Nhà soạn nhạc F. Schubert - Ảnh: Internet
- Anh được mấy cháu rồi? Tôi hỏi, khi Nguyễn Hương chuyển sang cho tôi cốc cà phê anh vừa đánh tan đường. - Một cháu! Anh mỉm cười hóm hỉnh. - Chắc là cháu trai? Thấy anh gật đầu, tôi hỏi tiếp: Cháu mấy tuổi rồi anh? - Cháu năm nay đã ba mươi hai tuổi và đang ngồi trước mặt cô đây! Chúng tôi bật cười thành tiếng. Tôi nghĩ: anh chàng nầy chứng nào tật nấy, vẫn thích đùa như hồi còn đi học… Tiếng nói tiếp sau cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi - Tôi ở Cam-pu-chia về. Vẫn là lính. Ở đơn vị tôi có quen một người. Người đó biết Đinh Hương. Lần này về làm công tác chính sách cho đơn vị, tôi có ý định sẽ tìm Đinh Hương, may quá chiều nay lại gặp. Đinh Hương còn nhớ người tên là Phạm Thành không? Như có một luồng điện cao thế chuyền khắp người tôi. Khúc nhạc của Su-be lại nổi lên… *** Tôi sinh ra ở bệnh viện C Hà Nội. Nhưng không vì thế mà tôi nhận thấy mình là người Hà Nội. Bố mẹ tôi người Đà Nẵng, tập kết ra Bắc. Tuổi thơ của tôi gắn liền với khung trời Hà Nội, những năm tháng sơ tán, cùng với những mùi vị mặn nồng của thành phố biển quê hương mà bố mẹ tôi thường kể. Tôi hình dung con sông Hàn cũng giống như sông Hồng theo trí tưởng tượng của tôi thời đó. Sau năm 1975, tôi theo gia đình vào Nam. Nhưng không về Đà Nẵng như tôi mơ ước, mà về một thành phố khác ở miền Trung, nơi ba tôi nhận công tác. “Con đã xong lớp mười, ở đây con học đại học cho gần cũng tiện” - Ba tôi bảo vậy. Thế là tôi có thêm một quê mới, một thành phố nổi tiếng thơ mộng, dịu dàng. Lúc này tôi đã mười tám tuổi, vào học đại học Sư phạm. Là đoàn viên nòng cốt, tôi tham gia công tác ở Hội Liên hiệp sinh viên. Phạm Thành đã đến với tôi trong những ngày học tập, công tác, lao động sôi nổi ấy. Anh cũng người quê ở Đà Nẵng, bố là bộ đội - là bạn thân của bố tôi trong cuộc kháng chiến trước - đã hy sinh. Anh lớn lên với mẹ trong nhà tù Mỹ Diệm, trốn ra đi học, rồi tham gia hoạt động cách mạng, là một trong những nòng cốt của phong trào sinh viên học sinh. Anh kể cho tôi nghe những năm tháng hãi hùng trong nhà lao Kho đạn, khi mẹ anh bị địch đánh chết đi sống lại. Anh vén tóc chỉ vết sẹo xanh mà kẻ thù để lại ở anh. Anh kể về những ngày tháng lang thang kiếm sống bằng đủ các nghề như bán kem, bán báo, đánh giầy… Rồi những ngày hoạt động sôi nổi, nguy hiểm nhưng đầy hấp dẫn. Tôi say sưa với những câu chuyện tưởng chừng không có thật đó. Tôi yêu những chiến công và yêu anh từ đó. Ở người con trai nầy tôi thật sự tìm thấy nơi gửi gắm tâm hồn. Anh hơn tôi nhiều mặt, cả tuổi đời lẫn sức học (anh học năm thứ ba trường Luật và hơn tôi đến bảy tuổi). Ngay cả về lý tưởng cách mạng của anh cũng trong sáng hơn tôi. Anh không chỉ am hiểu về văn học, hội họa mà còn hát hay, đàn giỏi. Trong các bản nhạc, anh thích nhất bản Sê-rê-nát của Su-be. Tôi không am hiểu âm nhạc lắm, nhưng một cảm nhận vô hình nào đó thu hút, khiến chiều nào tôi cũng theo anh đến một góc nhỏ, dưới giàn hoa giấy ở quán cà phê Thanh niên, nghe bản nhạc ấy. Có một lần anh kể với tôi về cuộc đời của người nhạc sĩ nghèo người Áo này: Xuất thân là một giáo viên nghèo, nhưng say mê âm nhạc được bạn bè giúp tiền học nhạc. Chẳng bao lâu, tiếng tăm của Su-be bay đến thành Vienne. Một bá tước giàu có mời về biểu diễn. Khi tiếng đàn của Su-be chiếm lĩnh tâm hồn mọi người, đang ở đoạn sâu lắng nhất, thì từ hội trường vang lên tiếng cười trong trẻo của một cô gái. Đó là con gái cưng của bá tước. Với lứa tuổi mười sáu cô ít chú ý đến âm thanh mà chăm chú quan sát người biểu diễn. Bỗng cô phát hiện trên cổ áo của Su-be có con số 5 - con số mà hiệu cầm đồ đính vào, Su-be thuê lại mà không biết. Khi tiếng cười bật ra, Su-be quay lại nhìn cô tức giận, đứng dậy xổ toẹt bản nhạc và bỏ ra về.
