Bản thể đàn bà và bản lĩnh nhà văn

09:40 03/07/2020

NGUYỄN KHẮC PHÊ

Nguyễn Thị Lê Na không thuộc lớp “cây bút trẻ” (chị sinh đúng vào năm đất nước thống nhất - 1975), lại phải gánh nhiệm vụ quản lý một tạp chí văn nghệ, nên sau “Bến Mê”, đến nay chị mới xuất bản “Đắng ngọt đàn bà”(*) (ĐNĐB).

11 truyện ngắn tập hợp trong cuốn sách chưa đầy 200 trang, cùng xoay quanh chuyện “đàn bà” thành bại trong tình trường - một đề tài… “xưa như trái đất” - nhưng bạn đọc vẫn bị cuốn hút như khi được khám phá một xứ sở trù phú có nhiều sản vật chưa phải ai cũng biết. Đã đành, tình yêu là một đề tài vô tận, nhưng đối với những cây bút mới (hoặc là người đi sau) để tạo được dấu ấn không dễ. Tác giả lại không thuộc lớp nhà văn khiến bạn đọc phải tò mò hoặc “choáng ngợp” với kiểu cách tân kỳ và các lý thuyết thời thượng, cũng không sa đà vào các “chiêu trò” có sức dẫn dụ độc giả như “sex” hay tình tiết ly kỳ, rùng rợn; và có thể nói ngay, ĐNĐB chủ yếu được thực hiện với bút pháp cổ điển, dung dị, vậy mà tác phẩm không chỉ níu giữ được người đọc, nhiều truyện còn khiến độc giả phải tạm gấp trang sách, lặng yên suy ngẫm cùng tác giả với những buồn vui, thao thức của các nhân vật…

Chúng ta thử cùng tìm hiểu ĐNĐB có gì để lôi cuốn người đọc.

Cái tên sách đã lý giải một phần điều đó. Chuyện “đàn bà”, cả ngọt ngào và đắng chát thì ai cũng muốn nghe! Quả là qua 11 truyện, biết mấy là thân phận, nỗi niềm “chạm vào những khắc khoải, suy tư, gọi về từng giây phút khát khao, đam mê trong tâm hồn, mở ra một thế giới đượm tính nữ… Mỗi truyện ngắn trong ĐNĐB chính là bản khảo trạng nội tâm nhằm hướng đến sự tự do bản thể và xác lập nhân vị đàn bà…”. (Trích Lời giới thiệu - Bìa 4 sách ĐNĐB).

Giới nghiên cứu thời gian gần đây (qua một số chuyên luận và hội thảo) cũng đã chú ý vấn đề “nữ quyền luận” và giới tính nữ trong sáng tác văn học. Bốn năm trước, tôi cũng đã có dịp bàn về vấn đề này trên báo “Văn nghệ” (Hội Nhà văn Việt Nam) nhân giới thiệu tác phẩm “Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại”, chuyên luận của nhà phê bình-tiến sĩ Trần Huyền Sâm. Thực ra, theo tôi, đây không hoàn toàn là chuyện thuần túy văn chương, mà còn là vấn đề xã hội, văn hóa… - cũng như “văn học sinh thái” gần đây được một số nhà nghiên cứu quan tâm, chủ yếu do hai vấn đề có tầm ảnh hưởng đến nhân loại về nhiều khía cạnh mà trước đây ít được chú ý. Như vậy, tác phẩm “chạm vào” vấn đề vừa nêu mới chỉ gây được sự chú ý về mặt đề tài mà thôi. Nếu tôi nhớ không nhầm, đã có nhà nghiên cứu nêu luận điểm rằng: “Anh viết cái gì không quan trọng; vấn đề là anh viết như thế nào?” Theo tôi, nói như vậy có phần cực đoan; cũng có thể do một thời người ta quá chú trọng đề tài nọ, nội dung kia, nên nhà nghiên cứu muốn nhấn mạnh bút pháp, nghệ thuật mới là yếu tố hàng đầu tạo nên giá trị tác phẩm. Một cách công bằng và đúng đắn hơn, có lẽ cần xem xét tác phẩm một cách tổng thể; nói vui một chút là hầu hết người đọc chỉ biết cách “hưởng thụ trọn gói”; còn phân tích “nội dung-đề tài” với “bút pháp-nghệ thuật” chủ yếu là thao tác của nhà phê bình, nghiên cứu.

Với quan niệm như trên, theo tôi, nhiều truyện trong ĐNĐB vừa “chạm vào” những vấn đề ít ra cũng của nửa nhân loại, vừa có phong cách đạt đến độ chín của một cây bút lịch lãm, có kinh nghiệm.

