Bàn về “Tính duy lý” của văn xuôi và “Tính phi lý” của thơ

09:20 03/06/2008
Ông Eđuar Điujacđen là một nhà thơ có tài và có thể nói là được hâm mộ trong số các nhà thơ thuộc thế hệ già - người vẫn giữ được tình cảm và sự khâm phục cuồng nhiệt của lớp trẻ, đã mở đầu một cuộc thảo luận về thơ.

Cuộc thảo luận ấy đang tiếp diễn. Và cuối cùng qua cuộc thảo luận ấy, một loạt các “luận văn” đã được tập họp - đó là những bài báo có mục đích tập trung lý giải giới hạn và đặc thù của thơ ca hiện đại. Cuộc thảo luận ấy đã nêu bật lên được khá nhiều vấn đề quan trọng về mối tương thuộc giữa nghệ thuật và đời sống. Và chúng ta cũng nhân cơ hội này cùng nhau hãy “chui vào” “khu vườn thơ ca” - một khu vườn hoa lệ nhất, nơi con người chú tâm vun trồng nhiều hơn bất cứ nơi nào. Cuộc thảo luận do ông Eđuar Điujacđen khơi ra, đã nêu lên được một vấn đề cốt tử của thơ: về số phận của trí tưởng tượng, về tính chủ thể, những vấn đề vốn dễ chấp nhận trong thơ hơn trong các lĩnh vực khác.
Nhưng trong cuộc thảo luận đó không phải mọi vấn đề nêu lên hẳn đã làm chúng ta quan tâm và thú vị như nhau. Cái mà chúng ta quan tâm chủ yếu là đi tới được một định nghĩa khúc chiết nhằm đưa đến một quan niệm độc đáo về nghệ thuật thơ ca - một phạm vi vốn thu hút và là cơ sở của nhiều ý kiến khác nhau trong cuộc thảo luận. Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, Bremôn đã đưa ra một định nghĩa, một lý thuyết về thơ, đăng có thể chấp nhận được và thực tế đã được nhiều nhà văn tán thành, ủng hộ. Lý thuyết đó cố gắng chỉ ra giới hạn sâu xa và bền vững của thơ ca, hay nói đúng hơn và chính xác hơn là đã đào một “hố ngăn cách tuyệt đối” giữa thơ và văn xuôi. Nếu ta đồng ý với lý thuyết mới mẻ này thì sẽ đi tới một quan niệm cho rằng sự giống nhau bất kỳ nào giữa hai thể loại đều loại trừ lẫn nhau quyết liệt, thơ và văn xuôi do đó không hề giống nhau, không chỉ là về hình thức mà còn về nội dung, không chỉ về những dấu hiệu bề ngoài mà cả về bản chất của mình. Vì thế mà từ nay về sau, theo lý thuyết của Bremôn - Khi “giáo huấn” “thuyết phục” chúng ta, văn xuôi cần phải tự giới hạn mình trong những cách thể hiện “hợp lý” các tư tưởng; còn thơ thì cần để dùng trong trường hợp đặc biệt hơn, vì nó không thể hiện tư tưởng một cách “hợp lý” được. Đối tượng của thơ cần phải là cái không thể diễn tả được.
Chúng ta khó có thể đồng ý với định nghĩa trên, vì nó có tính áp đặt, võ đoán, tùy tiện, giả tạo và nguy hiểm nữa. Sự phân định ấy rõ ràng dựa trên một nguyên tắc chưa thỏa đáng, thiếu căn cứ khoa học, không thuyết phục. Vì thế nhiệm vụ của chúng tôi là chỉ ra dấu hiệu chung nhất phân biệt thơ và văn xuôi. Sự phân định trên như đã nói, không thừa nhận trong văn xuôi quyền tồn tại của “mộng mơ” và “tưởng tượng”. Sự phân định trên đã làm cho thơ không hòa vào được với âm nhạc và dẫn nó đến sự tuyệt giao tận cùng với văn học.
Một thực tế hiển nhiên là: Thơ là một nghệ thuật - một nghệ thuật “thẩm” nhạc rất sâu sắc. Hình thức của thơ vốn được phú cho rất nhiều cách thức khác nhau bằng ngôn từ để thể hiện nhịp điệu chính của mình, và luôn được bồi đắp thêm các cách thức ấy, và do đó nó không thể thiếu được các yếu tố màu nhiệm mà âm nhạc vốn có. Song từ đó hoàn toàn không thể rút ra kết luận rằng, thơ nói chung và những bài thơ câu thơ cụ thể chỉ còn lại duy nhất là ngôn từ - cái cần để tạo nên một nghệ thuật âm thanh thuần túy. Vì vậy, trong thực chất của mình, thơ là một nghệ thuật ngôn từ - nó là phương tiện, là “tai nhạc” để hướng tới trí tuệ của chúng ta. Mục đích của thơ, do đó cũng như mục đích của các thể loại khác, chính là ở chỗ miêu tảgiải thích.