Hối hận trước hành động này, cô yêu cầu cha mời Su-be đến nhà dạy nhạc. Thời gian gần gũi, những giọt thạch nhũ nhỏ đều để một tình yêu hình thành giữa hai người. Mối tình này không được bá tước đồng ý. Ông đã ép con lấy một người môn đăng hộ đối, một quí tộc ở triều đình. Sau một thời gian chống lại quyết định của cha không được, cô buộc lòng phải đồng ý; chỉ xin một điều là được mời Su-be đến đàn trong lễ cưới. Khi buổi hòa nhạc trong lễ cưới mở màn, tâm hồn mọi người đang lắng trong bề sâu của âm thanh dưới mười đầu ngón tay của Su-be, thì bỗng bật lên tiếng nấc nghẹn ngào của cô dâu. Một lần nữa Su-be lại bỏ bản nhạc và ra đi. Lần đi này là vì đau khổ. Trên đường về quê, trong một buổi chiều sập tối, ông sáng tác bản Sê-rê-nát này. Những cung bậc buồn như cuộc đời của một nhạc sĩ nghèo dưới chế độ cũ. Gam của Su-be bao giờ cũng là dấu bằng, người đang vui nghe thấm thía ý nghĩa cuộc đời, kẻ buồn nghe như được sự an ủi lớn lao… Tôi nghe như uống từng lời anh kể. Su-be biểu hiện nỗi buồn của Thành. Tôi yêu anh và yêu cả nỗi buồn đó, yêu cả tính tình trầm lặng, sự nhút nhát đến vụng về của anh. Tôi gắn bó với anh, coi anh là tất cả, và tưởng như không có gì có thể chia cắt chúng tôi, nếu không có sự xuất hiện của Lâm. Lâm là con một người bạn của mẹ tôi, hiện nay đứng đầu một cơ quan cao cấp ở Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp đại học ở Hung-ga-ri, Lâm về quê thăm bà nội và họ hàng. Anh thường lui tới thăm viếng bố mẹ tôi, vì là chỗ thân tình. Chỉ trong một thời gian ngắn, tôi nhận thức được rằng Lâm đang say mê tôi. Con gái, thường khi đã có đối tượng chắc chắn, nhưng được thêm một người chú ý, vẫn là niềm kiêu hãnh. Với tư cách là “thổ dân”, vài lần tôi đưa Lâm đi thăm chơi một số nơi. Tôi lại có dịp bày ra lại những hiểu biết tối thiểu, đôi khi không chính xác, về các di tích văn hoá, mà trước đây đã có lần Thành giảng giải cho tôi nghe. Lâm tranh thủ về thường xuyên hơn. Lại những chuyến đi ngoại ô, những buổi leo núi những chiều tắm biển. Dạo nầy, tôi biết rằng bố mẹ tôi rất mến Lâm, muốn tạo điều kiện cho chúng tôi gần gũi nhau. Còn với Thành, “… nó là thanh niên miền Nam, thế nào mà chẳng nhiễm ít nhiều thói hư tật xấu, tính tình lại trầm lặng, khó hiểu, nhà lại nghèo…” Tôi xin nói mà không tự xấu hổ với chính lòng mình rằng, tôi vẫn yêu Thành và bỏ ra ngoài tai những lời nói ấy. Nhưng, tôi yêu chứ không phải say như trước. Anh là người từng trải, có nhân cách, nhưng đôi khi làm tôi bực mình về cái nhân cách quá mẫu mực cao thượng và trong sáng đó. Anh thiếu sự khôn ngoan lanh lợi, anh sống cho bạn, hy sinh cho tôi nhiều quá. Tôi thỏa mãn với niềm hạnh phúc anh dành cho, nhưng vẫn khát khao được