Bàn thêm về bài chòi

08:57 09/02/2018

PHÙNG TẤN ĐÔNG  

1. Bộ bài chòi - một sản phẩm của giao lưu văn hóa

Chơi Bài chòi liên quan đến một trò chơi thẻ bài trong chòi tre vào Tết Nguyên đán. (Ảnh minh họa: TTXVN)

Bộ bài chòi từ trước đến nay là bộ bài lá vốn được người chơi dùng để chơi bài Tới. Bài Tới - theo định nghĩa của học giả Huỳnh Tịnh Paulus Của trong sách Đại Nam Quốc âm tự vị (1896) là “thứ bài bắt cặp, ai bắt được đủ cặp trước thì gọi là “tới”, nghĩa là đến trước, rồi cũng được ăn tiền”(1). Lâu nay các nhà nghiên cứu đã cất công đi tìm nguồn gốc của bộ bài Tới. Dựa vào việc in ấn theo kỹ thuật in mộc bản bộ bài ở làng Sình (làng Lại Ân, Huế) và các hộ người Hoa ở vùng Gia Hội, gần chợ Đông Ba vào dịp trước Tết - nhà nghiên cứu Huỳnh Hữu Ủy cho rằng “Nếu bài chòi là một thú chơi hoàn toàn Việt Nam, do người Việt tự nghĩ ra, không vay mượn của nước nào thì bài Tới cũng thế, rất Việt Nam, cả hình thức cũng như nội dung. Ở miệt Huế và Quảng Nam, trong dân gian có bài vè “Nghe vẻ nghe ve - nghe về bài Tới - cơm chưa kịp xới - trầu chưa kịp têm - tôi đánh một đêm - thua ba tiền rưỡi - về nhà chồng chửi - thằng Móc thằng Quăn - đánh sao không ăn… mà thua lắm bấy…”(2) Nhà thơ, nhà nghiên cứu Quách Tấn (quê Bình Định) cho rằng bài chòi ở làng ông “người ta dùng bộ bài tam cúc 27 cặp, đem mỗi lá bài dán vào một thẻ tre. Bộ bài chia ra làm đôi: một nửa bỏ vào ống do người hô (hiệu) giữ, một nửa đem phân phối cho các chòi mỗi chòi ba lá…”(3). Nhà văn, nhà nghiên cứu Võ Phiến thì lại cho rằng: “Bộ bài tam cúc dùng đánh bài chòi không phải là bộ tam cúc 32 lá thông dụng. Giữa đôi bên chỉ giống nhau có cái tên gọi mà thôi. Thứ bài tam cúc 32 lá vẫn lưu hành từ Nam tới Bắc thuộc hệ thống bài tứ sắc. Nó gồm những xe, pháo, mã, tướng, sĩ, tượng v.v, nó hình dung hai lực lượng tham chiến đối đầu nhau, như trên ván cờ tướng. Còn bộ bài chòi gồm ba pho: văn, vạn, sách (ở đây lại có sự trùng tên với tài bàn, tổ tôm nữa. Nhưng rồi ta sẽ thấy cũng chỉ trùng nhau ở ba tên gọi ấy thôi). Pho văn có 9 cặp: Chín gối, Nhì bánh, Ba bụng, Tứ tượng, Ngũ rún, Sáu miểng, Bảy liễu, Tám miểng, Chín gan. Pho vạn có 9 cặp: Nhất trò, Nhì bí, Tam quăn, Tứ ghế, Ngũ trợt, Lục chạng, Thất vung, Bát bồng, Cửu chùa. Pho sách cũng có 9 cặp: Nhất nọc, Nhì nghèo, Ba gà, Tứ xách, Ngũ dụm, Sáu bường, Bảy sưa, Tám dây, Cửu điều. Ngoài ba pho (9x3 = 27 cặp) còn có 3 cặp yêu (quái): một cặp Ông ầm, một cặp Thế tử, một cặp Bạch huê”(4).

