Bài thơ về biển khơi

16:54 15/10/2010
PHAN MINH NGỌC“Bài thơ về biển khơi” (*) là tập sáng tác đầu tay của cây bút nữ Trần Thùy Mai.

Nhà văn Trần Thùy Mai - Ảnh: gio-o.com

12 truyện ngắn trong tập sách, phần lớn đã được giới thiệu trên các tạp chí văn nghệ địa phương, và một đôi truyện đã được in ở báo Văn nghệ Trung ương. Lần này đọc lại, chúng ta sẽ có được cái nhìn khái quát về những “bước đi ban đầu” của một cây bút trẻ, chuyên viết truyện ngắn, mấy năm gần đây đã được sự chú ý của dư luận.

Trong “Bài thơ về biển khơi” Trần Thùy Mai, hầu hết đều lấy đề tài từ cuộc sống và con người thành phố, những con người, những sự việc bình thường mà chị đã từng quen thuộc hoặc gần gũi. Có điều, chính từ những con người và sự việc ấy, với năng lực quan sát, thể hiện khá nhạy bén và tinh tế, Trần Thùy Mai đã làm cho người đọc cảm nhận được những “âm vang rộn rã của một cuộc sống vừa bắt đầu” trên thành phố quê hương sau ngày giải phóng, và cả những vấn đề đặt ra không kém phần sâu sắc.

Trần Thùy Mai đã diễn tả xúc động hình ảnh gặp gỡ của những gia đình sau bao năm trông đợi, trong niềm vui đoàn tụ của đất nước. “Thương lắm ngoại ơi!”. Hoặc, chị thuật lại “câu chuyện một gia đình” nơi xóm nhỏ ngoại ô để không chỉ phê phán những tệ nạn xấu xa của xã hội cũ, mà còn nhìn ra và khẳng định một điều thực sự có ý nghĩa trong cuộc đời mới: đó là lao động.

Ở một số truyện ngắn viết cho thiếu nhi: “Hoa hướng dương”, “Việt Nam của bé”, “chiếc vỏ bắp biết bay”… tác giả cũng không chỉ muốn nói với các em về tình thương, về ý niệm quê hương, về truyền thống gia đình, về Tổ quốc, mà còn muốn qua cái nhìn ngây thơ, trong trẻo của các em, giới thiệu những hình ảnh mới lạ như chính bản thân tác giả cũng vừa được cảm nhận lần đầu.

Trong những truyện ngắn nói trên, với lối kể chuyện nhỏ nhẹ, thanh thoát chị đã hòa vào trong niềm vui, niềm tự hào, xen lẫn một chút bỡ ngỡ của trẻ thơ. Phải chăng, đó cũng chính là sự biểu hiện những xúc động chân thật của tâm hồn một người viết, khi lần đầu mới được tiếp xúc với hiện thực cuộc sống cách mạng.

Nhưng, hấp dẫn người đọc hơn cả, có lẽ là một số truyện ngắn Thùy Mai viết về những nhân vật thiếu nữ.

Bạn đọc sẽ khó quên cô gái trong “Bài thơ về biển khơi”. Tuy còn bị ràng buộc bởi những tàn dư cằn cỗi của xã hội cũ, nhưng tâm hồn người con gái ấy luôn muốn vươn tới ánh sáng, luôn khao khát biển khơi và đường chân trời. Với nghệ thuật sử dụng hình ảnh đối lập và giàu ý nghĩa biểu tượng, câu chuyện còn muốn phát biểu một quan niệm đúng đắn của người viết về trách nhiệm của văn chương và của người nghệ sĩ trước cuộc đời. Chắc cũng vì lẽ ấy, mà tác giả đã lấy “Bài thơ về biển khơi” làm tên gọi chung cho cả tập sách.

Trong “Khúc nhạc rừng dương” Trần Thùy Mai đã xây dựng Phương Thảo, cô học sinh trường âm nhạc Huế quê ở Cát Sơn lớn lên từ quê hương gian khổ mà anh hùng, một cô gái rất giàu tình yêu và nghị lực. Thảo là hình ảnh của “những cây dương mảnh khảnh, lả lướt mà sức mạnh vô song… đưa tấm thân nhỏ nhắn ra chắn bao nhiêu cơn gió cát” ở quê nhà.

