ĐÔNG HÀ
Tôi yêu thơ Nguyễn Trọng Tạo từ những năm còn là sinh viên. Tuổi trẻ nhiều háo hức, về tình yêu, về non xanh và tơ nõn. Nhưng khi bắt gặp những câu thơ chảy ngược trong tập Đồng dao cho người lớn, tôi lại choáng váng.
Nhà thơ Vĩnh Nguyên, nhạc sỹ Việt Đức, nhạc sỹ Trịnh Công Sơn và nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (từ trái sang) - Ảnh: internet
Thơ sao không phải thơ tình? Thơ sao lại đi nói những điều xót xa làm vậy? Tin thì tin không tin thì thôi!
Câu thơ này trở thành tiếng nói vang lên trong tâm trí tôi, khi đứng trước một bất lực của đời sống.
Tin thì tin không tin thì thôi! Tôi nhớ về những tháng ngày ấu dại. Một đứa trẻ lớn lên từ đồng chiêm đã biết hơi lạnh tỏa ra từ núi đá, đã đau cắt tâm can cơn rét buốt thịt da kim châm cánh đồng chiêm mỗi chiều về, đã xòe hai bàn tay cay phồng hơi ớt rát bỏng da như lưỡi dao lách dưới mỗi tế bào yêu thương.
Tôi đã tin. Nhưng người đời không tin. Tôi đã loay hoay làm cho người ta tin. Tôi đã bất lực đớn đau khi không thể làm cho người ta tin.
Cho đến lúc được đọc thơ anh. Tin thì tin không tin thì thôi! Ừ, thì thôi. Tại sao mình đã từng loay hoay đến vậy? Không tin thì thôi.
Và yêu những câu thơ buồn như rút ruột gan ra chỉ để diễn tả mỗi một nỗi buồn. Để buồn cho xong với mình, mà đi vui cùng thiên hạ.
Về sau, đôi dịp chứng kiến những cuộc vui với anh, tôi mới nhận ra, thơ anh là cõi buồn thật. Buồn như thể bao nhiêu buồn anh trút cả vào thơ, để còn rảnh rang vui, mà đi vui với cả và thiên hạ.
Và vừa vui với thiên hạ, anh vừa làm thơ cho người, sau đó, làm thơ cho mình. Nên thơ anh có đủ. Thơ thế sự, chiêm nghiệm, triết lý, yêu đương hờn giận hẹn hò chia tay mất mát bla bla… Cuộc đời có gì, anh làm thơ về thứ đó. Cả nhạc, cả tranh. Anh thành nghệ sĩ đa tài trên diễn đàn văn nghệ, thành người quý mến được khắp nơi cưng chiều.
Và anh có nhiều độc giả, nhiều sự tán tụng, ngưỡng mộ và nâng niu.
Tôi về ngồi một góc riêng, đọc bài thơ đầu tiên anh viết năm 14 tuổi, và chùm thơ viết cho một lần (toan) tự tử năm 34 tuổi. Một mười bốn tuổi già nua và mười cho hai mươi năm sau đơn độc. Hai mươi năm sống một mình cùng đứa bé già nua của chính mình, anh đã viết những câu thơ rứt da thịt ra để đi chết.
KHÔNG ĐỀ
Tôi nằm nhoài giữa ánh trăng
Lưng tôi thảm cỏ rối hăng hương nồng
Bạn ơi, trăng hóa dòng sông
Tôi con thuyền nhỏ bơi trong nỗi niềm
Bây giờ tôi dịu tôi hiền
Biết đâu tôi dại tôi điên bao giờ
Mai sau tôi chết trong thơ
Hay là thơ chết bên bờ hồn tôi?...
Trăng trên ngọn liễu trăng ngồi
Tôi trên ngọn liễu tôi rơi bây giờ!...
Bạn ơi, trăng quá ngây thơ
Còn tôi cằn cỗi già nua thế này
Bao giờ tôi hóa làn mây
Hẳn tôi muôn thuở sum vầy cùng trăng!...
1961
14 tuổi đã biết buồn nỗi buồn riêng của chính mình. Tôi nhìn thấy sự si mê đắm đuối tưởng như cuồng nhiệt thẳm cùng của anh trong lòng yêu thơ vô bờ bến qua bài thơ đầu tiên này. Mê thơ Hàn Mặc Tử, đọc lậm thơ Hàn và ảnh hưởng thơ Hàn là điều dễ hiểu. Nhưng cất lên tiếng nói như một tuyên ngôn tận hiến đời mình cho thơ, thì cậu bé 14 tuổi kia đã dấn thân vào cõi thơ, không còn một cõi nào khác xứng đáng cho cậu để mắt tới nữa.
