Bàn lại "thử bàn về cái tôi trong văn học"

15:35 16/03/2009
NGUYỄN SƠNTrên tuần báo Người Hà Nội số 35, ra ngày 01-9-2001, bạn viết Lê Quý Kỳ tỏ ý khiêm nhường khi lạm bàn một vấn đề lý luận cực khó Thử bàn về cái tôi trong văn học. Anh mới chỉ "thử bàn" thôi chứ chưa bàn thật, thảo nào!... Sau khi suy đi tính lại, anh chỉnh lý tí tẹo tiêu đề bài báo thành Bàn về "cái tôi"trong văn học và thêm phần "lạc khoản": Vinh 12-2001, rồi chuyển in trên Tạp chí Văn (Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh), số 4 (Bộ mới, tháng 3-4)-2002. Trong bài trao đổi này chúng tôi trích dẫn căn cứ theo nguyên văn bài báo đã in lần đầu (và về cơ bản không khác với khi đưa in lại).

Hãy xem mấy dòng mở đầu của Lê Quý Kỳ: "Văn học là nhân học, là khoa học về con người. Có lẽ đến bây giờ không ai nghi ngờ gì về định nghĩa đó của người xưa". Thực ra, cái ý văn học là nhân học chính là của nhà phê bình Nga nổi tiếng V.G.Biêlinxki (1811-1848), có gì phải mù mờ phiếm chỉ "định nghĩa của người xưa". Tôi không rõ anh dùng chữ người xưa là như thế nào? Còn anh viết văn học "là khoa học về con người" thì chung chung quá thể, không biết anh dẫn từ đâu, có khác gì cách nói "y học là khoa học về con người"! Thêm nữa, nếu quả thật "Có lẽ đến bây giờ không ai nghi ngờ gì về định nghĩa đó của người xưa" thì anh còn đặt lại vấn đề làm gì, còn "có lẽ" để làm gì? Rồi cứ với đà mù mờ phiếm chỉ như thế, Lê Quý Kỳ hăng hái cưỡi ngựa kỳ ngựa ký múa gươm tấn công vào KHÔNG AI CẢ- "có người cho rằng", "có người chợt phát hiện ra rằng", "vừa qua có một số người", "các nhà phục chế", "họ quay ra phục chế", "ai đó ngộ nhận", "họ lấy làm tiếc", "họ chia tay", "họ tự phong"... Xin cứ xem như Lê Quý Kỳ không thuộc số văn nhân cô tình- lạc lõng- ngộ nhận trên kia, cứ giả định tin vào bầu nhiệt huyết, nhãn quan nhìn xa trông rộng và vốn kiến thức đong vừa đầy nhất thốn của Lê Quý Kỳ trước những người KHÔNG AI CẢ, thì đến lượt anh, thử hỏi anh có đề xuất gì mới?

Phù hợp với cách nói mập mờ, anh thường nêu vấn đề to đùng bằng cả trăm voi rồi ngay đó lại chạy làng, bỏ lại lời hứa hẹn dư nửa bát nước ốc. Chẳng hạn, trước vấn đề cái tôi trong văn học dân tộc mà các tác giả Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương là đại diện còn chưa được lý giải thấu đáo thì riêng Lê Quý Kỳ hạ một câu ngon hề: "Những nhà thơ này đã đòi và bảo vệ quyền do tạo hóa ban ra con người như thế nào, thiết nghĩ không cần dẫn ra đây, bạn đọc cũng thừa thấy, thừa hiểu"...Nhưng đấy là anh giao cho bạn đọc phải "thừa thấy, thừa hiểu" chứ thực tình anh có trình bày sự thấy, sự hiểu của mình ra thế nào đâu! Khi khác anh tự nêu câu hỏi và tự trả lời: "Vậy nội dung của cái tôi thời Đổi mớiMở cửa này là gì? Đây là cả một chuyên luận dài khác, khó có thể kết hợp vào đây được". Thế còn nói làm gì, bởi cái điều thiết yếu nhất tự anh nêu ra và bạn đọc đang chờ lý giải thì anh khất lần hò hẹn-
Bao giờ cho đến tháng mười!...