So sánh Pho Văn


Như vậy về tên gọi, cách chơi bài rõ ràng là cách gọi, cách chơi của người bình dân Việt Nam nhưng người sáng tạo ra các quân bài là ai và nguyên lai bộ bài là từ đâu thì câu hỏi vẫn còn bỏ ngõ. Các nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc có khảo về cách gọi các pho của bài Tới có liên quan đến loại bài giấy thời cổ của Trung Quốc gọi là Diệp tử: “Diệp tử tương truyền xuất hiện từ thời Đường, thịnh hành vào thời Minh, Thanh. Diệp tử có hai loại, một in theo điểm số của bài xương in ra, ở giữa in một số hình tượng nhân vật trong hí khúc hoặc Thủy Hử (đây là thứ bài phiên bản của bài xương, nhưng nhờ đổi từ xương sang giấy nên phổ biến rộng rãi hơn bài xương vì dễ chế tác, giá thành thấp), hai là loại bài Mã điếu diệp tử, làm bằng giấy, rộng một tấc, dài ba tấc dùng nhiều lớp giấy bồi rồi in lên. Loại bài này có 40 lá, dựa vào hình họa chia làm bốn môn/pho như sau: 1/ Thập tự (chữ Thập) có 11 lá, trên mỗi hình có vẽ những nhân vật trong Thủy Hử: Tống Giang (lá Tôn Vạn Vạn quan), Võ Tòng (lá Thiên Vạn) Nguyễn Tiểu Ngũ (lá Bách Vạn), Nguyễn Tiểu Thất (lá Cửu Thập) Chu Đồng (Bát Thập)… Hồ Tam Nương (Nhị Thập); 2/Vạn tự (chữ Vạn) có 9 lá, trên mỗi lá cũng vẽ hình các nhân vật trong Thủy Hử: Lôi Hoành (lá Tôn cửu Vạn quan), Sách Siêu (Bát Vạn), Tần Minh (Thất Vạn), Sử Tiến (Lục Vạn), Lý Tuấn (Ngũ Vạn), Sài Tiến (Tứ Vạn), Quan Thắng (Tam Vạn), Hoa Vinh (Nhị Vạn), Yến Thanh (Nhất Vạn); 3/Sách tự (chữ Sách) có 9 lá, trên mỗi lá vẽ quan tiền: lá Tôn Cửu sách (vẽ 4 chồng, mỗi chồng 2 quan, một quan nằm riêng), lá Bát sách (vẽ 4 chồng, mỗi chồng 2 quan), lá Thất sách (vẽ 3 chồng mỗi chồng 2 quan, một quan nằm riêng), lá Lục sách (vẽ giống hai cây cầu, trên bộ dưới nước), lá Ngũ sách (hình như quẻ Cấn), lá Tứ sách (hình như 2 vòng ngọc), lá Tam sách (hình như chữ “phẩm”), lá Nhị sách (hình như quẻ Chấn), lá Nhất sách (hình như cái chĩa); 4/Văn tiền có 11 lá, phía trên vẽ các loại đồ hình: lá Tôn không một văn (vẽ hình “Ba tư tiến bảo”), lá Bán văn (hình hoa quả), lá Nhất tiền (hình như thái cực), lá Nhị tiền (hình trống “yêu cổ”), lá Tam tiền (hình quẻ Càn), lá Tứ tiền (vẽ hình như vòng móc vào nhau), lá Ngũ tiền (vẽ hình Ngũ Nhạc - 5 ngọn núi lớn), lá Lục tiền (vẽ hình như quẻ Khôn), lá Thất tiền (vẽ hình như chòm sao Bắc Đẩu), lá Bát tiền (vẽ hình “Ngọc Côi”), lá Cửu tiền (vẽ hình ba ngọn núi chồng lên nhau). Bài Mã Điếu lưu hành từ niên hiệu Vạn Lịch đời Minh, đến đời nhà Thanh đổi thành bài Mặc Hòa, chỉ còn lại ba môn: Vạn tự, Sách tự và Văn tiền. Cách đánh bài: 4 người một sòng, mỗi người rút 10 lá bài, tổ hợp ba, bốn lá cùng pho làm một bộ (hiểu là ghép từ 3 lá trở lên của các con bài cùng một pho, giống như “phu dọc” trong chơi tổ tôm; hoặc giống như “sảnh” trong chơi xập xám hay phé/bài tây), hoặc tổ hợp giống như “phu bí” trong chơi tổ tôm, tức ghép ba lá cùng số (nhất, nhị,… cửu) thuộc cả ba pho. Người tổ hợp đủ ba bộ/phu là thắng”(5).