Nhân vật nữ được xây dựng khá thành công của Thùy Mai là cô hướng dẫn viên du lịch trong “Huyền thoại về chim phượng”. Phượng vừa giữ được vẻ đẹp truyền thống của người con gái Huế, vừa mang được những vẻ đẹp mới của cuộc sống hôm nay… Phượng dịu dàng, lịch sự, khiêm nhường, nhưng cũng rất chủ động trong giao tế, linh hoạt sáng tạo, hứng thú trong công việc, mạnh dạn tự tin vào sự hiểu biết và sức trẻ của mình. Khác với vẻ đẹp của người con gái Huế xưa gợi nhớ đến cành liễu ẻo lả, Phượng là một “búp thông non” đang lên xanh tràn đầy sức sống. Xây dựng hình ảnh nhân vật Phượng trong sự so sánh với Bội Hoàn, qua cái nhìn từng trải của ông già khảo cổ, Thùy Mai muốn ca ngợi sự lớn dậy của một lớp người, và chỉ ra cách nhìn vẻ đẹp đích thực của người con gái Huế trong cuộc đời mới.

Có thể nói với những truyện ngắn giàu chất thơ và có sức thu hút người đọc như vừa kể trên, Thùy Mai đã có những đóng góp đáng kể vào việc xây dựng những hình tượng nhân vật phụ nữ mang đậm nét bản sắc của một vùng quê. Và, cũng chính từ đó càng làm rõ hơn bản sắc của người viết.

Ngoài ra, một số truyện ngắn của Trần Thùy Mai có xu hướng đi vào những đề tài mô tả đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người với cả những ý nghĩ, lo toan thầm lặng của họ (“Một phút”, “cuốn sách”, “Một chút màu xanh”). Có thể có những ý kiến khác nhau khi đọc những truyện này, nhưng dụng ý của tác giả thì khá rõ. Với khả năng quan sát tinh tế, với thế mạnh của cái nhìn từ góc độ một cây bút nữ, Thùy Mai đã chăm chú theo dõi thái độ xử sự của con người trong những hoàn cảnh tưởng chừng như là “thử thách”. Chị cũng đã lắng nghe được cả những nỗi băn khoăn, day dứt của họ; để rồi từ đó phê phán những biểu hiện tiêu cực, khêu gợi những mặt tích cực trong đời sống nội tâm của mỗi người, và làm nổi bật lên những yêu cầu về nhân cách mà con người mới cần phải có.

Tất nhiên, khi thể hiện còn có chỗ phải bàn, nhưng rõ ràng vấn đề tác giả đặt ra cũng chính là vấn đề mà xã hội ta hiện đang quan tâm. Đó là chúng ta vẫn có thể xây dựng được một cách sống, một lối đẹp, trong hoàn cảnh mức sống chưa cao. Nếu hiểu vậy thì ý nghĩa của những câu chuyện ấy đâu phải chỉ “nho nhỏ trong bốn bức tường”. Và ta cũng hiểu hơn tấm lòng người viết muốn góp thêm “một chút màu xanh” cho cuộc sống.

Trở lên, là một vài cảm nhận về những mặt mạnh, những đóng góp của Thùy Mai. Mặt khác, người đọc cũng dễ dàng nhận thấy những điểm còn hạn chế (nếu không gọi là non yếu) của tác giả.

Bên cạnh một số truyện ngắn hay, khá hoàn chỉnh trong kết cấu, linh hoạt trong các biện pháp thể hiện, (như “Huyền thoại về chim phượng”, “Bài thơ về biển khơi”, “Khúc nhạc rừng dương”…) vẫn còn những truyện ngắn kết cấu công thức, sơ lược (“Thương lắm ngoại ơi!”, “câu chuyện một gia đình”…). Ở những truyện này, có khi tác giả kéo dài không cần thiết làm vi phạm tính hàm súc nghệ thuật, tính dồn nén cô đúc của truyện ngắn, có khi tác giả lại phải nói to đến lạc giọng ở những đoạn kết để cho nổi chủ đề câu chuyện.

Thùy Mai thường dẫn chuyện khá khéo, nhưng cũng có những truyện người đọc thấy lộ rõ bàn tay sắp xếp của mình. Ở đó, hình như kỹ thuật đã thay thế cho vốn sống, sự tưởng tượng có lúc lấn át chuyện thật trong cuộc đời, không khỏi làm hạn chế sức thuyết phục bạn đọc. (“Việt Nam của bé”, “Hoa hướng dương”…)

Điều đáng bàn hơn cả là mức độ thể hiện các hình ảnh sự việc, và sự kết hợp giữa yêu cầu phản ánh và lý giải cuộc sống qua một số truyện ngắn của Trần Thùy Mai.