Và đương nhiên, là cái cô đơn cồn cào của người trẻ. “Tôi con thuyền nhỏ bơi trong nỗi niềm”. Hồn nhiên chân tình quá đỗi. Hình ảnh thơ đẹp gợi cho tôi niềm yêu thương muốn khóc. Với câu thơ này, cậu bé đã bắt đầu bước xuống chiếc thuyền định mệnh của đời mình. Để suốt những năm dài tháng rộng, anh chèo chống, vượt thác ghềnh, hay gõ mạn thuyền hát khúc hoan ca… đều trên chiếc thuyền trong con sông ngập tràn nỗi buồn vô tận.
Bây giờ tôi dịu tôi hiền
Biết đâu tôi dại tôi điên bao giờ
Mai sau tôi chết trong thơ
Hay là thơ chết bên bờ hồn tôi?...
Trăng trên ngọn liễu trăng ngồi
Tôi trên ngọn liễu tôi rơi bây giờ!...
Những câu thơ hốt nhiên khiến tôi rợn ngợp. Tôi nhìn thấy trong người thơ ấy, thơ đã ở trong anh tự bao giờ. Dịu hiền, điên cuồng, chết trong nhau. Ngập ngụa trong thơ và thơ đã hóa thành con người ấy.
Mà, đã sống bằng thơ gan ruột như thế, đời có mấy ai vui.
Nên, 20 năm sau, vào lúc 34 tuổi, anh đã tìm về với cái chết.
10 BÀI THƠ VIẾT TRONG ĐÊM TỰ TỬ
Trái tim tôi nếu ai đó đem chôn
Thì nó sẽ mọc lên hoàng hôn!
1.
Chưa phải thế nhưng mà nó thế
Tôi ra đi nào phải không yêu Mẹ
Tôi ra đi nào phải chẳng yêu người
Chưa phải thế nhưng mà nó thế
Chưa phải thế nhưng mà nó thế
Bạn bè tôi còn hy vọng tôi nhiều
Những bài thơ còn mắc nợ mây chiều
Chưa phải thế nhưng mà nó thế
Chưa phải thế nhưng mà nó thế
Tôi ra đi đừng nghĩ vắng tôi rồi
Tôi ra đi vì yêu quá cuộc đời
Chưa phải thế nhưng mà nó thế
2.
Vì sao tôi phải tự giết mình bằng hai viên đạn
Điều băn khoăn không phải chuyện tình cờ
Tôi không phải là người cố chết
Vậy thì lý do gì?
Một viên đạn tự giết tôi cũng đủ
Còn viên kia? Đáng dành cho kẻ khác
Nhưng tôi đã thương kẻ khác hơn mình
Viên đạn kia sẽ giết tôi lần nữa!
3.
Người ta sống thế nào thì chết cũng vậy thôi
Tôi sống không dối lừa tôi chết không lừa dối
Hơn 30 năm trước tôi đến với đời này
Cũng ra đi từ đời này sau hơn 30 năm tuổi
Có khác chăng những ngày tôi đã sống
Gặp người này bằng cái bắt tay người khác
bằng cái hôn
Giờ tôi chết một mình trong phòng kín
Không cái bắt tay. Cái hôn cũng không.
4.
Hoa ơi! Nếu bạn buồn rầu về cái chết của tôi
Tôi không muốn can ngăn sự buồn rầu của bạn
Chúng mình sống cho nhau như cây với cội
Khuyên can để làm gì nếu chẳng ích gì hơn
Và bởi vậy Hoa ơi xin đừng trách
Tôi ra đi không hỏi bạn một lời.
5.
Không ngờ tôi có thể biết rõ ràng bài thơ
cuối cùng tôi viết
Bài thơ nghiêm trang và run rẩy của tôi
Chỉ riêng điều này cũng thấy mình hạnh phúc:
Tôi không còn. Bài thơ tôi còn đây…
6.
Trên thế gian này tôi đến rồi đi như tia chớp mà thôi
Ôi cuộc đời ngắn ngủi
Chia tay tuổi thơ vẫy tung mùa phượng đỏ
Áo lính thời trai chưa kịp cũ
Ngoảnh lại yêu đương như muối xát lòng
Con gái bé bỏng ơi! Con là bài thơ lớn nhất
Mãi hoài thai những câu thơ ba viết
Hoài thai ba những giây phút yếu lòng
Bạn bè đông
Một hai tâm đắc
Suốt cả thời mình sống trên trái đất
Sống thật lòng như tia chớp vậy thôi
Ôi cuộc đời ngắn ngủi
Ghét bỏ làm chi tiếc nuối làm chi
Tia chớp thế nào phát sáng thế ấy
Người đến thế nào người cứ thế ra đi
“trên thế gian này tôi chỉ là người đi qua
em hãy vẫy cho tôi một bàn tay trìu mến”
Tôi đã vẫy cho Ê-xê-nhin cái vẫy tay anh muốn
Giờ đến lượt tôi. Ai sẽ vẫy tôi đây?