So sánh Pho Sách


Các bộ bài tiền thẻ rất đa dạng gồm có Thủy Hử bài, Tiền Thẻ Bài, Thiên Tân nhạc vui, Tào Châu Bài, Dương Gia Tướng Bài… đều lấy các ký hiệu mệnh giá tiền tệ (tiền xu, dây chuỗi tiền xu, và 10 ngàn (Vạn)) với nhiều cách chơi khác nhau. Nhìn chung bộ bài Thẻ tiền gắn với triết lý đời sống xã hội Trung Hoa khi người Hoa quan niệm số 10 là toàn số và vì thế nó không phải là số, số chỉ có từ 1 đến 9. Nhưng muốn 9 số có thể có ý nghĩa và thống nhất với nhau thì phải có thêm một quân đặc biệt để làm cho số từ 1 đến 9 trở nên toàn vẹn đó là quân Yêu hoặc quân Quái. Hàng Văn là tiền xu lẻ, có mệnh giá thấp (quân 1 vẽ biểu tượng vòng tròn âm dương - chỉ sự tuần hoàn hằng thường mãi mãi theo nguyên lý âm - dương; quân Quái - giá trị cao nhất gọi là Hoa Đỏ vẽ hình bông hoa và một cậu bé, được đóng hai dấu đỏ - chỉ rõ mức độ sở hữu và chi tiêu tiền bạc vì trẻ con chưa làm ra tiền và chỉ chi tiêu tiền lẻ. Hàng Sách là dây, chuỗi tiền mệnh giá hàng trăm, vẽ dây và nút thắt, hình chim sẻ gợi ý tả sự sung mãn của nghề nông. Quân Quái trong hàng Sách, mệnh giá cao nhất được biểu thị bằng một bông hoa trắng và 3 ngọn núi nổi lên từ sóng. Hàng Vạn là hàng có mệnh giá cao - biểu thị bằng các doanh nhân, hình đàn ông, tầng lớp giàu. Quân Quái hiểu như ông Trùm hay ông Tổ. Như vậy hàng Văn để chỉ tầng lớp lao động. Hàng Sách chỉ tầng lớp trung lưu và hàng Vạn là tầng lớp trên trong xã hội nam quyền.

So sánh Pho Vạn


Bộ bài tiền thẻ của Trung Hoa có dấu tích rõ nét ở nước ta là ở bộ bài Tới, bài Chòi hiện nay. Nhà nghiên cứu Trần Gia Anh đã so sánh từng pho trong hai bộ bài để tìm thấy những nét tương đồng (xem hình 1, 2, 3).

“Pho Văn của bộ bài Tới: Chín Gối, Bánh Hai, Bánh Ba, Tứ Tượng (Dái Voi), Ngũ Rún (Ngũ Ruột), Sáu Tiền (Sáu Miểng), Bảy Liễu, Tám Tiền (Tám Miểng), Cửu Xe và quân Yêu (Quái) là Thái Tử.