“…Cái buổi chiều ấy, tất tật, từ ngọn cỏ ven bờ ruộng, những ao đầm ngập nước phủ đầy rong rêu, đều trở nên gần gũi và đáng yêu làm sao. Đó là lần đầu tiên Vy đón nhận nụ hôn đầu đời ngọt lịm, họ trao nhau hạnh phúc trong sự chứng kiến của ngọn gió chiều lang thang trên cánh đồng thoảng thơm mùi lúa, mùi cỏ mật và trong veo tiếng chim cà lơi rót tự trời cao xuống…”.

Một đoạn trích truyện “Đắng ngọt đàn bà” mở đầu cuốn sách đã thể hiện khả năng “biểu diễn” ngôn ngữ của Lê Na. Bàn chuyện văn chương thì đây là yếu tố quan trọng hàng đầu, nhiều khi tùy thuộc vào năng khiếu, chứ công phu chưa hẳn làm nên. Câu văn của Lê Na linh hoạt, uyển chuyển, khi mở rộng, kéo dài như đoạn tả nụ hôn giữa cánh đồng ở trên, khi chỉ vài từ ngắn, sắc, quyết liệt. Với khả năng “biểu diễn” ngôn ngữ như thế, Lê Na mới có thể miêu tả tâm lý phức tạp, sự giằng xé, dằn vặt giữa nhu cầu bản năng, dục vọng với đạo đức truyền thống, nghĩa vụ làm vợ làm mẹ của nhiều nhân vật nữ trong tập truyện. Có thể nói một cách khái quát, ĐNĐB viết chuyện tình mà không phải tiểu thuyết “ngôn tình” tầm thường, khai thác tận đáy những đam mê, dục vọng “tự do bản thể” mà không “sex” một cách dung tục.

“Tin nhắn của Phong thầm thì: “Mình lên giường thôi, em!” Không đắn đo, chị: Dạ”. Gót sen nhẹ lướt… Bên cạnh, Phan đang nằm nghiêng, quay mặt về phía tường, lưng đánh trần… Mặt điện thoại chấp chới dòng tin: “Cho anh hôn cái?” “Dạ”. “Anh hôn mắt… hôn môi… hôn cái cổ cao…? “Dạ” “Anh hôn ngực…?” “Dạ”…

Người chị như hòn than. Chín lịm. Tay chị run rẩy lần cởi váy xống. Lần đầu tiên trong đời, chị tự cởi váy xống. Chị ngắm cơ thể chắc lẳn gái một con của mình dưới ánh đèn hồng. Người nổi da gà trên từng mi li mét, nơi môi Phong lướt nhẹ theo tin nhắn…

Bất giác, chị rên lên. Quàng tay ôm lấy người Phan. Ấp bộ ngực nóng rẫy vào tấm lưng Phan…”.


Tôi chọn trích một đoạn trong truyện “Cơn bão” không chỉ vì đoạn văn miêu tả “sex” khá mạnh bạo mà không khiêu dâm; hơn thế, có thể nói đây là một truyện đặc biệt, mặc dù tình huống truyện là kiểu tình yêu “ngoài vợ ngoài chồng”… xưa như trái đất! Chị có chồng là Phan “ngon lành”, nhưng rồi bất chợt gặp Phong và như “say nắng”. Nếu vậy, thì chẳng có chi đáng nói. Đằng này, chị không kìm nén được “giây phút khát khao, đam mê trong tâm hồn”, đến mức phải… làm tình với Phong thông qua “công cụ” trợ giúp là các tin nhắn trên màn hình máy điện thoại! Cái “đặc biệt” của truyện còn đi xa hơn: Chính lúc mơ tưởng đến Phong thì chị lại dâng cả “thân hình nóng rực và ướt át” cho chồng nằm bên cạnh; và đêm ấy, chị có thai đẻ ra cu Bi, nhưng thằng con lại không có nét chi của Phan (còn chị biết nó giống Phong!) khiến chồng dằn vặt, nghi ngờ phải lén lút thử ADN cho con. Tình yêu trong tưởng tượng với một người ở xa, mạnh mẽ đến mức ghi dấu ấn ra hình hài đứa con không có liên hệ máu thịt gì, có lẽ mới chỉ có trong truyện của Lê Na! Không hẳn là một hư cấu vượt ngưỡng - các nhà khoa học đã chứng minh ý tưởng con người có sức làm thay đổi diện mạo mặt nước khi chụp qua kính phóng đại nhiều lần (ví như ta nhìn mặt nước cau có, giận dữ thì “hoa nước” đang đẹp sẽ biến dạng xấu đi...).