tự mình lo toan, cống hiến cho người khác. Thời gian cứ trôi. Tôi vẫn yêu Thành nhưng dần dà tôi mến cả Lâm. Đối với mỗi người thời gian có ý nghĩa đặc biệt thầm kín. Đôi khi nó phù du và hoàn toàn không quy phục cảm giác, ngược lại, đôi khi nó trở nên cụ thể đến mức có thể sờ mó bằng tay được. Có khi một năm qua đi không để lại trong tâm hồn một dấu vết gì hết, và chẳng có gì để hồi tưởng về nó. Nhưng có khi mỗi ngày mỗi giờ đều đáng ghi nhớ, bởi niềm vui đã đến và ở lại mãi trong lòng; hay bởi nỗi buồn thầm lặng về hạnh phúc đã lướt qua. Lâm không biết gì về mối tình giữa tôi và Thành, nên vẫn tiếp tục đến với tôi bằng tất cả những gì tốt đẹp của một tình yêu chân thành. Riêng Thành, ban đầu khi biết quan hệ giữa Lâm với gia đình tôi, anh coi là bình thường, thậm chí còn khuyên tôi nên đưa Lâm đi chơi trong những ngày Lâm về thăm. Anh vô tình, anh tin vào tình yêu của tôi nên không hề ích kỷ, giữ gìn. Dạo đó, trường Luật giải tán, sinh viên được chuyển vào Sài Gòn học tiếp, Thành chuyển hẳn về công tác ở Thành đoàn. Công tác của anh có bận rộn hơn, anh ít đến nhà, ít đưa tôi đi chơi như trước. Không biết từ bao giờ, tình cảm của tôi nghiêng hẳn về Lâm. Tôi tìm thấy ở Lâm cái nhún vai kèm với hai tay dang rộng và cái ngắt đầu rất tây, dáng đi nhún nhảy và nụ cười tròn môi đong đầy niềm vui. Hình ảnh của Thành dần dần mất ưu thế trong tôi. Cái trán cao thông minh chứa đầy mơ ước bây giờ như vồ ra khó chịu, lại thêm vết sẹo xanh đến khó coi. Dáng đi điềm đạm trở nên chậm chạp khù khờ. Đôi mắt mơ màng như dại đi trong yếu đuối. Sự chân thành đôi khi trở nên ngớ ngẩn… Dường như Thành cũng nhận ra điều đó, qua cách quan hệ hơi khác của tôi. Một hôm, tôi gặp Thành từ cổng nhà tôi đi ra, anh nhìn tôi với đôi mắt rực lửa. Tôi bàng hoàng tưởng như chùm hoa phượng trước ngõ bừng đỏ đến xót xa. - Anh Thành! Mặc tôi gọi. Anh bỏ đi thẳng. Đó là lần gặp cuối cùng. Tôi tức giận bỏ vào nhà. Thì ra bố mẹ tôi đang nói chuyện về anh ấy, với những lời chê bai, khinh thị! - Anh Thành vừa đến nhà ta hở bố? - Không thấy. Ừ, mà bố mẹ cũng đang nói chuyện về nó đấy, kể ra thằng đó cũng tốt, chỉ có cái hơi khù khờ và nghèo… Tôi không nghe hết câu nói cuối cùng của bố. Tôi vụt ra đường đi dọc theo bờ sông dưới hàng cây long não. Vài chiếc lá rơi lơ lửng trước mặt tôi. Không tìm thấy anh. Những ngày sau đó, tôi không còn muốn thư từ gì cho Lâm và mấy lần đến tìm Thành đều không gặp. Dù sao những gì đã hình thành trong lòng tôi cũng còn sâu nặng, đằm thắm như hương thơm của chùm ngọc lan những đêm anh đưa tôi về qua đường Nguyễn Huệ. Có hôm tôi cố nài nỉ một cô bạn gái vào quán cà phê Thanh niên, ngồi dưới chùm hoa đỏ thắm, tỳ cằm vào thành cửa sổ, nhìn