Nhìn chung truyện của Thùy Mai không tham nhiều chi tiết, sự việc, nhưng có những truyện mức độ thể hiện các hình ảnh và sự kết hợp giữa phản ánh cuộc sống và lý giải nó chưa thật hài hòa. Chẳng hạn, đọc truyện “Một chút màu xanh”, ai cũng thấy rằng tác giả đã có dụng ý khi cùng tả một căn phòng lúc hai anh chị mới cưới dọn về thì “xinh xinh, quét vôi, xanh nhạt, trang nhã”; nhưng rồi cũng căn phòng ấy, lúc hai anh chị hay cáu gắt, thiếu quan tâm đến nhau thì cùng với cái nắng mùa hè, căn phòng đã nóng lên gấp bội. Nhưng người ta thấy rằng cái nóng “nhân tạo” ấy đôi lúc được tác giả nhấn mạnh lên nhiều quá. Nào là “quanh đây chẳng ai trồng hoa hoét gì”, nào là “cái mùa hè chết tiệt”, nào là “rõ ràng căn phòng này chỉ còn là một cái nhà giam ngột ngạt” rồi đẩy đến quá lời hơn “căn phòng này, cuộc sống này”… Cách nhấn mạnh ấy, với ngôn ngữ ấy không khỏi làm cho người đọc đôi lúc cảm thấy nặng nề. Cũng như ở truyện “Một phút” lại kéo quá dài, đâu đó một vài chi tiết dễ làm cho người đọc phảng phất nhớ lại hình ảnh một anh giáo Thứ năm nào. Có người trách Thùy Mai không phải là không có lý.

Ngược lại, trong câu chuyện “Khúc nhạc rừng dương”, tình bạn của đôi nhạc sinh ấy tưởng như đến mức Bá Nha - Chung Tử Kỳ, nhưng hình như khi thể hiện Thùy Mai lại cố nén lại, từ lời văn đến ngôn ngữ đều tỏ ra chừng mực quá!

Cắt nghĩa những hạn chế trên đây có thể do nhiều nguyên nhân. Nhưng người đọc có thể thông cảm với tác giả, bởi lẽ, có ai khi mới vẽ những bức tranh đầu tiên mà lại có thể chủ động hoàn toàn trong đường nét và màu sắc?

Mỗi người viết thường có một “vùng quê” của mình có cách khai thác, thể hiện các đề tài thích hợp với hoàn cảnh, khả năng của mình, nhưng chúng ta vẫn muốn Trần Thùy Mai có những trang viết có sức nặng hơn, đề cập đến những vấn đề nóng bỏng trong cuộc sống sôi động hiện nay. Chúng ta hy vọng rằng, nếu có điều kiện thâm nhập cuộc sống sâu sắc hơn, được tắm mình giữa dòng thác cuồn cuộn của đời sống cách mạng của quần chúng, Trần Thùy Mai sẽ có thêm những bước tiến mới.

1-1984
P.M.N
(6/4-84)


---------------------
(*) Tập truyện ngắn của Trần Thùy Mai- NXB Thuận Hóa 1982.





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HỒNG NHUĐó là “Tình bậc thang” (NXB Hội Nhà văn 2006) và “Mặt cắt” (NXB Hội Nhà văn 2007) của một nữ thi sĩ mà cho đến nay không nhiều người biết đến, ít nhất là trong làng thơ. Vì một lẽ rất giản đơn: chị mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam vài ba năm nay thôi.

  • FAN ANHTrong cuộc sống của tất cả chúng ta, đôi khi nụ cười không đồng nghĩa với sự hạnh phúc, cũng như nước mắt không phải bao giờ cũng đồng điệu với nỗi đau. Chính vì thế, mặc dù tiểu thuyết Ba ơi, mình đi đâu? của Jean Louis Fournier là một tác phẩm có thể “gây ra” không ít những tiếng cười, nhưng cảm xúc thanh lọc (Catharsis) mà cuốn sách nhỏ này mang lại cũng lớn lao như bất kì một vở bi kịch nào.

  • Ngày 6 tháng 4 năm 2007 tại Hà Nội, chúng tôi đến thăm nhà thơ Dương Tường tại nhà riêng. Dương Tường ngồi sau một chiếc bàn nhỏ và thấp chất đầy sách vở và ly tách giữa một căn phòng rộng dùng làm phòng triển lãm tranh. Tranh treo kín các tường.

  • ĐOÀN TUẤNTrong tâm tưởng của tôi, thi sĩ Nguyễn Bính là một người có dáng gầy, vóc nhỏ, gương mặt nhẹ nhõm với đôi mắt sáng, tinh anh, mũi dọc dừa và cái miệng cân đối. Tóc Nguyễn Bính không bao giờ để dài. Áo quần Nguyễn Bính thường có màu sáng. Ông đi lại nhanh nhẹn, nhiều khi vội vã. Gương mặt Nguyễn Bính là một gương mặt ưa nhìn bởi trong đó chứa đựng chiều sâu của nhiều ý nghĩ và sắc mặt thay đổi theo tâm trạng thất thường của ông.