Không có một nghệ thuật nào có sức mạnh mà lại thiếu lý trí, trí tuệ được. Trí tuệ, lý trí đó là khả năng sáng tạo chủ yếu của tinh thần con người. Và phải nhấn mạnh rằng trí tuệ cũng ảnh hưởng đến âm nhạc thuần túy, dĩ nhiên một cách kín đáo và sâu sắc hơn ở các loại hình nghệ thuật khác.
Một tác phẩm âm nhạc như một “hòa âm” đưa chúng ta vào một thế giới cao cả của những lay động mạnh mẽ về tinh thần tâm hồn; nó tác động trực tiếp và lập tức đến tình cảm chúng ta, nó khơi gợi những tiềm năng sâu kín nhất trong bản thể chúng ta. Quá trình tác động ấy vừa phải được nhìn nhận dựa trên những cơ sở khoa học, vừa trên một quy tắc gọi là quy luật của sự hài hòa. Âm nhạc, có thể nói vẫn tùy thuộc quy luật lôgích cơ bản. Những cuộc thí nghiệm có tính chất “vị lai” trong âm nhạc, thực chất đã tước bỏ, phá hủy cơ sở trí tuệ, lý trí của âm nhạc, do đó tất yếu đưa âm nhạc đến trở thành những “tạp âm vô nghĩa”.
Khi chỉ dựa vào những định nghĩa có tính chất tùy tiện, và bằng phương tiện ấy, người ta sẽ dễ đi đến kết luận rằng cần từ bỏ lý trí, trí tuệ trong thơ, thì cũng có nghĩa là họ đã dẫn thơ đến cái chết một cách nhanh nhất. Bởi vì đối với việc sáng tạo thơ ca - một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ - thì chỉ có một nhịp điệu thôi chưa đủ. Nhịp điệu chỉ có giá trị và đầy đủ thường trong lĩnh vực âm nhạc thuần túy, trong sáng tác một bài hát hoặc một bản giao hưởng. Tác phẩm thơ ca dù là truyền miệng hay viết không thể bộc lộ, thể hiện đầy đủ nếu tự giam mình vào trong phạm vi chật hẹp của sự hài hòa nhịp điệu. Tôi xin nói lại: âm nhạc thuần túy vẫn cần lý trí, trí tuệ huống hồ gì thơ ca? Tước đoạt lý trí của thơ là tước đoạt “nền móng” “rường cột” của nó.
Một bài thơ được viết ra là cả một sự lựa chọn ngôn từ, và nó có giá trị khi trong bài thơ ấy, nối liền các câu chữ, xâu chuỗi chúng lại là một ý tưởng nào đó, một liên tưởng nào đó hình thành trong ánh sáng của trí tuệ tại một thời khắc “ngời sáng”. Một bài thơ thiếu sức mạnh trí tuệ thì hiển nhiên sẽ là “phi tư tưởng” và “vô vị”.
Xa rời, đoạn tuyệt với quy luật của trí tuệ, lý trí là không thể được đối với sáng tạo nghệ thuật. Chỉ có trí tuệ mới cho chúng ta khả năng để tạo nên tất cả giá trị tác phẩm - cái vốn không thể thiếu được trong một lĩnh vực không là thật cụ thể và cũng không là thật trừu tượng. Trí tuệ là sức mạnh tổ chức, là chất hữu cơ của sự sống tác phẩm. Và bất cứ một mưu toan nào hạ thấp vai trò trí tuệ cũng nhằm hạ thấp vai trò của nghệ thuật.
Để có khả năng thức tỉnh, lay động tình cảm, tâm hồn con người, thì mỗi tác phẩm thơ ca, dù lớn dù nhỏ, cũng phải có đủ các phẩm chất: tính cân đối, tính nhất quáncó cấu trúc nội tại hợp lý. Tất cả sự đồng bộ ấy tùy thuộc trước tiên vào trí tuệ. Những tình cảm hưng phấn, những xúc cảm trần trụi, trí tưởng tượng tuyệt vời, tình yêu mênh mông - tất cả những cái ấy là sức mạnh tung phá, lay tỉnh của thơ, nhưng nó không phải là “rường cột” của thơ. Mà thơ thì cần phải có “rường cột”.
Thực ra thì trên đây, chúng tôi cũng chỉ mới đề cập đến một khúc đoạn của những trận tấn công vào trí tuệ trong nghệ thuật của những kẻ bảo thủ, phản động phất lên trong các lĩnh vực đời sống tinh thần.