Điều đáng bàn hơn, bên cạnh những lời hô hào sáo rỗng, bài viết của Lê Quý Kỳ còn bộc lộ quá nhiều sai sót về kiến thức, nhiều nhận định lạc hậu và lạc điệu. Xin nêu một vài dẫn chứng.

1- Sau khi lược dẫn đôi dòng về con người trong văn học là con người ý thức, con người xã hội, con người của vô thức, của bản năng, Lê Quý Kỳ viết: "Con người xã hội hay con người bản năng thì cũng chỉ là những khái niệm hết sức mơ hồ". Tôi không hiểu tại sao trước những khái niệm cơ bản, phổ cập và xác định như thế mà Lê Quý Kỳ lại hồ mơ đến mức không thể nhận thức nổi, đánh đồng và bỏ chung vào cái rọ "hết sức mơ hồ". Song liền sau đó anh lại khẳng định chắc như đinh đóng cột: "Con người trong tác phẩm văn học phải là con người đại diện cho một giai tầng nào đó, con người có tính giai cấp". Điều này cho thấy đặc điểm lối tư duy tuỳ tiện và nhận thức bất nhất, đầy mâu thuẫn của anh Kỳ.

2- Chẳng cần tìm hiểu, xét đoán, Lê Quý Kỳ hùng hồn phân chia ngôi thứ: "Tại sao quyền đó, hay nói chính xác hơn là cái tôi, chỉ xuất hiện trong Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm..., mà không xuất hiện trong Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu... chẳng hạn?". Đây quả là sự phân chia tuỳ tiện, chưa từng có tiền lệ- một phát hiện độc đáo và gây sửng sốt cho giới nghiên cứu vào đúng năm đầu thiên kỷ mới.

3- Lê Quý Kỳ có cách hình dung khá là kỳ quái về mối quan hệ giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn: "Hai dòng tư tưởng này xoắn bện vào nhau như hai tao trong một sợi dây thừng, tạo thành sợi dây tư tưởng dân tộc. Tuỳ ở sự biến thiên của lịch sử mà lúc thì tao yêu nước hiện lên phía trước và tao nhân đạo lặn ra phía sau và lúc khác thì ngược lại"... Quả đúng là với sự song hành và xoắn bện này thì chẳng khó khăn gì mà anh Kỳ không "lặn" được vào sợi dây thừng lịch sử để giải mã tư tưởng dân tộc!...

4- Lê Quý Kỳ có cách nhìn quá mức cực đoan, phi lịch sử, lạc hậu và lạc điệu về vai trò cái tôi trong Thơ mới và Tự lực văn đoàn khi anh xác quyết: "đấy chỉ là một thứ bùa mê, thuốc lú", "cái tôi lạc lõng của thời Thơ mới và Tự lực văn đoàn", "trước sau Thơ mới và Tự lực văn đoàn, với cái tôi cá nhân, ích kỷ, lấy hưởng lạc làm lẽ sống, vẫn là những đứa con lạc loài"... Bất chấp trình độ và thực tế đời sống văn học đương đại, bất chấp mọi nỗ lực của cả giới nghiên cứu và chính các tác giả thời Thơ mới và Tự lực văn đoàn trong việc soát xét lại các giá trị quá khứ, Lê Quý Kỳ một mực qui kết: "Trong khi chờ một trào lưu như thế tái thế, họ quay ra phục chế, tôn tạo và khai thác triệt để những giá trị cũ đó, bằng vô số hình thức, như xuất bản các tập và tuyển tập của từng tác giả, từng thể loại, tổ chức các cuộc nói chuyện, các đêm thơ, các chương trình truyền hình..." và xem như đây chính là gốc nguồn của mọi điều tệ hại: "khiến nhiều "chàng" và "nàng" không những được sống lại, mà còn được nhân bản sang nhiều thế hệ khác- chủ nhân của những quán Ka-ra-ô-ke, những vũ trường đang làm náo loạn xã hội"... Như vậy, Lê Quý Kỳ đã cố tình làm ngơ, không hề biết đến thực tế nhiều tác phẩm Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông các cấp, trở thành đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và đâu có là nguyên nhân đích thực của hiện tượng "những vũ trường đang làm náo loạn xã hội"!...

