫm đạp. Ông Nguyễn Duy Tùng cho biết, đứa con trai thứ của ông là Nguyễn Duy Cường đã từng bị thần miếu quở phạt. Vốn trước đây con trai của ông rất nghịch, thấy trên cây thị có nhành phong lan đỏ đẹp mắt nên leo lên lấy mang về. Vừa về đến nhà thì cu cậu sốt mê man mấy ngày liền. Ngoài ra trong xóm, có bà Lê Thị Hoa thường hay đi nhặt củi khô về đun bếp. Có lần bà vào miếu nhặt những cành thị rơi đem về đun nấu, không hiểu sao bỗng dưng bà đổ bệnh. Người nhà biết chuyện phải hốt hết tro đem trả lại gốc cây thị thì bà mới khỏe lại.
Có thể những câu chuyện ông Tùng kể chỉ là thời điểm trùng hợp ngẫu nhiên nhưng qua đó cho thấy người dân làng Phước Tích rất có ý thức gìn giữ bảo vệ cây thị quý.
Che chở cho dân làng qua chiến tranh
Ngày nay, dù dân làng có phát quang bụi rậm hay quét dọn xung quanh khu vực miếu thì tất cả cành, lá, rác các loại đều phải tập trung đốt tại miếu chứ không được mang đi nơi khác. Tuy cây và miếu là của người Chăm, nhưng khi người Việt gặp nguy cấp, với lòng thành kính bao lâu nay, người Việt đã được thần cây, thần miếu bao bọc. Điểm đặc biệt của cây thị nghìn năm tuổi là bị rỗng ruột nhưng cành lá vẫn sum suê và sống khỏe với thời gian. Người dân Phước Tích cũng nhờ lòng bộng của cây để trốn khỏi sự truy đuổi của kẻ thù.
Theo lời kể của ông Hoàng Tấn Minh (Trưởng thôn Phước Phú), vào giai đoạn tiền khởi nghĩa những năm 1940, cư dân các xóm đều về đây cư ngụ để trốn giặc Pháp bắt đi phu, đi lính. Giặc Pháp truy đuổi ráo riết quá nên một số thanh niên trong làng liều mình chui vào ẩn nấp trong lòng bộng cây thị, đợi đến khi giặc đi rồi mới chui ra. Sau này, các tổ chức cơ sở Việt Minh thấy vậy chọn cây thị làm căn cứ hoạt động bí mật. Trong lòng bộng cây thị, các chiến sĩ dùng gỗ để đóng bậc tam cấp trong lòng cây, từ gốc đến ngọn chứa được cả một tiểu đội 12 người. Ban ngày, cả tiểu đội trú ngụ trong lòng cây bàn mưu tính kế đánh đuổi kẻ thù, đêm xuống mới tản đi hoạt động. Nhờ cây thị mà suốt những năm tháng chiến tranh, cả quân dân Phước Tích mới thoát khỏi họng súng của quân thù.
Ái Linh
Tải mã QRCode
Xin những bậc chuộng sách vở từ chương đừng mất công dở sử sách Nhà Nguyễn để tìm địa danh này vì nó không phải là cái tên chính thức do vua đặt ra; may ra chỉ có cụ già Léopold Cadière nặng lòng với Huế nên đưa cái tên Nam Đài vào tập san Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) mà thôi...
Như một thói quen, một sự tò mò khó lý giải cứ vào những đêm trăng sáng, nhiều người lại đến khu phế tích Tháp Đôi Liễu Cốc (thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế) để xem vàng hiển linh.
Đây là một dinh thự 2 tầng được xây dựng theo kiến trúc hiện đại, khác với các tòa nhà mang phong cách truyền thống trong Tử Cấm Thành.
Đây không phải là sản phẩm gì quá xa hoa mà chỉ là một vật dụng rất quen thuộc của người Việt xưa...