Quân 1 Văn của bài thẻ tiền vẽ hình Âm Dương và vòng tròn tuần hoàn. Quân Gối ở bài Tới vẽ chín vòng tròn nhỏ nhỏ và vòng tuần hoàn. Như vậy, hình minh họa của hai bộ bài tuy có chi tiết khác nhau nhưng vẫn cùng một ý nghĩa triết lý - Trời định, mọi sự vận động tuần hoàn theo quy luật Âm Dương. Ở bài Tới dùng 9 vòng tròn nhỏ để đại diện cho Trời (người xưa coi số 9 đại diện cho Trời, Vua, Hoàng Đế). Ý nói - sự vận động đồng tiền khởi từ 1 xu là do trời định. Các quân khác từ 2 - 9 giống nhau hoàn toàn về bố cục, chỉ khác đôi chút đường hoa văn. So hai quân Quái (Yêu) là Hoa Đỏ và Thái Tử (có dấu đỏ) đều phản ánh con trai. Hình họa cơ bản giống (chúng ta lưu ý quân Quái Chi Chi (có dấu đỏ) trong hàng Văn của bài Tổ Tôm cũng phản ánh con trai). Pho Sách trong bộ bài Tới: Nọc Đượng (Thược), Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Dóng, Ngũ Dụm (Ngũ Dày), Sáu Hột (Sáu Bường), Bảy Sưa, Tám Dây, Cửu Mỏ (Đỏ Mỏ) và quân Quái (Yêu) Bạch Tuyết (Bạch Huê). Pho Sách trong bộ bài Tới về cơ bản giống pho Sách trong bài Thẻ tiền về hình họa, bố cục, chỉ khác quân 9 ở bộ bài Tới thì không có dấu đỏ. Hai quân Quái là Hoa Trắng và Bạch Tuyết cũng tương đồng phản ánh màu trắng về phụ nữ (chúng ta lưu ý quân Thang Thang thuộc pho Sách trong bài Tổ Tôm cũng phản ánh người phụ nữ). Pho Vạn trong bộ bài Tới: Nhứt Trò (Học Trò), Nhì Đấu (Nhì Bí), Tam Quăng, Tứ Dóng (Tứ Cẳng, Hương), Ngũ Trợt (Ngủ), Lục Xơ (Lục Chạng/Trạng; Lục Chuôm), Thất Dọn (Nhọn, Thất Vung), Bát Bồng, Cửu Thầy. Quân Quái: Ông Ầm. Các hình người đàn ông trong hai pho Vạn ở bộ bài Tới và bài Thẻ tiền có nét vẽ không mấy giống nhau nhưng cùng một bố cục, đặc biệt các chữ Hán trong mỗi quân bài thì vẫn không thay đổi. Quân Quái là ông Trùm hay Cố tổ trong bài Thẻ tiền thì ở bài Tới gọi là Ông Ầm. Cả hai quân đều đóng dấu đỏ. Điều này cho thấy hàng Vạn trong hai bộ bài là trùng khớp”
(6).

Như vậy bài lá Trung Hoa mà cụ thể là bộ bài tiền Thẻ có xuất xứ từ Quảng Đông vào miền Trung Việt Nam qua một quá trình biến đổi, phân hóa cách tạo hình, cách chơi (qua tiếp biến, giao lưu văn hóa Việt - Champa - Hoa - Nhật…), vì thế rất có thể là “tiền thân” của bộ bài Tới - bài Chòi và khi du nhập vào miền Bắc, bộ bài đã được chơi với 120 quân với lối chơi “Kán ú” (Khan hoo), dân gian gọi là Tụ Tam - Tổ Tôm.

Bài Tiền thẻ được cho là du nhập vào miền Trung nước ta khoảng giữa thế kỷ XVII về sau (1650 - 1700)(7) hay sớm hơn khi có thuyết cho rằng do ông Đào Duy Từ (1572 - 1634) từ Thanh Hóa mang vào(8).

2. Gìn vàng giữ ngọc cho hay…

Nghệ thuật bài chòi Trung Bộ Việt Nam vừa được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể của nhân loại ngày 7/12/2017 tại Phiên họp của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO diễn ra tại Jeju, Hàn Quốc. Bài Chòi được nhận diện là một loại hình nghệ thuật đa dạng kết hợp âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học.