5- Khi đem đối lập cái tôi của Thơ mới và Tự lực văn đoàn với nhân vật của dòng văn học hiện thực phê phán, Lê Quý Kỳ nhiệt liệt tung hô anh Chí như một mẫu hình của lý tưởng dân tộc: "Trái lại, chỉ là một con người cố cùng, người không ra người, ngợm không ra ngợm, hễ có dịp là rạch mặt ăn vạ, thì cái tôi của anh ta lại là những tượng đồng, bia đá không những sừng sững trong lịch sử văn học dân tộc, mà còn sừng sững cả trong lịch sử văn học thế giới. Bởi vì, như ta đã biết, cái mà Chí Phèo đòi đâu phải chỉ là quyền sống của mỗi một cá nhân anh ta, mà còn là quyền làm người của cả một dân tộc"... Có điều, nếu nói rằng Chí Phèo là nhân vật điển hình của một kiểu người nông dân cùng đường ở làng quê Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám thì còn khả dĩ, nhưng nếu coi con người "ngợm không ra ngợm, hễ có dịp là rạch mặt ăn vạ"- kể cả cái chết liều lĩnh cùng đường trong tăm tối, bế tắc kia- thì quyết không thể là lý tưởng và biểu tượng cho "quyền làm người của cả một dân tộc". Lê Quý Kỳ có thể nương theo quyền làm người kiểu anh Chí mặc lòng song quyết không thể tựa theo cách hiểu của anh mà giảng dạy cho học sinh cũng như phổ biến ra đông đảo bạn đọc.

6- Trong phần cuối bài viết, Lê Quý Kỳ còn có một lập luận đầy mâu thuẫn và dưới tầm ấu trĩ. Sau khi mô tả thực trạng và mối nguy hại của các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma tuý, tham nhũng, buôn lậu, hối lộ, ức hiếp quần chúng..., Lê Quý Kỳ viết tiếp: "Đây là điều kiện xã hội để cho chủ nghĩa nhân văn có dịp lên tiếng; và việc các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận- phê bình chọn cái tôi để gửi gắm những nhận thức, những kiến giải của mình về cuộc sống, cuộc đời là hoàn toàn tự nhiên và chính đáng"... Hỡi ôi, có tệ nạn xã hội rứa thì phê phán, bài trừ, xoá bỏ- như toàn Đảng, toàn dân ta đang kiên quyết thực hiện - nào có tốt lành chi mà coi đây là "điều kiện xã hội để cho chủ nghĩa nhân văn có dịp lên tiếng"! Đương nhiên các nhà văn, với trách nhiệm công dân và khả năng nghề nghiệp của mình cần tích cực tham gia cải tạo cơ sở đã nảy sinh những tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng hoàn cảnh đời sống thực tại trở nên "nhân đạo hơn", chứ quyết không bao giờ mong ước việc "chọn cái tôi để gửi gắm những nhận thức..."- càng không cần giành cái quyền "hoàn toàn tự nhiên và chính đáng" trước cái thứ "điều kiện xã hội" tiên quyết kiểu Lê Quý Kỳ. Với nhận thức duy tâm như thế, Lê Quý Kỳ đã "trồng cây chuối" trên mớ lý luận cái tôi hoa cà hoa cải của mình. Hơn nữa, ngay cả việc "chọn cái tôi để gửi gắm những nhận thức, những kiến giải của mình về cuộc sống, cuộc đời" đầy sắc màu duy tâm chủ quan cũng đâu phải là phương thức hữu hiệu trong việc cải biến điều kiện xã hội như Lê Quý Kỳ lầm tưởng!...