Cho dù nhiều truyện trong ĐNĐB, tác giả đã thể hiện “nữ quyền” và giới tính nữ quyết liệt và táo bạo như thế, chưa hẳn Lê Na đã tự ý thức sẽ tập trung vào mảng đề tài này khi bắt tay xây dựng tác phẩm. Đây cũng chính là trải nghiệm bản thân: tôi viết tiểu thuyết “Thập giá giữa rừng sâu” không hề có “ý thức” là sáng tác một tác phẩm thuộc dòng “văn học sinh thái” mà chỉ do hiểu biết, trải nghiệm và cảm hứng sáng tạo mà mình có thế mạnh; vậy nhưng tiểu thuyết này là 1 trong 4 tác phẩm được một nhà nghiên cứu chọn khảo sát khi làm chuyên luận về “Văn học sinh thái”.

Tôi nêu vấn đề này để thấy, đối với người sáng tác, trước trang giấy, có lẽ không nên tự trói buộc vào một đề tài hay khuynh hướng sáng tác nào đó. Theo tôi, Nguyễn Thị Lê Na đã có được sự tự do đó, nên trong ĐNĐB, bên cạnh một số nhân vật đàn ông công chức có phần đơn giản, có hai chàng trai dân tộc thiểu số, hoạt động trên một không gian khác xa với các nhân vật nữ trung lưu, sống ở đô thị, đã được tác giả miêu tả khá thành công, tuy chỉ là nhân vật phụ với số trang không nhiều. Đó là Hồ Thong trong truyện “Vùng rừng sáng” và Hồ Ruôn, chàng trai bản Takai trong truyện “Mùa cà phê hoa trắng”. Một chàng trai ít học như Hồ Thong, chỉ biết làm người dẫn đường cho Seo - cán bộ nghiên cứu lâm sinh, khi biết cô thất vọng vì người yêu là Pak không tán đồng công việc khó khăn của mình, đã thầm yêu cô, đỡ đần cho cô bao công việc khó khăn, nhưng khi biết hai người còn yêu nhau, tuy thất vọng, anh vẫn nén lòng lặng lẽ giúp họ kết nối lại. Hồ Ruôn cũng là một hình tượng đẹp - một vẻ đẹp giản dị, thể hiện lòng tốt, tình nghĩa hiệp nguyên sơ thật đáng yêu - anh cứ thầm lặng theo Nhiên, khi biết cô bị tên Duy “Sở Khanh” lừa gạt và đã tự nguyện làm chỗ nương tựa cho mẹ con cô…

“…Sao cậu biết tôi đi tìm?” “Miềng nghe… Nhiên khóc trước mộ mẹ, nên biết …” “Ai khiến cậu! Cậu biết thì làm được gì!” Nhiên nói, và vùng vằng, cố đẩy Hồ Ruôn để ra khỏi vòng tay đang ôm chặt người cô… Miệng liên tiếp lặp lại: “Cậu biết thì làm được gì chứ!” “Miềng làm được tất cả, Nhiên ạ, cả việc làm bố thằng bé trong bụng Nhiên…”.

Hai nhân vật người dân tộc ít người được tác giả miêu tả khá tinh tế, thể hiện được nét đặc sắc riêng, chứ không đem cách nói “ngô nghê” làm trò cho thiên hạ như một số cây bút trước đây. Cũng là một chuyện tình “ngoài vợ ngoài chồng” đứt gãy rồi chắp nối lại, nhưng sau trang viết đậm tính nhân văn của Lê Na, vẫn ngời lên vẻ đẹp con người - khi lấp lánh như ánh sao đêm, khi rực rỡ như mặt trời tỏa nắng. Như với Nhiên, cô gái “lỡ dại”, tưởng suýt liều mình, nhưng cô đã tự dừng bước trước xoáy nước mà cô định tự tử trước khi Hồ Ruôn lao đến cứu, nhờ “cú đạp yếu ớt của đứa bé thức tỉnh Nhiên. Thức tỉnh cả tình mẫu tử, mà bấy lâu Nhiên còn mơ hồ… Mẹ đã mải lo lắng, và quên đi cảm xúc của con. Mẹ không có quyền… Mẹ xin lỗi…”.

Đây là một chiều kích khác trong khi “hướng đến sự tự do bản thể và xác lập nhân vị đàn bà…”. Và như thế, Nguyễn Thị Lê Na, với “Đắng ngọt đàn bà”, đã chứng tỏ bản lĩnh một nhà văn đến độ chín. Hy vọng chị sẽ mạnh mẽ, tự do bước tiếp trên đường văn rộng mở, chứ không lệ thuộc vào bất cứ đề tài hay khuynh hướng nào.