Bài Chòi có hai hình thức thể hiện chính là trò chơi bài - “chơi bài Chòi” và “trình diễn bài chòi”. Chơi bài chòi liên quan đến trò chơi bài lá (bài Tới) bằng các quân bài thẻ trên chòi tre vào dịp Tết Nguyên Đán âm lịch. Trình diễn bài Chòi liên quan đến việc diễn xướng nghệ thuật trong việc hô hát tên các quân bài. Những người lưu giữ nghệ thuật bài chòi là những nghệ nhân dân gian hô hát - những anh hiệu, chị hiệu, những nghệ nhân khắc in, làm bộ bài tới, làm thẻ để dán quân bài, những nghệ nhân dựng và trang trí chòi, các nhạc công: trống chiến, nhị (đàn cò), nguyệt… và người chơi bài (cộng đồng xóm, làng, khối phố…). Theo Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản phi vật thể, hồ sơ đề cử di sản phi vật thể Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam đáp ứng những tiêu chí để đăng ký vào Danh sách di sản phi vật thể đại diện của nhân loại bởi: “Nghệ thuật Bài Chòi là một hoạt động văn hóa quan trọng trong cộng đồng làng xã, đáp ứng nhu cầu giải trí và thưởng thức nghệ thuật của cộng đồng. Các câu chuyện trong Bài Chòi - đúng hơn là nội dung hô câu thai (câu hô hát) - là những bài học đạo đức, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, sự gắn kết cộng đồng và những kinh nghiệm trong cuộc sống của người dân”. Hồ sơ đề cử đã chỉ ra được vai trò quan trọng của người lưu giữ di sản. Bài chòi là di sản của cộng đồng. Việc truyền dạy di sản thường diễn ra trước hết trong phạm vi gia đình, các nhóm sở thích, câu lạc bộ và cộng đồng làng xóm, khối phố. Bài Chòi cũng được truyền dạy trong nhà trường và việc thực hành nghệ thuật cũng thúc đẩy sự bình đẳng về giới tính cũng như sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cá nhân thực hành, giữa các cộng đồng…

Bài Chòi hấp dẫn người chơi/xem trước hết bởi tính trò chơi. Chơi đây là trò chơi bài bạc, cụ thể đây là một loại bài lá tên là bài Tới. Vì chơi bài nên tính khó đoán định các con bài khi con bài ở trong tay nhà cái hay các đối thủ cùng chơi vốn là thuộc tính của trò chơi. Riêng việc khó đoán định cũng đã kích thích người chơi bài niềm khoái cảm chờ đợi những gì sẽ tiếp tục diễn ra. Thú chơi bài Chòi - thông qua việc hô hát tên quân bài lại thêm một lần nữa tính trì hoãn - kéo dài thêm khoái cảm chờ đợi và một lần nữa người chơi vừa hưởng cái thú thưởng thức nghệ thuật của trò diễn thông qua việc văn học hóa, âm nhạc hóa tên các quân bài vừa “đồng sáng tạo” khi bị kích thích khả năng suy đoán con bài sẽ “ra” là con gì. Tính tương tác của trò diễn xướng bài chòi giữa người chơi và nhà cái - qua trung gian hay người đại diện là anh Hiệu - người hô hát - cùng với sự “đồng cảm” của cộng đồng khiến bài Chòi luôn thích ứng với đời sống bởi tính trò chơi - theo các nhà nghiên cứu văn hóa đương đại - là tính cốt lõi của văn hóa, văn nghệ. Phía khác, bài chòi là một loại hình nghệ thuật luôn mang tính hội hè vì luôn thoáng mở về nội dung hô hát và cách thức hô hát bởi mỗi lần “chơi” anh - chị hiệu hô hát đầy ngẫu hứng- tên quân bài được hô trong mỗi cuộc chơi mỗi khác nhau. Bài chòi luôn ca ngợi Chân, Thiện, Mỹ, phê phán cái Ác, cái xấu, cái lạc hậu là luôn đi tìm “sự thật biết cười” trong cuộc sống như nhà văn Umberto Eco nói về “tác phẩm mở” và đồng thời với văn bản văn học, nghệ thuật hô hát bài chòi cũng để ngõ khả năng dung nạp các làn điệu âm nhạc có chất liệu dân ca Nam Trung Bộ kể cả các ca khúc mới có chất liệu dân ca - nhất là các ca khúc của sân khấu ca kịch bài chòi

Bài Chòi được trao truyền trong phạm vi gia đình, trong các nhóm sở thích. Hiện nay, nhiều địa phương đã đưa nội dung tìm hiểu về nghệ thuật bài chòi vào nội dung giảng dạy phần đạo đức (Tiểu học), phần văn học dân gian địa phương (THCS, THPT) nhưng thiết thực nhất vẫn là đưa bài Chòi vào các lễ hội Tết, lễ lệ, lễ hội làng, xã và đưa bài Chòi trở thành một sản phẩm văn hóa trong hoạt động du lịch. Thiết nghĩ chính quyền các huyện, thị xã, thành phố các địa phương nên bố trí kinh phí hàng năm cho việc “giữ lửa” bài chòi thông qua việc mở lớp, các hội thi “tìm anh, chị hiệu bài Chòi tài năng” (như Hội An, Huế, Quy Nhơn… đã tổ chức từ nhiều năm nay).