“Hội các nhà truyền thống chủ nghĩa”, “những kẻ bảo vệ lý thuyết” “nghệ thuật vị nghệ thuật”, các vị “linh mục trong văn học” những kẻ tự do chủ nghĩa chính hiệu... đều đã và đang sẽ tự nguyện gia nhập cái “công ty” kỳ cục, cố gắng thuyết phục mọi người tin vào cái lôgích: “Thơ ca chỉ có thể sáng tạo được trong phạm vi cái thế giới trừu tượng, phi lý và “cóc cần đến trí tuệ”. Và cái “công ty” ấy ít nhiều rõ ràng đều phản động về mặt xã hội, tinh thần.
Bởi vì để bảo lưu những “truyền thống cũ” nhất thiết người ta phải củng cố nó, lý tưởng hóa nó, thần thánh hóa nó. Trong mỗi lĩnh vực hoạt động của con người - trong đó văn học nghệ thuật là một - thường đan chéo nhiều truyền thống. Nếu không tỉnh táo sẽ ngộ nhận và rơi vào giả tạo khi sử dụng truyền thống. Quá trình tiến lên của trí tuệ loài người, sự phát triển của ý thức dẫn đến sự giải phóng tinh thần nói chung - và nó là trận tấn công vào những mưu toan có tính chất phản động trong lĩnh vực đời sống tinh thần.
Các cố đạo từ thời xa xưa đã dạy con người: lý trí và lôgích là công cụ của quỷ Xa - tăng (?!). Còn các cố đạo bây giờ thì lại cố gắng đi theo con đường của “linh mục Bremôn” - nghĩa là ra sức truyền bá điều răn trên cả trong nghệ thuật! Họ thường than phiền rằng thơ hiện đại thường hướng tới những chuyện ba hoa, rỗng tuếch, toàn những chuyện bỡn cợt không đứng đắn, hoặc thuần túy là trò chơi chữ. Ai tuân theo điều đó ngoài những môn đệ của họ? Ai ngoài những người mưu toan biến thơ ca thành tiếng kêu tuyệt vọng?
Cũng tương tự như trong lĩnh vực tôn giáo vậy, các phương pháp của khoa học tự nhiên nhằm cố gắng giải thích thế giới và mở rộng trí thức của loài người đều bị xếp xó. Và thay thế vào đó là các khái niệm mà chúng ta gọi là “trừu tượng”. Tôn giáo không giải thích lô - gích và trí tuệ, mà đề cao “tâm linh”. Cả hai trường hợp mà chúng tôi nêu trên đều xuất phát từ khuynh hướng cổ súy cái “trừu tượng” “phi lý” và chống lại tính tích cực cách mạng của tinh thần con người. Nghĩa vụ của chúng ta, nghĩa vụ của mọi người chân chính là phải trở thành một chiến sĩ đấu tranh kiên trì, triệt để trong mọi hoàn cảnh. Nhiệm vụ của chúng ta là chỗ, chúng ta chỉ có một chỗ dựa duy nhất là những học thuyết khoa học, thực tế để chống lại tất cả những lý thuyết đề cao cái gọi là “phi lý trí” - đó là mưu toan cố ngăn cản nhân loại  tiến tới những mục đích chân chính của nó. Chúng ta không công nhận sự thoát ly của tư tưởng khỏi hiện thực, lý thuyết khỏi đời sống. Trí tuệ mà chúng ta bảo vệ không phải là một khái niệm trừu tượng và rỗng tuếch. Nó là một khái niệm tràn đầy sức sống, sinh động. Thiên tài của chủ nghĩa Mác chính là ở chỗ nó biết giữ gìn toàn bộ trí tuệ của mình trong một thực tế hiển nhiên. Có thể nhìn thấy rõ sự ra đời một nền nghệ thuật mới trong xã hội chúng ta và những điều kiện mới của đời sống xã hội. Đó là một nền nghệ thuật tràn đầy nhiệt tình chống lại thói ba hoa rỗng tuếch, sặc mùi cá nhân chủ nghĩa. Nó sẽ là một nền nghệ thuật tái hiện được tinh thần vô tận và hùng hậu của nhân dân. Nó sẽ trở nên sâu sắc bằng sự cảm nhận chính xác hiện thực và sự khâm phục, đề cao trí tuệ.
(Bài đăng trên báo “Nhân đạo” ngày 30-6-1926)
BÙI VIÊT THẮNG dịch (Qua bản tiếng Nga của I.Xtêphanốp trên tạp chí “Văn học nước ngoài” số 5, 1973)