Trước khi có sự biến mất hoàn toàn các dấu tích cuối cùng của cửa “quan ải An-nam” trên đỉnh đèo Hải Vân, địa điểm cao nhất của đường cái quan nối liền Huế với Đà Nẵng, tôi thiết nghĩ cần hồi phục các kỷ niệm của nó bằng cách đưa ra các bức ảnh cho thấy tình trạng hiện nay, cũng như đưa ra một số lời giải thích ngắn gọn liên quan đến cửa ải xưa chưa đầy một thế kỷ này; nhưng hiện nay hoàn toàn bị phế bỏ và đang lần hồi mai một do ảnh hưởng tác hại của mưa nắng, của các loài cây cỏ bám cứng.
Phạm Duy sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, hơn một phần ba cuộc đời ông sống ở Sài Gòn, hơn một phần ba sống ở ngoại quốc. Ông đi nhiều, yêu và được yêu cũng nhiều, kể cả người Pháp. Nhưng rồi qua trải nghiệm ông thấy người con gái Huế ông yêu là đẹp nhất, sâu sắc nhất...
Huyền Không Sơn Thượng hay còn gọi là chùa Huyền Không 2 cách cố đô Huế chừng 14 km về hướng Tây, thuộc thôn Đồng Chầm (Hòn Vượn), xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Không chỉ cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp, Huế trước đây còn là kinh đô của nhà Nguyễn hàng trăm năm, nên đã hội tụ văn hoá nhiều miền của đất nước, tạo nên một di sản văn hoá đồ sộ, trong đó có CA DAO.
Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử, xây rồi phá, phá rồi xây nhưng vẻ đẹp trong lối kiến trúc của nhà thờ chính tòa Phủ Cam vẫn luôn hiện hữu, thách thức với thời gian.
“Tứ thú” xưa gồm ăn trầu, uống trà, hút thuốc, uống rượu được các bậc cha ông chơi và đạt đến một trình độ đẳng cấp.
Trải dòng lịch sử bi tráng của nước Việt, Hải Vân không chỉ là cung đèo kỳ vĩ mà còn đẫm máu xương vệ quốc.
Tổng thể kiến trúc của lăng Thiệu Trị là sự kết hợp và chọn lọc từ mô thức kiến trúc của lăng Gia Long và lăng Minh Mạng. Trải qua thời gian với những biến cố lăng đã trở nên đổ nát.
Vua Hiệp Hòa (Nguyễn Phúc Hồng Dật, 1847 - 1883) là một trong những vị vua có số phận buồn nhất lịch sử Việt
Lễ bái ở lăng Minh Mạng, lính canh ở lăng Gia Long... là hình ảnh sinh động về con người ở kinh thành Huế xưa.
Bài viết liên quan:
Cách đây gần 100 năm nhiều công trình kiến trúc ở Huế vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị xuống cấp và đổ nát như bây giờ.
Nhiều hình ảnh quý giá về kinh thành Huế của nhà Nguyễn trong khoảng năm 1919-1926 đã được nhiếp ảnh gia Pháp ghi lại...
Trong khuôn viên lăng vua Minh Mạng ở Huế có một di tích độc đáo nhưng ít người biết đến, đó là Tả tùng phòng trên núi Tịnh Sơn. Điểm đặc biệt của công trình này là cánh cửa vòm cuốn đã bị một cây si cổ thụ "nuốt chửng". Đây là minh chứng cho sức mạnh tàn phá của thiên nhiên và thời gian đối với các công trình do con người xây dựng.
Một bà Hoàng con đại gia, vợ ông vua Nguyễn nổi tiếng, nhan sắc Việt
Người Huế vốn là người xứ kinh kỳ, nên lời ăn tiếng nói, cung cách ứng xử, đi lại cũng nhẹ nhàng, tri thức. Ẩm thực cung đình Huế cũng mang nhiều nét ảnh hưởng của cung cách hoàng gia: Ăn uống nhẹ nhàng, khoan thai, các món ăn ngoài khẩu vị ngon phải nhẹ và thanh, cách trình bày cũng phải đẹp, bắt mắt.
Ba giờ sáng, tại Đàn Nam Giao (Thừa Thiên Huế), không còn nghe tiếng hô đức vua xa giá, chỉ có âm thanh rì rầm dội vào rừng thông và những ánh mắt hướng về linh vị đặt trên bàn thờ. Những người dân đến Đàn Nam Giao để nguyện xin sự viên mãn, gia đình bình an.