Kho tàng văn nghệ dân gian miền Trung cũng thật phong phú với hàng ngàn đơn vị ca dao, hò, lý… đủ cho nghệ thuật bài Chòi vận dụng về mặt văn bản và cùng với các tác giả sáng tác lời hô mới trong dân gian, năng khiếu “bắt quờ”, ứng tác tại chỗ (kiến tại) của các anh, chị hiệu trẻ, nghệ thuật bài Chòi chắc chắn sẽ mãi thanh xuân, mỗi năm mỗi mới.

P.T.Đ  
(TCSH348/02-2018)


...................................................
(1) Huỳnh Tịnh Paulus Của - Đại Nam Quốc âm tự vị - Sài Gòn xb 1974, tr. 455.  
(2) Huỳnh Hữu Ủy - “Nghệ thuật dân gian và bộ bài Tới ở miền Trung Trung bộ” - Tạp chí Sông  Hương số 35 Tết kỷ Tỵ 1989 tr. 78-86.
(3) Quách Tấn - Nước Non Bình Định - Nam Cường xb, Sài Gòn 1967, tr. 444.  
(4) Võ Phiến - “Bài Chòi” - Tạp chí Tân Văn số 1/1968 tr. 2-18, Sài Gòn 1968.  
(5) http://tuoitre-vn/Van-hoa-Giai-tri/188402/Nguon-goc-Bai-choi-html  
(6) Trần Gia Anh - Việt Nam, Đặc sản Bài Lá - Nxb. Thanh Hóa, 2010, tr. 25-30.  
(7) Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc - bài đã dẫn.  
(8) Trần Gia Anh - sách đã dẫn - tr. 31.   




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN VĂN QUYẾNTrong quá trình đi điền dã thu thập tư liệu Hán Nôm ở huyện Phú Lộc Thừa Thiên Huế, chúng tôi đã được tiếp cận hai đạo sắc phong cho người có công trị thủy ở từ đường dòng họ Lê Kim, thôn Đông, làng Bàn Môn, xã Lộc An.

  • PHAN THANH HẢIDưới thời quân chủ, hầu như ở tất cả các nước phương Đông đều có tục tế giao. Tế giao tức là tổ chức nghi lễ cúng để con người có thể giao tiếp được với trời, đất và các bậc thần linh.

  • LÊ NGUYỄN LƯUI. QUAN NIỆM VỀ SỐNG CHẾT

  • HUỲNH ĐÌNH KẾT

    Di tích cảnh quan Huế là một bộ phận cấu thành diện mạo văn hoá Huế. Ngày nay, di tích cảnh quan được quan niệm là loại hình văn hoá vật thể (Tangible culture) trong hàm nghĩa phân biệt với văn hoá phi vật thể (Intangible culture). Dẫu sao cũng chỉ tương đối.

  • LIỄU THƯỢNG VĂNCố đô Huế, một trong những trung tâm văn hoá, lịch sử của Việt Nam. Không những thế, Huế còn là một tổng thể di tích quan trọng, sánh hàng kì quan trên thế giới. Cố đô thơ mộng mang đầy tính nghệ thuật lẫn với cái nét sâu thẳm, ẩn bóng của học thuật Đông phương và truyền thống dân tộc…

  • NGUYỄN HÀO HẢITrong lịch sử, việc làm những đồ nghệ thuật giả chỉ bắt đầu xuất hiện ở những xã hội có đời sống kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần khá phát triển.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNChuyện xưaGiờ đây, những vị tham gia biên dịch Mục lục Châu bản Triều Nguyễn (MLCBTN) trong Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam thuộc Viện Đại học Huế những năm sáu mươi của thế kỷ trước, đã lần lượt quy tiên. Chỉ còn lại một người cuối cùng đang dưỡng lão trong một ngôi nhà khá yên tĩnh dưới bóng những lùm cây sớm chiều toả mát trong một xóm ven sông Cẩm Lệ, thuộc huyện Hoà Vang, ngoại ô Đà Nẵng. Đó là bác Ngô Văn Lại, năm nay ngoài tuổi bảy mươi.

