Bến vắng

09:08 03/04/2019

NGUYỄN HẢI TRIỀU   

1.
Đường ra bến đò cuối làng Phú Đông ngày xưa không vắng hoe như bây giờ đâu. Cái bến đò còn đông đúc người qua lại.

Minh họa: Phan Thanh Bình

Trong kháng chiến, địa danh Xóm Bụt là căn cứ lõm của cách mạng. Gọi Xóm Bụt vì trước đây người ta kể rằng đất đai chỉ mọc toàn cây dâm bụt (còn gọi là cây “lá nả”). Mùa hoa dâm bụt, hoa nở đỏ rực một góc sông. Do địa thế hiểm trở nên vắng người lui tới. Mãi đến gần trăm năm trước, có ông Thủ Hiến trong làng rủ bà con tộc họ ra khai hoang, canh tác. Đầu tiên năm bảy nhà, rồi đến nhiều lên đông đúc, cuộc sống thịnh vượng. Ông Thoang, cha của Tất là người đưa đò lâu năm trên bến Bụt này. Nghe đâu từ thời ông nội của ông kia. Cả đời ông, sông nước đò giang từng trải. Thời chiến tranh, bom đạn, giặc giã liên miên ông cũng không rời bến đò nửa bước. Bà Mến vợ ông qua đời trong một trận càn. Ông làm gà trống một mình nuôi anh Tất nên người. Căn nhà nhỏ trên bến sông một già một trẻ nương nhau thủy chung với con đò quê cả làng ai chẳng biết.

Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, trai tráng lên đường đánh giặc, anh Tất cũng xung phong đi bộ đội. Chính quyền địa phương xét gia đình neo đơn hoãn nghĩa vụ quân sự nhưng anh nằng nặc lên tới huyện đội xin nhập ngũ. Hiểu tính con trai, ông Thoang cũng không có ý kiến chi, đồng ý cho Tất lên đường. Ông nói với hàng xóm láng giềng: “Cả đời tôi gắn bó với bến sông này rồi. Thằng Tất có đi xa thì còn bà con lối xóm đùm bọc. Cứ để nó đi cho bằng anh bằng em…”. Buổi chiều trước khi anh Tất lên đường, cha con ngồi với nhau dưới mái hiên ngôi nhà nhỏ trên bến vắng. Ông thủ thỉ: “Ngày mẹ con mất, con mới tròn bảy tuổi. Bà ấy tắt thở bên cái hầm kèo ngay góc nhà này đây. Hôm ấy cha mắc đưa mấy chú giao liên qua sông. Trái pháo 105 nổ cạnh hầm, mẹ con chết với mấy người hàng xóm. Chiến tranh thì trách ai được con. Cha con mình dựa nhau sống đến bây giờ là cha vui lắm rồi. Con đi yên tâm. Đạn bom trong kháng chiến không làm cha gục ngã thì bây giờ thấm tháp chi…”.

Đêm chia tay với Mai, anh Tất hẹn người yêu ra bến. Hai người lấy chiếc đò của ông Thoang cùng bơi ra giữa dòng sông Bình Yên, cắm sào ngồi bên nhau tâm sự. Dòng sông Bình Yên đúng với tên gọi của nó, đêm ấy yên ắng đến lạ thường. Tháng Giêng, trăng Nguyên Tiêu vằng vặc soi sáng cả dòng sông. Từng ngóc ngách kỷ niệm hiện về với đôi tình nhân. Bên kia là Lạc Thành xóm làng như đang ngủ. Điện Tiến xuôi về đông dòng sông như thổn thức. “Ngày mai anh lên đường/ ngày mai anh ra chiến trường…”, câu hát cứ vẳng trong Tất trong Mai với bao lời hò hẹn ngày về. Họ chẳng nói với nhau điều chi nhiều, chỉ để cảm xúc dâng trào trong đắm đuối của tình yêu… và mãi đến khi bóng trăng xế ngang đầu, họ lưu luyến chia tay, dùng dằng quay thuyền về bến.

Hôm sau, trong đám bạn bè, người thân tiễn anh Tất lên đường, người ta không thấy Mai, có lẽ cô ấy không thể cầm lòng với cuộc chia tay (?).

Tất đi bộ đội được ba tháng, cả làng Phú Đông lại xôn xao thông tin bất ngờ: Ông Thịnh, cha của Mai đưa vợ con đi kinh tế mới ở Lâm Đồng. Họ không hiểu sao nhà cửa, vườn tược đất đai đang ổn định, ăn nên làm ra vậy mà phải bỏ xứ lưu lạc. Gia đình ông đi, một thời gian sau câu chuyện tình yêu của anh Tất và Mai cũng chẳng còn ai để tâm tới nữa.