HENRI BACBUYTX
(nguồn: TCSH số 153 - 11 - 2001)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN ĐÌNH CHÍNHThực trạng của phê bình nghệ thuật hiện nay đang là một câu hỏi cần phải được trả lời.

  • THỦY THANHCuộc thi thơ dành cho người tàn tật ở Thừa Thiên Huế mặc dù "thời gian ứng thí" chưa đầy 2 tháng nhưng đã thu được kết quả đáng khích lệ. Với 33 tác phẩm của 7 tác giả nghiệp dư mang khuyết tật trên mình nhưng mỗi con người trong họ vẫn là "một thế giới một tâm hồn" lành lặn.

  • HOÀNG TẤT THẮNGMột trong những đặc điểm đặc thù của tiếng Việt là: các danh từ chỉ sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất... không phải luôn chỉ đứng một mình mà thường kết hợp với một từ đứng trước với chức năng phân loại, chỉ đơn vị, biểu thái... trong lời nói. Chẳng hạn, sự vật thuyền trong tiếng Việt không phải chỉ có từ "thuyền" mà còn có "cái thuyền", "chiếc thuyền", "con thuyền", "lá thuyền", "mảnh thuyền"... các từ "cái - chiếc - con - lá - mảnh..." thường gọi là từ chỉ loại (hay là loại từ).

  • NGUYỄN THANH HÙNGVăn học thời đại nào cũng là sự du di cái nhìn thấm sâu vào đời sống. Thơ văn nói tới cái thật xa, rồi lại trở về với cái thật gần. Muốn đi xa, hành trang thơ phải gọn nhẹ, nhẹ chữ nhưng nặng lòng. Thơ Thiền là vậy. Mỗi câu thơ như một mũi tên bay vào tưởng tượng. Giữa những dòng thơ Thiền là một cõi chân như, vượt ra ngoài định giới môi trường xã hội quen thuộc, vì thế thơ Thiền thênh thang hướng đạo nhằm mục đích cứu sinh, đưa con người trở về với chính nó.

  • LÊ ĐẠT                Đường bụi trang lịch cũ                 ếp ếp đàn thời gian                                           L.Đ

  • HOÀNG NGỌC HIẾN             (góp phần định nghĩa minh triết)Tôi bắt đầu tiểu luận này bằng những suy nghĩ có liên quan đến chủ đề minh triết của hai học giả Việt Nam: Ngô Thời Sĩ (1740-1786) và Kim Định (1914- 1997).