  • NGUYỄN HỮU THÔNGCó những câu hỏi đặt ra, Huế mãi không có câu trả lời thuyết phục:* Tại sao mặt hàng lưu niệm trong thị trường du lịch, trong các lễ hội Festival là nghèo nàn đến thế! Sản phẩm thủ công Huế lác đác chen chúc khuất lấp trong lớp lớp hàng Trung Quốc và các tỉnh khác trong nước?* Tại sao trong quá trình trùng tu, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lại phải mời thợ từ "Đàng Ngoài" trong nhiều khâu kỹ thuật từ sơn, thếp, mộc, làm ngói men, gạch bát tràng...?* Tại sao nhà phục chế Trịnh Bách lại phải sống ở Hà Nội, để gửi vào Huế những tấm long bào, long cổn, hia, mão và kể cả những phiên bản phục chế men lam thời Nguyễn?...

  • HOÀNG ĐẠO KÍNHVăn hoá xứ Huế là một hiện tượng: sinh sôi và thịnh vượng trong khoảng thời gian và không gian địa lý hạn hẹp. Cả hai nhân tố, vật thể lẫn phi vật thể, đều kịp đạt đến trình độ cao và thấm đậm những cái riêng, so với các thời kỳ lịch sử trước đó và so với các miền đất khác. Di sản văn hoá xứ Huế không chỉ phong phú, không chỉ đặc sắc, mà còn kiệt xuất, bởi nó sở hữu rất nhiều những cái duy nhất.

  • BEATRICE KALDUN         (Nhân viên chương trình Văn hoá của UNESCO tại Bangkok)Xin chào quý vị đại biểu!Hôm nay, tôi xin bày tỏ sự vui mừng khi có mặt tại đây, đại diện cho Ngài Richard Engelhardt, Cố vấn Văn hóa khu vực châu Á - Thái Bình Dương tham gia cuộc Hội thảo về vấn đề bảo tồn và phát triển hội nhập của Huế, một trong những di sản quý giá nhất của Việt Nam và Thế giới.

  • PHAN THUẬN ANSự quan hệ công tác giữa UNESCO với Việt Nam đã bắt đầu có từ hơn 50 năm về trước. Nhưng, sự hợp tác chặt chẽ để mang lại những hiệu quả thiết thực và hữu ích cụ thể thì chỉ mới diễn ra trong vòng vài chục năm trở lại đây. Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Bộ Văn hóa Thông tin nước chủ nhà đã đóng góp những vai trò xúc tác quan trọng trong mối quan hệ làm việc giữa tổ chức UNESCO đóng tại Paris và các quan chức Việt Nam ở những tỉnh có di sản văn hóa và di sản thiên nhiên nổi bật.

  • PHAN TIẾN DŨNGHuế một vùng non sông kỳ tú, với sự sáng tạo của con người đã lưu giữ trong lòng mình những tài sản vô cùng quý giá. Một trong những giá trị nổi bật mang tính toàn cầu là Quần thể Di tích Huế đã được công nhận vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới (World Heritage List) ngày 11-12-1993. Bên cạnh đó, Huế còn là hội điểm về những di sản vật thể vừa phong phú vừa đa dạng. Từ mảnh đất này đã hình thành nên những phong cách, tạo nên nhiều loại hình nghệ thuật, đã sinh thành nhiều tài năng, đã hội tụ nhiều danh nhân để góp phần nên một Huế vừa mang đặc trưng bản sắc Việt Nam, vừa có sắc thái riêng của một vùng đất Cố đô.

  • NGUYỄN VĂN MỄ                    (Trích)Huế - thành phố lịch sử, một trung tâm văn hóa du lịch, là vùng đất có bề dày văn hóa với những tầng văn hóa khác nhau: di chỉ Khảo cổ học thời Tiền, Sơ sử; các dấu tích của văn hóa Sa Huỳnh; văn hóa Chămpa; văn hóa Đại Việt... và vô cùng quan trọng là hệ thống di tích Cố đô được xây dựng dưới vương triều Nguyễn.