N.K.P
(TCSH375/05-2020)

..........................................
(*) “Đắng ngọt đàn bà” - Tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na, Nxb. Hội Nhà văn & Công ty sách  Tao Đàn, tháng 12/2019.  




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HỒNG NHU    (Đọc tập “Chuyện Huế” của Hồ Đăng Thanh Ngọc - NXB Thuận Hóa 2008)

  • NGUYỄN ĐÔNG NHẬTĐọc xong tập sách do họa sĩ Phan Ngọc Minh đưa mượn vào đầu tháng 6.2009(*), chợt nghĩ: Hẳn, đã và sẽ còn có nhiều bài viết về tác phẩm này.

  • NGUYỄN HỮU QUÝ         (Mấy cảm nhận khi đọc Chết như thế nào của Nguyên Tường - NXB Thuận Hóa, 2009) Tôi mượn thuật ngữ chuyên ngành y học (Chăm sóc làm dịu=Palliative Care) để đặt tít cho bài viết của mình bởi Phạm Nguyên Tường là một bác sĩ điều trị bệnh ung thư. Tuy rằng, nhiều người biết đến cái tên Phạm Nguyên Tường với tư cách là nhà thơ trẻ, Chủ tịch Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế hơn là một Phạm Nguyên Tường đang bảo vệ luận án tiến sĩ y khoa.

  • LÊ THỊ HƯỜNGTìm trong trang viết là tập tiểu luận - phê bình thứ 3 của Hồ Thế Hà. Sau những ngày tháng miệt mài “Thức cùng trang văn” (viết chung với Lê Xuân Việt, được giải thưởng Cố đô 1993 - 1997), Hồ Thế Hà lại cần mẫn “tìm trong trang viết” như một trăn trở đầy trách nhiệm với nghề.

  • MAI VĂN HOANNguyễn Công Trứ từng làm tham tụng bộ lại, Thị lang bộ Hình, Thượng thư bộ Binh... Đương thời ông đã nổi tiếng là một vị tướng tài ba, một nhà Doanh điền kiệt xuất. Thế nhưng khi nói về mình ông chỉ tự hào có hai điều: Thứ nhất không ai "ngất ngưỡng" bằng ông; thứ hai không ai "đa tình" như ông. Nguyễn Công Trứ "ngất ngưỡng" đến mức "bụt cũng phải nực cười" vì đi vào chùa vẫn mang theo các cô đào.

  • SICOLE MOZETBà Nicole Mozet, giáo sư trường Paris VII, chuyên gia về Balzac và là người điều hành chính của các hội thảo về Balzac đã làm một loạt bài nói chuyện ở trường Đại học ngoại ngữ Hà Nội, trường Đại học sư phạm Hà Nội, Nhà xuất bản thế giới... Chúng tôi trích dịch một đoạn ngắn trong bản thảo một bài nói chuyện rất hay của bà. Lúc nói bà đã phát triển những ý sau đây dưới đầu đề: Thời gian và tiền bạc trong Eugénie Grandet, và đã gợi cho người nghe nhiều suy nghĩ về tác phẩm của Batzac, cả về một số tác phẩm của thế kỉ XX.

  • CAO HUY HÙNGLịch sử vốn có những ngẫu nhiên và những điều thần tình mà nhiều người trong chúng ta chưa hiểu rõ. Tỉ như: Thế giới có 2 bản Tuyên ngôn độc lập, đều có câu mở đầu giống nhau. Ngày tuyên bố tuyên ngôn trở thành ngày quốc khánh. Hai người soạn thảo Tuyên ngôn đều trở thành lãnh tụ của hai quốc gia và cả hai đều qua đời đúng vào ngày quốc khánh...

  • NGUYỄN VĂN HOA1. Tôi là người Kinh Bắc, nên khi cầm cuốn sách Văn chương cảm và luận (*) của Nguyễn Trọng Tạo là liền nhớ ngay tới bài hát Làng quan họ quê tôi của anh mà lời ca phỏng theo bài thơ Làng quan họ của nhà thơ Nguyễn Phan Hách.

  • TRẦN HUYỀN SÂMSau mười năm, kể từ khi “Cái trống thiếc” ngỗ ngược của chú lùn Oska vang lên trên đống gạch đổ nát của thế chiến II, Herta Munller đã tiếp nối Gunter Gras và vinh danh cho dân tộc Đức bởi giải Nobel 2009.

  • NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH       (nhân Đọc "Từ những bờ hoa gió thổi về")Ông Trần Nhật Thu sinh năm 1944 ở Quảng Bình. Ông  lớn lên, làm thơ, đoạt giải thi ca cũng từ miền đất gió cát này. Năm 1978 ông rời Quảng Bình như một kẻ chạy trốn quê hương. Nhưng hơn hai chục năm nay miền quê xứ cát vẫn âm thầm đeo bám thơ ông. Qua đó lộ cảm tâm trạng ông vẫn đau đáu miền gió cát này.

  • Nhà văn Tô Nhuận Vỹ tên thật là Tô Thế Quảng, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1941, quê ở Vinh Xuân, Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Anh đã kinh qua các công việc: dạy học, phóng viên, biên tập viên… Anh từng giữ các chức vụ: Tổng thư ký và Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, Giám đốc Sở Ngoại vụ, đại biểu HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế, Uỷ viên Ban kiểm tra, Uỷ viên Hội đồng văn xuôi và Ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam.

  • ĐÔNG LAThế là sự ồn ào qua rồi. Diễn đàn đã đóng cửa. Nhưng lẽ nào việc thẩm định văn chương chỉ râm ran một hồi như thế, rồi cái nhùng nhằng còn nguyên nhùng nhằng, sự mâu thuẫn còn nguyên mâu thuẫn, và chuyện hay dở đến đâu cũng vẫn cứ mãi lửng lơ!

  • ĐÀO DUY HIỆP"Ngữ pháp, ngữ pháp khô khan chính nó, trở thành cái gì đó như một thuật phù thủy, gọi hồn; các từ sống lại, được cấp xương thịt, danh từ trong dáng vẻ tôn nghiêm bản thể của nó, tính từ, trang phục trong suốt khoác lên nó và nhuộm sắc cho nó một lớp tráng, còn động từ, thiên thần của vận động, mang lại cho câu sự động dao" (Baudelaire) (1)

  • MAI VĂN HOANMai Văn Hoan sinh 20-1-1949, quê Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Anh tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh và từng dạy ở các trường: Cấp 3 Minh Hoá (1971-1973), Sư phạm 10+3 Quảng Bình (1973-1979), Hai Bà Trưng (1979-1985), Quốc Học (1985-2009). Anh từng tham gia bồi dưỡng hàng chục học sinh giỏi văn tỉnh Bình Trị Thiên (1979-1989), tỉnh Thừa Thiên Huế (1989-2009) đoạt giải Quốc gia. Một số học sinh của anh đã trở thành phó giáo sư, tiến sĩ, cán bộ quản lý, nhà văn, nhà báo... nhưng vẫn “mãi mãi không thể nào quên những giờ dạy văn của thầy Mai Văn Hoan” như lời chị Lương Thị Bích Ngọc tâm sự trên VietNamNet.

  • NGUYỄN HỮU NGÔ Cuốn sách đồ sộ "Côn Đảo" của Nhà xuất bản Trẻ (1996) là một nguồn tư liệu quý mà những người làm công việc nghiên cứu lịch sử cách mạng Việt Nam không thể không tìm đến. Vì vậy sự chính xác về thông tin đòi hỏi phải khẳng định. Và cũng vì vậy tôi có đôi điều xin thưa với ban biên tập Nhà xuất bản Trẻ về những thông tin về nhân vật Mai Tấn Hoàng được coi là người tử tù cách mạng.

  • VÕ THỊ QUỲNHĐặng Huy Trứ (1825 - 1874) đã để lại khá nhiều thơ văn cho đời. "Từ Thụ Yếu Quy"(*) tập sách bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người làm quan, là một trong những áng văn quý giá ấy.

  • Văn Cầm Hải tên thật Nguyễn Thanh Hải, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1972, quê ở làng Trần Xá, Hàm Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình.

  • CAO HUY HÙNGBa mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta! Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta di sản vô cùng quí báu: Đó là bản di chúc lịch sử của thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử vinh quang hàng ngàn năm của dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

  • LÊ THỊ MÂYĐề tặng một giấc mơ là tập thơ hay và buồn của Lâm Thị Mỹ Dạ. Tập thơ này được giải thưởng của UBTQLH các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 1998. Sau khi xóa bao cấp trong in ấn thơ, rất nhiều người có cơ hội tự in thơ, có khi là mỗi năm một tập. Lâm Thị Mỹ Dạ không ở trong diện ấy.

  • ĐẶNG TIẾNPhê bình huyền thoại(1) của Đào Ngọc Chương là một cuốn sách mỏng, in giới hạn, có lẽ chỉ nhắm vào một nhóm sinh viên, nhưng là sách cần yếu, mới mẻ.