  • VÕ VĨNH KHUYẾNBa mươi năm, sau khi Bác qua đời (1969 - 1999) có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều chuyên luận và khá nhiều bài viết trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước về thơ, văn của Bác. Quy mô và mức độ có khác nhau. Tuy vậy, vẫn có chỗ chưa được khảo sát một cách đầy đủ, chưa được đầu tư nghiên cứu một cách thỏa đáng. Trong phạm vi, khả năng cá nhân và nội hàm vấn đề, chúng tôi mạnh dạn trình bày một số suy nghĩ về thơ Bác viết cho thiếu nhi.

  • NGÔ TỰ LẬP(Tiếp theo TCSH số 127/9-99)

  • NGÔ TỰ LẬP1.Platon nói rằng không thể có sự bình đẳng của những kẻ vốn không bình đẳng về mặt năng lực tự nhiên. Đó là xã hội người, nhưng chúng ta cũng có thể nói tương tự như vậy về xã hội từ ngữ.

  • ĐÀO DUY HIỆP    “Hội làng mở giữa mùa thu     Giời cao gió cả giăng như ban ngày”                                            (Nguyễn Bính)

  • YURI BONDAREVTên tuổi của nhà văn Nga Yuri Bônđarép rất gần gũi với bạn đọc Việt Nam qua những tác phẩm nỗi tiếng của ông đã được dịch ở ta vào thập kỷ 80 như: "Các tiểu đoàn xin chi viện", "Tuyết bỏng", "Bến bờ", "Lựa chọn", "Trò chơi"... Là một trong những nhà văn Xô Viết hàng đầu miêu tả hùng hồn và chân thực chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh chống phát xít Đức 1941- 1945, Bônđarép đã được phong Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa, được tặng giải thưởng Lênin, các giải thưởng Quốc gia, giải thưởng Lép Tônxtôi và M.Sôlôkhốp, giải thưởng toàn Nga "Xtalingrát"...

  • TRẦN ĐÌNH SỬVăn học Trung Quốc trong cơ chế thị trường đã có những biến đổi khá lớn. Theo các tác giả của sách Văn học Trung Quốc thế kỷ XX xuất bản tại Quảng Châu năm 1988 có thể nắm được một đôi nét diện mạo, chứng tỏ văn học Trung Quốc không còn có thể tồn tại theo phương thức cũ. Cơ chế thị trường đã làm cho nhà văn và nhà phê bình phải suy tính lại về sách lược sinh tồn và phương hướng phát triển nghề nghiệp.

  • ĐOÀN TUẤNThạch Lam qua đời cách đây đã hơn nửa thế kỉ. Ông để lại cho chúng ta một khối lượng tác phẩm không lớn nhưng chúng đã trở thành một mẫu số vĩnh hằng trong văn học Việt Nam. Tiếc rằng chúng ta đã không thể lưu giữ một bức chân dung nào của Thạch Lam. Thậm chí mộ ông được chôn cất nơi nào, cũng không ai biết.

  • NHẬT CHUNG       (Đọc bài thơ XÓM LỤT của anh Phạm Xuân Phụng)Anh Phụng là bác sĩ ở Bệnh viện Trung ương Huế. Tôi tìm hết trong tuyển tập HAI THẬP KỶ THƠ HUẾ, chỉ duy nhất bài thơ này viết về cảnh lụt lội hàng năm vẫn xảy ra ở mảnh đất nghèo khó. Trong những ngày đau buồn, khi nước vừa rút, trắng bợt trước mắt tôi những bài thơ tình èo uột nỉ non ẻo lả, và đứng dậy trước mắt tôi một bài thơ XÓM LỤT.