ra con đường nhỏ mong bóng dáng anh, nhớ anh trong những âm giai huyền diệu của Su-be, tâm hồn tôi đau đớn. Đến cơ quan để hỏi thăm bạn bè anh, nhưng mọi người tránh gặp mặt tôi, tránh nói về anh. Hai năm sau. Khi quan hệ giữa tôi và Lâm đã trở nên nồng thắm, hai bên gia đình đã đồng ý, chờ tôi tốt nghiệp ra trường sẽ tổ chức lễ cưới; tôi lại nhận được thư Thành - lá thư duy nhất cho mối tình giữa chúng tôi - nhưng không phải là thư tình. Anh kể về cuộc sống của những người Thanh niên xung phong đang xây dựng vùng kinh tế mới Đắc Lắc. Anh nói toàn chuyện vui, không dính dáng gì đến tình yêu. Những thành tích cống hiến trong lao động, những cánh rừng thu hẹp, những rẫy lúa hoa màu, lan rộng ra những công thức: “Tình yêu cộng với cà phê bằng một trăm héc-ta”… Anh xác định quan hệ giữa chúng tôi vẫn giữ tình bạn. Đọc thư, tôi biết bây giờ anh thanh thản lắm. Một chút thương xót chen lẫn hờn giận xâm chiếm tâm hồn tôi. Tôi không trả lời thư, và từ đó chúng tôi không liên lạc gì với nhau. Tôi đã học xong đại học. Lâm đã chuyển công tác về thành phố này, với tư cách là đại diện thường trực một cơ quan Trung ương tại miền Trung. Chúng tôi đã cưới nhau và có cháu đầu lòng. Cháu bé Hương Quỳnh nhà tôi kháu lắm. Tôi bằng lòng với hạnh phúc của mình. Lâm không chỉ là một người tình hấp dẫn mà còn là một người chồng lý tưởng, biết chăm sóc vợ con, gánh vác mọi việc của một người đàn ông trong gia đình. Chúng tôi được phân một căn hộ khá xinh sắn, trước nhà có cây trứng cá bốn mùa sai quả, cửa sổ nhà soi bóng dưới hồ sen ngát hương. Ngoài thời gian ở cơ quan, về nhà chúng tôi quấn quít bên Hương Quỳnh, nghĩ về con, sống cho con. Nhưng chiều nay, tôi gặp lại Nguyễn Hương, người bạn học có tên cùng âm với tên tôi; rồi đến quán cà phê này, giàn hoa này, khúc nhạc này, tôi gặp lại nỗi đau của chính lòng mình. *** Người ta nói rằng, làm ăn cũng có thời vận. Dù hàng quán anh có tốt, có ngon đến mấy nhưng không gặp thời thì cũng không làm sao đông khách được. Riêng với quán cà phê nhỏ này, không biết thời vận ra sao mà luôn luôn đông khách. Từ sáng sớm đến tận khuya lúc nào cũng đang tình trạng thiếu chỗ. Ở đây còn có cả các cô gái rủ nhau đến giải khát, tâm sự. Tuy đông, nhưng không ồn ào, xung quanh tôi râm ran những câu chuyện về nhiều đề tài sôi động. Nhưng dường như tôi không quan tâm đến ai, không nghe chuyện gì cả. Tôi chết điếng người đi khi nghe Nguyễn Hương báo tin: - Anh ấy đã hy sinh trên đất bạn. Anh ấy đã chiến đấu và ngã xuống cũng tự nhiên bình thường như bao người lính. Chỉ tội cho mẹ anh, người vợ, người mẹ của ba liệt sĩ ấy chưa có cháu để ẵm bồng. Thì ra, sáu năm qua anh đã vào bộ đội! Còn tôi, dường như tôi trượt đi trên