7- Do thiếu một căn bản lập trường học thuật vững vàng nên Lê Quý Kỳ thường bị sa lầy trong câu chữ, trong hình thức tư duy rối rắm, tiền hậu bất nhất. Ngay trong cách đánh giá về văn học đương đại, có khi anh vừa xác định "chọn cái tôi" làm điểm tựa nhưng liền đó lại qui kết, nói ngược: "Vừa qua có một số người cố tình làm ầm ĩ về chuyện cái tôi xuất hiện lại trong văn học và xem đó như là sự chỉnh trị dòng chảy văn học dân tộc...", rồi ngay đó lại khẳng định, hô hào, kêu gọi cuộc thánh chiến tử vì đạo cho một cái tôi: "Đây là một yêu cầu, một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Bởi vì không phải ai cũng đồng cảm được với nhận thức này, khi quyết định dùng cái tôi làm cuộc cách mạng trong văn học!". Chưa ai rõ hình hài "cuộc cách mạng trong văn học" lần này rồi sẽ đi tới đâu, nhưng riêng lời hiệu triệu của Lê Quý Kỳ thì đã sớm chết chìm trong mớ câu chữ tiền hậu bất nhất kia...

Chỉ với bốn cột chữ trong một bài báo ngắn mà Lê Quý Kỳ đã bộc lộ quá nhiều sai sót về nhận thức, về lập luận, về cả những qui kết cũng như khi gióng trống phất cờ "quyết định dùng cái tôi làm cuộc cách mạng trong văn học"! Ngoài ra, anh cũng bộc lộ quá nhiều ngộ nhận khi sử dụng thuật ngữ và mắc nhiều lỗi trong diễn đạt. Chẳng hạn, anh viết: "văn học giai đoạn 1930-1945, với hai trào lưu điển hình là Thơ mới và Tự lực văn đoàn" (có thể duy danh phong trào, trào lưu Thơ mới nhưng Tự lực văn đoàn chính là một tổ chức); anh tưởng tượng ra kiểu nhà văn có một không hai: "Họ tự phong cho mình là những nhà Hiện thực khoa học chủ nghĩa, Hiện thực hiện đại chủ nghĩa"; có khi anh hồn nhiên bảo kê cho những môn đệ ảo của lối thơ siêu thực và các thứ chủ nghĩa hiện đại khác: "Chỉ có điều là họ không viết theo Chủ nghĩa ấn tượng của thế kỷ 19, mà theo Chủ nghĩa siêu thực của thế kỷ 20, và các thứ chủ nghĩa hiện đại khác, thế thôi!". Không rõ anh Kỳ cho lai sinh sản hữu tính vô tính thế nào mà nhìn ở xứ ta thấy Doly cừu-thơ "các thứ chủ nghĩa hiện đại khác" lắm đến thế - trong khi anh không lý giải và cũng tịnh không đưa ra lấy một chứng tích nào!

Đọc qua bài viết của anh Lê Viết Kỳ, tôi thực sự thất vọng. Công việc nghiên cứu, phê bình bao giờ cũng đòi hỏi vốn kiến văn sâu rộng, phẩm chất trung thực và cả sự nghiêm túc nữa. Người ta không thể cứ liều mình như chẳng có, cứ "thử bàn" ào trước mọi lĩnh vực, nhất là về vấn đề cái tôi trong văn học...

                     N.S
(167/01-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.

  • PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...

  • TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".

  • MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.

  • TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H

  • TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.

  • TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...

  • BẢO CHI                 (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...

  • ĐỖ LAI THÚY                Văn là người                                  (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.

  • ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

  • TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.

  • TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?

  • HOÀNG NGỌC HIẾN           ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...

  • THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.

  • TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.

  • ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.

  • ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…

  • HỒ THẾ HÀ          Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.