Sông Hương - quà tặng tuyệt diệu của tạo hóa cho Huế thiên hạ đã biết, nhưng từ khi những con đường ven sông và các cây cầu vươn nhịp nối đôi bờ ngày một nhiều hơn thì các khách sạn và nhiều công trình kiến trúc khác, thường trọng “mặt tiền” là con đường người xe tấp nập, “vô tư” quay lưng với dòng sông từng là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca nhạc họa.
Một góc Bến Xuân
Trong tình cảnh đó, người ta như đã quên các bến sông từng là nơi ghi dấu bao kỷ niệm vui buồn của đời người: buổi đón mẹ về chợ, phút hò hẹn của bao đôi lứa dưới đêm trăng, hay trong sóng nước mát rượi chiều hè cuộc chia tay kẻ ở người đi... “Bến đò Thừa Phủ” nổi danh một thời cũng chung số phận như thế!
Vậy mà phía trên chùa Thiên Mụ có một công trình văn hóa mới chọn sông Hương làm “mặt tiền” và như thế phải “đầu tư” để có khuôn mặt không hổ thẹn khi soi mình bên sông Thơm cùng với một bến sông tương xứng. Công trình chưa hẹn ngày khánh thành nhưng tên “Bến Xuân” thì không ít người đã nghe nói đến.
Về công trình nhà hát khá đặc biệt này hẳn là có dịp phải viết kỹ hơn; ở đây chỉ xin được nói vắn tắt: trong khi hàng loạt di tích văn hóa cổ sau khi cải tạo, trùng tu thường biến dạng thành những khối bêtông với màu sắc kệch cỡm thì “Bến Xuân”, một công trình mới toanh, lại hài hòa với phong cảnh và di tích cố đô Huế, đến mức tưởng như nó là một kiến trúc đặc sắc, nguyên vẹn từ trong Đại Nội mà ai đó vừa tung phép mầu “bê” ra bờ sông Hương! Từ viên ngói lợp cho đến gạch xây và mọi họa tiết trang trí đều cổ điển như ở một công trình thời Nguyễn.
Dù vậy, “Bến Xuân” không phải là một kiến trúc bắt chước, mà là công trình nghệ thuật có dấu ấn riêng của tác giả - cặp vợ chồng trai tài gái sắc Truơng Đình Ngộ - Huyền Tôn Nữ Cẩm Hồng đã hai lần mang chương trình nhạc Cung Tiến và thơ - nhạc Hàn Mặc Tử dựng từ trời Tây về góp mặt với Festival Huế... Khán giả biết đến Cẩm Hồng với cái tên Camille Huyền. Họ đã sống ở Paris, Thụy Sĩ nhiều năm nên “Bến Xuân” không thể thiếu yếu tố hiện đại. Xin “bật mí” trước là dưới “Lầu thơ” sắp hoàn thành là một... hầm rượu như ở Tây!
Dễ thấy nét riêng của công trình hơn cả có lẽ là hai cái cổng. Cổng ở bến sông đã hoàn thành, cổng phía đường ôtô vận dụng các hình khối của nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị đang được xây dựng. Riêng cổng phía bờ sông đã có thể nói chắc là một công trình “không nơi nào có được” như lời một bài hát về Huế. Cái đẹp còn tùy “gu” mỗi người, nhưng chủ nhân - nữ ca sĩ kiêm họa sĩ Cẩm Hồng, cựu nữ sinh Đồng Khánh - thì đã trăn trở cả năm trời mới tìm ra kiểu dáng gần gũi với dòng sông - mái cổng tựa như mái đò thân thuộc trên sông Hương, và cô đã “đeo bám”, chỉnh sửa cùng với tốp thợ suốt mấy tháng ròng, đến mức quên cả vóc hình của mình hao gầy vì nắng gió. Một khung cửa bên tường nhà mang hình chim phụng, một họa tiết nơi lan can gợi nhớ mâm ngũ quả ngày tết... đều được chăm chút tỉ mỉ như thế, thậm chí có loại sành sứ phải tìm mua những mảnh vỡ đồ cổ hàng trăm năm...
Một công trình như thế tốn nhiều tỉ đồng, nhưng giàu mấy - thậm chí là tỉ phú đôla - mà không hiểu biết, không tôn trọng văn hóa và sự hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên cũng như những nét đẹp riêng của một vùng đất thì chắc chắn không thể làm được công trình như “Bến Xuân”. Cũng vì thế, “Bến Xuân” đã lỡ hẹn với Festival Huế 2012, nay Festival Huế 2014 đã khởi động mà anh Trương Đình Ngộ vẫn chưa dám hẹn ngày khánh thành.
Một công trình thật sự có giá trị văn hóa không chỉ để phục vụ một lễ kỷ niệm, một lễ hội mà muốn còn mãi với thời gian thì ắt không thể làm vội. Cần rất nhiều công phu và một tâm hồn yêu cái đẹp đến quên mình...
Nguyễn Khắc Phê
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.