  • LƯU TRẦN TIÊUHiếm có một miền đất nào mà ở đó những giá trị văn hóa lại đậm đặc, phong phú, đa dạng và đặc sắc như ở Huế. Từ góc nhìn địa - chính trị - văn hóa, xứ Huế xưa như là một vị trí chiến lược trọng yếu, vừa là cầu nối, vùng đất mở, vừa là nơi diễn ra sự chồng lấn, dung hợp, tiếp biến các vùng văn hóa, các dòng văn hóa để tạo dựng thành một trung tâm văn hóa trên cái nền chung của văn hóa Việt Nam, lóng lánh những nét riêng đặc sắc của mình.

  • NGUYỄN QUỐC HÙNGNăm nay, chúng ta kỷ niệm 10 năm Quần thể Di tích Kiến trúc Huế được ghi vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới của UNESCO, 10 năm với rất nhiều thành tựu đổi thay. Nhớ lại chỉ sau 5 năm trở thành Di sản Văn hóa Thế giới, Tiến sĩ Richard Engelhardt chuyên gia về văn hóa khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO đã mạnh dạn tuyên bố: “tình trạng cứu nguy khẩn cấp của khu di tích Huế đã qua đi” và “chúng ta chuyển từ giai đoạn khẩn cấp sang giai đoạn ổn định trong chiến dịch vận động bảo tồn di tích Huế”(1)

  • NGUYỄN KHOA ĐIỀMTrong các di sản văn hoá ở nước ta, Huế giữ một vị trí đặc biệt. Chính vì thế mà ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giữa bộn bề công việc, Đảng và Nhà nước ta vẫn dành cho di sản văn hoá Huế sự quan tâm thích đáng. Dù chưa tập hợp được hồ sơ đầy đủ, chưa có được nguồn kinh phí thoả đáng, nhưng từ năm 1979, Nhà nước ta đã có văn bản đặc cách quy định việc bảo vệ di tích thành nội Huế.

  • PHÙNG PHUCách đây vừa tròn 10 năm, ngày 11 tháng 12 năm 1993 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng đối với Huế và với cả nền văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam: Quần thể Di tích Cố đô Huế đã chính thức được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản Văn hoá Thế giới với dòng chữ “Ghi tên vào danh mục này là công nhận giá trị nổi bật toàn cầu của một tài sản văn hoá hoặc thiên nhiên để được bảo vệ vì lợi ích của nhân loại”. Lịch sử vùng đất Phú Xuân- Huế với Di sản Văn hóa Thế giới đầu tiên của Việt Nam mở ra một trang mới, giang rộng vòng tay đón bè bạn trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu và truyền đạt kinh nghiệm trong công việc bảo tồn và phát huy giá trị.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCSau Hiệp định Paris năm 1973, Thành uỷ Huế chủ trương phải xây dựng thêm các tổ chức cách mạng biến tướng để tập hợp lực lượng trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên ở nội thành; tạo cho được những hoạt động công khai, hợp pháp nhằm thu hút quần chúng ở vùng địch tạm chiếm hướng đến mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, đòi dân sinh, dân chủ, tiến tới đòi thi hành Hiệp định Paris.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCCách đây gần tròn 50 năm, từ Đại hội Anh hùng Chiến sĩ Thi đua lần thứ 3 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động chiến dịch “Vì miền Nam ruột thịt”. Thực hiện chủ trương nầy, năm 1957 Bộ Văn hoá và Thư viện Quốc gia Việt Nam đã chính thức chỉ đạo 26 thư viện các tỉnh và thành phố ở miền Bắc xây dựng trong lòng mỗi thư viện một “Thư viện Kết nghĩa” vì miền Nam ruột thịt theo quan hệ kết nghĩa giữa các tỉnh, thành Bắc-Nam.

  • PHAN THANH HẢISông Hương là báu vật mà trời đất đã ban tặng cho Huế. Đã tự bao giờ, sông Hương đã được xem là dòng sông của thi ca, nhạc họa, của kiến trúc, nghệ thuật xứ Huế. Đã có nhà văn từng thốt lên: “Nếu một ngày nào đó sông Hương đột nhiên biến mất, thì Huế có còn là Huế nữa không?!”...