  • PHONG  LÊBến không chồng - Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 đưa nhanh Dương Hướng lên một vị trí cao trong thành tựu văn học Đổi mới. Không thuộc đội ngũ “tiền trạm” xuất hiện từ đầu những năm 80 như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Mạnh Tuấn (sinh năm 1948) - người cùng thế hệ với anh (sinh 1949), đến tuổi 40 mới bắt đầu trình làng với tập truyện ngắn Gót son (1989), thế mà chỉ 2 năm sau, Dương Hướng bỗng trở thành một “tên tuổi” với Bến không chồng, góp mặt cùng Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh làm nên một bộ ba sáng giá trong văn học mở đầu thập niên 90, năm năm sau khởi động của công cuộc Đổi mới.

  • HÀ QUANG MINHLTS: Liệu có phải văn hóa chỉ đơn thuần là văn hóa hay nói cách khác là chỉ chứa đựng các yếu tố văn hóa không? Câu trả lời chắc chắn là không. Văn hóa mang cả trong nó tính chính trị và kinh tế. Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ nhắc tới tính kinh tế trong văn hóa mà thôi nhưng hy vọng nó sẽ đóng góp nhiều cho công cuộc xây dựng một xã hội văn minh hơn, công bằng hơn.

  • ĐỖ LAI THÚYVề Kinh Bắc với những hội hè, chùa chiền, với đồng chiều cuống rạ, dây bìm bìm, bí lông tơ, giun đất, con gà trụi, châu chấu.. làm người đọc nhớ đến dòng thơ viết về nông thôn, nhất là thơ Nguyễn Bính. “ Trong các nhà thơ cùng thời viết về nông thôn như Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ... có lẽ chỉ có Nguyễn Bính là nhận thức sâu sắc được sự thay đổi của thôn quê trước “ cuộc xâm lăng” của đô thị.

  • TRẦN VĂN TOÀN - NGUYỄN XUÂN DIÊN1. Ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ Mới là một vấn đề từ lâu đã được đề cập tới. Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh- Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam mặc dù giành nhiều trang để miêu tả ảnh hưởng của thơ Pháp (đặc biệt là trường phái Tượng trưng) nhưng các ông đã trân trọng và có một chút hứng thú đặc biệt về ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ Mới (điều này được bộc lộ qua công phu miêu tả, khảo cứu và cụ thể hơn từ chính số lượng trang viết). Khi phân chia các dòng mạch Thơ Mới, Hoài Thanh- Hoài Chân nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng mạch mang tính cách Việt, đồng thời cũng nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng từ Đường thi.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN…Trong thời kỳ đổi mới xuất hiện nhiều tác phẩm cảm hứng phê phán rất mạnh. Có những quan điểm và giọng điệu phê phán rất khác nhau: xót xa và lo thương, căm uất và hằn học, tỉnh táo và điềm đạm... Cảm hứng phê phán mang tinh thần hài hước khoan hòa sẽ tạo một vị trí đặc biệt cho Nguyễn Việt Hà trong văn xuôi Việt Nam đương đại…

  • ALEXANDER GENISTrên thị trường Mỹ đã xuất hiện những cuốn sách điện tử đầu tiên. “Softbook” - một đĩa điện tử có màn hình bọc da. Sức chứa - 100 000 trang, trọng lượng - 15 kg, giá cả - 300 đôla cộng 10 đôla kết nối mỗi tháng. “Paketbook” giá 500 đôla, nhưng đi kèm với nó phải có máy tính cá nhân. “Dedicate Reader” - một sổ tay điện tử. Nó giống như một cuốn sách thực sự, có một màn hình kép chứa các bản vẽ, bản đồ, sơ đồ, bảng biểu. Giá là 1500 đôla. Như kinh nghiệm cho thấy, không ai thích đọc văn bản theo màn hình, vì thế tại viện nghiên cứu “Media-lab” người ta đang tìm cách chế tạo thứ “mực điện tử” - những cái bao hết sức nhỏ có thể tùy theo cường độ và hướng của dòng điện sắp xếp lại với nhau để tạo thành văn bản. Theo cách đó, gần như loại sách bằng giấy thông thường có thể được in lại - thay một nội dung này bằng một nội dung khác. Tờ “New York Times” viết: “Ngay giờ đây đã thấy rõ sách điện tử là điều tất yếu. Nếu như không phải là sự thay thế sách in, thì cũng là sự luân phiên nó”. (Theo báo chí)