bề mặt của cuộc sống, không hề chạm đến lòng sâu của nó. Hóa ra tôi được cuộc đời ưu đãi quá nhiều, mà thành ra kẻ phản bội. Tôi sống trên những cống hiến của người khác, tôi dựa vào công trạng của bố mẹ, dựa vào sự hy sinh của anh ấy, cuộc đời và hạnh phúc của chúng tôi suôn sẻ quá. Nhưng thôi nhớ lại mà làm gì?! Cuộc sống không phải là một bộ phim trong đó mọi tình tiết diễn ra theo từng lớp kịch bản viết sẵn. Cuộc sống phức tạp hơn nhiều… Cơn mưa chiều kéo đến. Tỳ tay vào cằm, chiếc thìa nhỏ trong tay tôi dí vào vũng nước trên bàn, vạch thành nhiều đường rẽ ngang dọc. Tôi tê dại với nỗi mất mát đau đớn. Câu chuyện đi đến một thắt nút mà chính tôi cũng không ngờ, muốn gì thì gì, tôi cũng đã có thời yêu Thành tha thiết, chuyện đó không thể trôi đi không để lại dấu vết gì. Nhưng chính anh cũng là người có lỗi Thành ạ! Tại sao anh đi mà không hề cho tôi một mẫu tin tức nào? Tôi cố át tiếng nói của lương tâm, để nghĩ rằng trong chuyện nầy tôi không hề có lỗi. Những chuỗi ngày sắp đến của đời mình, tôi biết mình cũng sẽ sống rất hạnh phúc bên Lâm, bên cháu bé Hương Quỳnh. Nhưng tôi còn biết rằng trong dịu êm của hạnh phúc, tôi không thể nào thanh thản được, tôi có cả nỗi buồn của giai điệu Su-be, chờn vờn và vang vọng mãi bên tôi. P.P.P (11/1&2-85) |
Tải mã QRCode
Ven Hồ Gươm ở phía lề đường bên phải, cách chân tượng vua Lê Thái Tổ ước ngoài trăm mét, luôn có một bồ đoàn. Bồ đoàn là chừng dăm tấm thảm Tầu rải sàn nhập lậu từ các tỉnh phía Bắc được các gia đình Hà Nội trung lưu ưa dùng.
1Sau lần đi gặt thuê cho đồng bào dân tộc ở Vĩnh Thạnh về, tôi bị trận sốt rét nặng. Dai dẳng trở đi trở lại gần ba tháng mới khỏi. Những ngày sau đó, trong người thấy cứ nôn nao, bứt rứt.
Có thể cô gái ấy đã trồi lên từ thủy cung do thủy triều xuống quá nhanh. Một nửa thân hình của cô từ dưới eo trở lên, hoàn toàn khỏa thân nhô ra khỏi mặt nước.
Mặt trời như còn ngái ngủ. Cùng với cánh cò trắng từ đâu bay về sáng nay, tôi bần thần chờ đợi một điều gì đó. Nó mong manh và đằm thắm theo về với cơn gió lạnh. Như mặt trời vẫn thập thò, như đường về mệt mỏi, như hàng cây đìu hiu. Vừa gần gũi tưởng có thể ôm giữ được mà cũng vừa cách xa vời vợi.
Hôm qua nghe đài, có một cái tên giống hệt người thân của mình đã mất tích trong chiến tranh. Rồi một tên khác, kế tiếp một tên khác với hòm thư toàn những chữ số. Hai anh em tôi nhìn nhau. Đã biết bao lần anh em tôi nhìn nhau như vậy. Từ khi con bé thiên thần kia còn chưa biết khóc vì buồn.
ITiệc có vẻ sắp tàn. Nàng đứng lặng lẽ gần cửa ra vào đưa mắt bao quát căn phòng rộng. Đèn chùm sáng trắng. Nhạc êm dịu trong phòng hôn lễ đã giúp nàng tự tin hơn khi bước chân vào có một mình với bộ đồ xoàng xĩnh đang mặc.