7.
Đáng lẽ ra đi rồi sao tôi vẫn còn đây
Đối diện với chân trời tuổi nhỏ
Đối diện với bất công đau khổ
Đáng lẽ ra đi rồi sao tôi vẫn còn đây
Lòng bộn bề và trời đầy mây
Khao khát tự do thì tự do bị trói
Khao khát yêu thương thì ba chìm bảy nổi
Sự thật thiêng liêng bị đánh tráo dối lừa
Đáng lẽ ra đi rồi sao tôi vẫn còn đây
Để được hát bài hát mình lần cuối
Để được hát ngợi ca lẽ phải
Đáng lẽ ra đi rồi sao tôi vẫn còn đây
8.
Bạn ơi! Có thể bạn đã ủng hộ tôi mà chưa đạt được
Bạn ơi! Có thể tôi với bạn đã cãi cọ nhau không bằng lời
Bạn ơi! Có thể bạn thờ ơ lãnh đạm với tôi
Bạn ơi! Có thể tôi với bạn đã thỏa thuận
điều này. Điều khác chưa thỏa thuận
Cuộc đời là vậy nó cứ vậy kéo dài
Hôm nay tôi chết ai chết ngày mai
Hôm nay ai thương tôi ngày mai ai thương người
Hôm nay ai ghét tôi ngày mai ai ghét người
Cuộc đời là vậy nó cứ vậy kéo dài
Hôm nay tôi chết ai chết ngày mai
9.
Có thể không phải thế nhưng mà tôi nghĩ thế
Người ta sống với nhau dè dặt đến nghi ngờ
Nụ cười xã giao
Công việc cũng xã giao
Có thể không phải thế nhưng mà tôi nghĩ thế
Có khi vì một cái gì đó
Như lòng ganh tị nhỏ nhen
Sẵn sàng đánh vào kẽ hở của lòng tốt
Trâu bò húc nhau cánh đồng bị dẫm nát
Bố mẹ giận nhau bỏ đói đàn con
Vì sao người ta miễn cưỡng nghe lòng thành thật
Vì sao người ta lại vu cáo anh khi anh đang lâm nạn
Vì sao anh tự tử người ta uống rượu mừng
Vì sao anh không biết tựa lưng
Vào những người trung thực
Có thể không phải thế nhưng mà tôi nghĩ thế
Đời bao nhiêu phe phẩy đứng chắn đường
Bọn phe phẩy ăn diện sang trọng quá
Da dẻ hồng hào
Nụ cười ma giáo
Cũng có khi mang trang phục quân nhân
Có thể không phải thế nhưng mà tôi nghĩ thế
10.
Nếu tim tôi có thể bóp tơi ra thành muôn hạt li ti
Tôi sẽ ném lên trời cho gió mang đi
Nếu tim tôi có thể rung âm nhạc
Thì tôi đã dành nó cho bài hát
Nếu tim tôi có thể viết thành thơ
Nó đã ở trong thơ tôi bao giờ
Nếu tim tôi có thể yêu say đắm
Nó đã ở trong ngực em đằm thắm
Trái tim tôi nếu ai đó đem chôn
Thì nó sẽ mọc lên hoàng hôn!
Vân Hồ 3, đêm 11/11/1981
Về cái chết, là lúc con người ta, hoặc đã hết phần để sống, hoặc cùng quẫn trốn sống. Nhưng tôi còn thấy có một loài, khi đã chán chường với cõi sống, họ tự kết liễu mình, để được trọn vẹn cùng cõi riêng của họ, không ai có thể chạm tới, xâm phạm dù một mảy may. Đó là cái chết kiêu ngạo của một con người biết mình đủ đầy để tách ra khỏi đời sống tẹp nhẹp vô nghĩa lý.
Cái chết đó, họ không cần người khác xót thương.
Và, Nguyễn Trọng Tạo đã có lần kiêu ngạo tự ôm mình đi vào cõi riêng như thế.
Anh đã sắp đặt một đời sống mới cho mình.
Trái tim tôi nếu ai đó đem chôn
Thì nó sẽ mọc lên hoàng hôn!