Nửa năm sau, ông Thoang qua đời vì một căn bệnh hiểm nghèo. Ngày ông mất, hàng xóm bà con có nhờ người đánh điện để Tất xin phép đơn vị về với cha lần cuối nhưng không được. Họ nói đơn vị của Tất đã hành quân sang đất bạn chiến đấu lâu rồi. Hàng xóm lo cho ông mồ yên mả đẹp. Họ mai táng ông ngay trên bến sông Xóm Bụt, nơi cả đời ông từ tuổi trẻ đến khi về già gắn bó máu thịt nơi bến sông quê. Ông Thoang mất, không còn người lái đò, bến vắng đi một cách lạ lùng.

2.

Anh Tất về quê sau gần bốn năm trận mạc. Anh về trên chiếc xe lăn. Đôi chân anh để lại chiến trường Đông bắc sau một trận đánh trong chiến dịch Ngã Ba Biên giới. Đồng đội kể lại rằng, khi anh chỉ huy tiểu đội của mình đưa thương binh về hậu cứ thì bị lạc vào giữa bãi mìn. Anh đi trước đội hình, một trái mìn KP2 đã băm nát đôi chân anh. Anh nhận phần nguy hiểm để cả đội hình phía sau anh được an toàn. Anh Tất bị thương, đơn vị cứ nghĩ rằng anh sẽ không qua khỏi vì đường về hậu cứ rất xa mà vết thương của anh máu lại ra nhiều. Nhưng anh vẫn sống cho đến khi đồng đội đưa được anh đến trạm phẩu tiền phương. Có lẽ nghị lực phi thường của người con trai Xóm Bụt trong anh trỗi dậy với ước vọng phải sống để được có ngày về quê bên người cha già, bên người yêu ngày ra đi với bao lời hẹn ước...

Anh về. Thực tế hoàn toàn ngược lại với bao điều anh nghĩ. Cha mất. Người yêu biệt xứ chẳng biết nơi nào? Về đến ủy ban xã, những người bạn cũ, người quen đon đả đón anh, vui mừng… nhưng trong mắt họ ánh lên niềm thương cảm… và anh đã hiểu ra mọi lẽ. Ngồi trên chiếc xe lăn, anh liêu xiêu trên con đường bê tông về Xóm Bụt. Hai bên đường, những ruộng cải đang mùa trổ hoa vàng đầy lối. “Có một mùa hoa cải/ nắng vàng trong mê mải/ Anh nói rồi anh đi/ Chiến tranh không hẹn ước…”.

Anh Tất về Xóm Bụt. Túp nhà cũ bên bến sông ngày anh ra đi bây giờ vẫn vậy, hắt hiu, đơn độc. Anh về. Người ta kể rằng suốt ba ngày trời anh không ăn uống chi hết mà cứ lăn xe ra mộ ông Thoang từ sáng đến chiều, đến tối, lặng lẽ độc thoại với cha mình. Mọi người sợ anh ngã bệnh tìm lời an ủi. Thời gian sau nguôi ngoai anh mới trở lại bình thường đôi chút. Anh gầy sọp đi, ít nói hẳn. Chàng thanh niên Tất ngày chưa đi bộ đội sôi nổi, ồn ả bao nhiêu thì bây giờ anh thương binh Tất lại trầm lắng, lặng lẽ bấy nhiêu.

Một năm, rồi hai năm đi qua, cái Bến Bụt làng Phú Đông vẫn là cái bến vắng dù người con trai ông lái đò đã trở về. Những ngày đầu anh sống lặng lẽ với chòm xóm, ít giao du nhưng rồi cũng quen dần, Tất cởi mở hơn. Với đồng phụ cấp thương binh, một mình anh trang trải vẫn đầy đủ. Bạn bè anh, nhất là những đồng đội cũ thường xuyên tới lui thăm hỏi, xóm giềng qua lại mỗi ngày, anh Tất dần trở lại bình thường hòa nhịp với cộng đồng, duy câu chuyện tình của anh với Mai, gần như không bao giờ nhắc tới. Bà con cô bác trong làng đôi khi cũng gợi mở cho Tất cưới vợ, anh chỉ cười…

Sau mấy buổi chiều lăn xe ra bến sông, nơi úp chiếc ghe đò của cha để lại. Anh Tất nhìn trời, nhìn nước, nhìn bến vắng hoang liêu… hôm sau anh kêu thợ sửa ghe đến nhà sửa sang lại chiếc đò cũ. Mọi người ngạc nhiên hỏi, anh cười nói: “Phải đưa đò trở lại để bến sông này không còn hoang vắng nữa bà con à!” Sống một mình, những đêm trái gió trở trời anh chống chọi với những cơn đau nhức của vết thương. Thỉnh thoảng anh giật thót người khi nghe tiếng “đò ơi” của ai đó bên sông. Những người đi xa lâu ngày về ngang bến cũ cứ tưởng con đò năm nao vẫn còn đưa khách. Dòng hoài niệm chảy trong anh về thời quá vãng, về bến xưa…

Kể từ hôm đó, con đò Bến Bụt lại qua sông. Thỉnh thoảng mới có một vài người khách. Xóm Bụt cũng vui lây. Anh Tất đưa đò nhưng không lấy tiền. Khách ngạc nhiên khi thấy người lái đò là một thương binh cụt chân. Có khi khách năn nỉ quá anh lấy vài đồng cho vui. Đưa đò với anh đã thành niềm vui mỗi ngày.