Bây giờ thì Hồng sắp được gặp chị. Người chị mà suốt những năm tháng đi xa, ở đâu Hồng vẫn luôn nghĩ tới. Cứ mỗi lần như thế, một tình cảm thân thương choán ngập tâm hồn Hồng.
- Mẹ nếm thử xem. Con cho thêm một tý đường nữa nhé.Tôi ngừng tay bên rồ rau sống xanh um cầm lấy thìa nước chấm nhấm nháp lắng nghe vị vừa chua vừa ngọt vừa bùi bùi tan ra trên đầu lưỡi: - Một thìa nhỏ nữa thôi con. Ngon rồi đấy.
Bác Hai đang ngồi trước mặt tôi, lặng im như pho tượng. Đôi mắt bác đăm đăm không chớp, nhìn về một cõi xa xăm mà tôi đoán chừng là ở nơi ấy chắc chắn có những kỷ niệm vui buồn về người em trai của bác, chính là cha tôi.
Cuối năm, Đài truyền hình liên tục thông báo gió mùa đông bắc tràn về, miền Tây Bắc nhiệt độ 00C, khu vực Hà Nội 70C...
Tôi tạm xa Hà Nội một tuần. Cũng chẳng biết là phải xa hay được xa nữa. Bố mẹ phái: - Cho con Hạ đi ăn giỗ!
Tặng anh Hữu Ngọc, anh Đoàn, Lành - Ngọc Anh. Tưởng nhớ chị TâmHảo không có giấy mời. Có thể những người bạn cũ của anh ở Huế cũng đã nghỉ hưu cả rồi, hoặc giả họ bận trăm công ngàn việc nên cũng chẳng nhớ anh ở đâu mà tìm... Song điều ấy không quan trọng.
Chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, nhận tấm thẻ thương binh, tôi trở về quê nhà. Để bớt gánh nặng kinh tế cho gia đình, tôi dã dành tất cả số tiền chính sách nhận được mở một quầy sách báo. Khách hàng của tôi khá đông.
Ông Biểu đột ngột nằm xuống. Tưởng như mọi cái đâu vào đấy. Như linh cảm trước, cuối năm con hổ, ông Biểu đã sắm cỗ áo quan dạ hương thơm nức. Xe cộ cần bao nhiêu chẳng có. Mọi thứ nếu muốn, chỉ sau một tiếng “alô” là tha hồ.
- Mẹ nếm thử xem. Con cho thêm một tý đường nữa nhé.Tôi ngừng tay bên rổ rau sống xanh um cầm lấy thìa nước chấm nhấm nháp lắng nghe vị vừa chua vừa ngọt vừa bùi bùi tan ra trên đầu lưỡi: - Một thìa nhỏ nữa thôi con. Ngon rồi đấy.
Nó tỉnh dậy. Sương lành lạnh, thời tiết thật khắc nghiệt, ban ngày trời nắng như thiêu như đốt. Khẽ co ngón tay, một cảm giác đau buốt suốt từ đỉnh ngón chạy vào tim, xương sống như có luồng điện chạy qua. lạnh toát.
Chuyện kể rằng ở xóm Đồng có một gia đình hiếm con lắm, chữa mãi đến năm chồng 45 tuổi, vợ 40 tuổi mới có mang.
Khúc sông lặng lẽ như thói quen của nó vẫn lặng lẽ vào mùa thu nước kiệt. Bây giờ, dòng chảy chỉ còn là một dải nông lờ, xuống đến tận mép nước mới nghe được tiếng chảy róc rách như tiếng nói thầm.
“Ai cũng biết rằng tạo hóa sinh ra đất, nước, cây cỏ, chim muông, thú vật... và con người. Động vật có trước con người có sau. Như vạy họ là tiền bói của con người. Đã không thờ kính tiền bối, lại làm điều ác với họ, con người phải gánh chịu lấy hậu quả. Âu đó cũng là lẽ trời...!”
Chủ nhật, tôi đến thăm một người bạn quen nhưng không thân lắm ở bên kia Cầu Kho, phía Tây Bắc thành phố. Đã dăm bảy năm nay tôi không gặp anh, mặc dù đã biết anh chuyển về dạy ở Đại học Nông Lâm khá lâu.