10 bài thơ viết trong đêm tự tử là lời tự sự. Anh tách mình ra thành hai nửa. Cái tôi và cái Nó. Độc thoại và Đối thoại. Là cái cớ để bật lên những câu nói vang từ tâm thức.
Chính vì vậy, tôi có thể nhìn thấy anh.
1. Chưa phải thế nhưng mà nó thế. Vâng. Chưa đến lúc, chưa phải… là cái nhìn của bạn, của anh, của chị, của em, của loài người… Nhưng, nó thế. Tôi là Thế! Tôi chính là Nó! Không biện luận, không giải thích, không nhiều lời. Những khổ thơ lặp đi lặp lại chỉ cần khẳng định một điều: Nó thế! Tôi nghĩ, có lẽ, lúc ấy, điều mà Nguyễn Trọng Tạo muốn nói nhất, chính là hai từ “Nó thế!”. Nhưng biết làm sao được, thiên hạ vốn nhiễu sự, nên anh phải chịu khó rườm lời. Thì thành một phần của bài thơ. Chưa phải thế nhưng mà nó thế.
2.3. Người ta sống thế nào thì chết cũng vậy thôi. Đơn giản thế thôi. Nên anh đã giành luôn về mình hai viên đạn. Chỉ một mình anh chết là đủ. Anh mang tất cả sự trinh trắng của tâm hồn mình đi. Còn những kẻ khác. Hãy để họ sống, cùng man trá, dối lừa. Một tâm hồn ba mươi tư tuổi, đang độ căng mọng nhất, để sống, để yêu, để cống hiến, để tận tụy cho đời. Giờ đây sau bao nhiêu vỡ lẽ, anh tự mang mình đi. Qua chỗ khác chơi. Sống thế nào thì chết cũng vậy thôi.
4.5.6. Chúng mình sống cho nhau như cây với cội/ Khuyên can để làm gì nếu chẳng ích gì hơn. Đó là lời trần tình dành cho những yêu thương. Nguyễn Trọng Tạo luôn ấm nồng, từ giọng nói, ánh nhìn, lời thốt ra. Nhưng đó là những gì tôi thấy mãi sau này, khi được ngồi nói chuyện cùng anh. Còn trước đó? Chỉ hai câu thơ trên đã đủ nói lên một trìu mến anh. Đời người không nên đo bằng ngắn dài, chỉ cần ân tình trao cho nhau đủ đầy là quá diễm hạnh. Anh nói với hoa, với em, với gia đình bè bạn, hay với Nó? Với chính anh? Suy cho cùng, là anh nói với Thơ. Tấm lòng trìu mến, yêu thương, cô độc. Mà đến cả trong cô độc như vậy, anh vẫn không ngừng được sự yêu thương. Nên cô độc đẹp như một bông hoa. Tôi thấy vậy.
7. Đáng lẽ ra đi rồi sao tôi vẫn còn đây. Trời ơi một trời đơn độc.
8.9.10. Hôm nay tôi chết ai chết ngày mai??? Có phải vì thế, mà anh không đành lòng chết. Và sự sống, phải quay lại sống, là một cách tự làm khổ chính mình.
Thơ anh buồn quá. Buồn từ năm mười bốn tuổi buồn suốt hai mươi năm đến một lần tự tử không thành.
Sau đó, anh thành nhà thơ cho người đời tán tụng, anh thành nghệ sĩ tài danh cho thiên hạ đứng ké tấm hình để anh gọi tên người ta dịu dàng trìu mến lại là một ân sủng ban trao.
Và thơ anh, tất nhiên hay. Và nhạc anh, tất nhiên nổi. Và tranh anh bìa anh, tất nhiên là tự là hào.
Nhưng tất cả đó, chỉ là cái tài năng thiên bẩm, anh đem ra nhào nặn bắt dựng lên, rồi đôi ra giữa chiếu sới. Cho thiên hạ tụng ca.
Còn anh, tôi vẫn thấy, sau cơn vui say, lại về ngồi trong dáng hình đứa bé già nua năm mười bốn tuổi, lên ngọn liễu ngồi chơi trăng.
Huế, 20/1/2019
Đ.H
(SHSDB32/03-2019)

Tải mã QRCode
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.
Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.
PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.
ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.
NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".
HOÀNG KIM DUNG (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)
PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...
Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.
ANH DŨNGLTS: Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.
SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.
NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?
MINH QUANG Trời tròn lưng bánh tét Đất vuông lòng bánh chưng Dân nghèo thương ngày Tết Gói đất trời rưng rưng...
NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.
Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.
NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.
ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.
HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.
FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.
KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.