Một buổi trưa, khi anh Tất còn đang mơ màng trong giấc nghỉ thì giật mình bởi những tiếng la thất thanh: “Bớ người ta! Cứu! Cứu! Có người chết nước...”. Anh vùng dậy, quơ chiếc áo khoác lên người, vội lên chiếc xe lăn đổ dốc ra bến. Một nhóm ba đứa bé gái khoảng lớp bảy, lớp tám tắm sông đang bị đuối nước. Chúng trì kéo với nhau, có đứa đang đuối dần trôi theo dòng. Không một chút do dự; cũng không có đủ thời gian để lấy dầm chèo leo lên thuyền bơi ra cứu chúng. Để nguyên quần áo trên người, anh nhảy xuống dòng nước đang chảy xiết bơi theo. Kéo được đứa thứ nhất; đứa thứ hai vào bờ để cho mọi người chăm sóc, anh lao theo đứa thứ ba đang trôi xa ra tận giữa dòng. Cố lấy hết sức còn lại anh dìu đứa bé vào tận bờ thì không còn chút sức lực nào nữa. Dòng nước xoáy đã cuốn anh chìm nghỉm, mất tích. Cuối buổi chiều hôm ấy, người dân Xóm Bụt vớt được thi hài anh Tất nơi tận cuối dòng sông. Anh chết trong sự tiếc thương của cả làng. Người ta nói rằng, một con người sức vóc bình thường chưa chắc chịu nổi dòng xoáy của sông Bình Yên mùa lũ; huống chi anh, một thương binh mất chân! Người ta mai táng anh ngay bên mộ cha mình, trên bến sông thân thuộc mà cả đời anh, đời cha gắn bó. Cả làng khóc anh…

3.

Chiều nay. Cũng như mọi buổi chiều trên bến sông. Anh Tất không còn. Bến vắng.

Một cô gái trẻ khoảng chừng đôi mươi, tay ôm một bó hoa tươi, lặng lẽ dừng chiếc xe đạp bên cạnh mộ anh Tất. Cô ôm bó hoa đặt trước tấm bia rồi ngồi xuống, vừa nhổ cỏ vừa thầm thì: “Ba ơi! Hôm nay con về thăm mộ ba đây! Mong ba an nghỉ ngàn thu…”. Trong khi cô gái còn đang thổn thức, độc thoại thì có một chiếc xe hơi bóng loáng trờ tới. Xe dừng. Một người đàn bà trung niên nhưng còn rất xinh đẹp và một anh thanh niên khoảng ba mươi mở cửa xe bước xuống. Sau một lúc chần chừ, họ cũng ôm một bó hoa bước tới đặt trước mộ anh Tất trong sự ngạc nhiên của cô gái. Sau thoáng ngập ngừng, cô gái hỏi: “Cô là… Sao cô lại đến thăm mộ ba cháu?” Người đàn bà ngạc nhiên: “Cháu là con gái của anh Tất? Anh ấy cũng có con?” “Dạ không! Ba Tất vì cứu cháu mà phải trả giá bằng cả mạng sống. Từ ngày ấy, cháu luôn xem là ba của mình cô à! Còn cô?” Hai người phụ nữ, một già một trẻ chợt hiểu ra. Rồi như có một sự đồng cảm nào đó, người đàn bà ôm chầm cô gái, thổn thức như nói với chính mình: “Cháu ơi! Cô là Mai. Là người đàn bà phụ bạc của chú Tất…”. Họ khóc.

Cái đêm chia tay ấy, anh Tất đã để lại giọt máu cho Mai trước khi ra trận. Sợ miệng thế gian đánh tiếng con gái chửa hoang, ông Thịnh quyết định đưa cả gia đình vào Lâm Đồng lập nghiệp. Mai sinh con nơi đất khách quê người và sau nhiều năm không có tin anh Tất trở về, cô lấy chồng. Số phận đưa đẩy Mai sang nước ngoài định cư. Cuộc sống mới tuy sung túc, suôn sẻ. Khi biết tin về quê xứ thì Tất không còn nữa. Lần này về thăm quê, cô quyết định đưa đứa con trai, giọt máu của Tất về thăm mộ cha mình. Những giây phút lắng đọng, hoài niệm…

“Con à! Lại lạy ba đi con!”

Ánh nắng chiều yếu dần phía trời tây. Ngày sắp tắt. Bên kia sông, nơi còn sót lại mấy hàng dâm bụt hoang dại đã rực bông…

Bến vắng.

Tháng 6/2018
N.H.T  
(TCSH361/03-2019)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.