  • PHẠM QUANG TRUNGTôi muốn nói đến bài “ Tạm biệt” (hay “ Tạm biệt Huế”) của nhà thơ Thu Bồn. Dẫu đã có nhiều bài thơ hay, rất hay lấy cảm hứng từ Huế, tôi dám quả quyết là nó sẽ vẫn được nhắc tới như là một trong những bài thơ hay nhất. Xin kể một kỷ niệm đẹp riêng với tôi.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊNâng hợp tuyển “Hải Bằng” (HTHB) sang trọng và trĩu nặng trên tay, thật nhiều cảm xúc tràn đến với tôi. Cuốn sách được gia đình nhà thơ Hải Bằng tặng cho tất cả những người đến dự ngày giỗ lần thứ 11 của nhà thơ được tổ chức tại một ngôi nhà mới xây ở cuối đường Thanh Hải - lại là tên nhà thơ quen thuộc của xứ Huế.

  • TÔN PHƯƠNG LANCũng như những nhà văn mặc áo lính thuộc thế hệ đầu và tờ tạp chí Văn nghệ quân đội của họ, Trần Dần là một tên tuổi quen thuộc mà gắn với tên tuổi ông là cuốn tiểu thuyết Người người lớp lớp. Là một học sinh thành phố, khi Cách mạng tháng Tám thành công, 19 tuổi, ông bắt đầu hoạt động cách mạng rồi đầu quân tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động văn nghệ.

  • Hồ Thế Hà sinh năm 1955, quê ở thị trấn Ngô Mây, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Anh tham gia quân đội từ 1978 đến 1982, chiến đấu tại Campuchia. Hồ Thế Hà tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Huế năm 1985 và được giữ lại trường. Hiện anh là Phó Giáo sư, Tiến sĩ đang giảng dạy tại khoa Ngữ văn, trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Anh đồng thời là Ủy viên Ban chấp hành Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Huế nhiệm kì: 2000 - 2005; 2005 - 2010. Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế, nhiệm kì 2000 - 2005; 2005 - 2010.

  • PHẠM PHÚ PHONGĐúng vào dịp Huế chuẩn bị cho Festival lần thứ III năm 2004, Vĩnh Quyền cho tái bản tập ký và truyện Huế mình, tập sách mới in trước đó chưa tròn một năm, năm 2003. Trước khi có Huế mình, Vĩnh Quyền đã có nhiều tác phẩm được bạn đọc chú ý như các tiểu thuyết lịch sử Vầng trăng ban ngày, Mạch nước trong, Trước rạng động, các tập truyện Người tử tù không chết, Người vẽ chân dung thế gian, Màu da thượng đế, tập bút ký Ngày và đêm Panduranga và tập tạp văn Vàng mai.

  • ...Không có sự lựa chọn nào cả, tôi đến với thơ như một nghiệp dĩ. Tôi nghĩ thơ là một thứ tôn giáo không có giáo chủ. Ở đây, các tín đồ của nó đều được mặc khải về sự bi hoan trần thế và năng lực sẻ chia những nỗi niềm thân phận. Cuộc đời vốn có cái cười và cái khóc. Người ta, ai cũng có thể cười theo kiểu cười của kẻ khác, còn khóc thì phải khóc bằng nước mắt của chính mình. Với tôi, thơ là âm bản của nước mắt...

  • …Có thể thấy gần đây có những xu hướng văn học gây “hot” trong độc giả, ví như xu hướng khai thác truyện đồng tính. Truyện của tôi xin khước từ những “cơn nóng lạnh” có tính nhất thời ấy của thị trường. Tôi bắt đầu bằng chính những câu chuyện giản đơn của cuộc sống hàng ngày, những điều giản đơn mà có thể vô tình bạn bước qua…

  • NGÔ KHAKỷ niệm 40 năm ngày Bác Hồ ra đi, chúng ta đều nhớ lại di chúc thiêng liêng của Bác để lại cho nhân dân ta. Đó là tình cảm và niềm tin của Bác đối với chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009 và hết)

  • Nguyễn Khắc Phê quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh. Anh xuất thân trong một gia đình trí thức. Bố anh từng đậu Hoàng Giáp năm 19 tuổi. Các anh trai đều là bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ nổi tiếng như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Dương, Nguyễn Khắc Phi... Có người nói vui “Nguyễn Khắc Phê con nhà quan tính nhà lính”.

  • VĂN CẦM HẢI(Đọc “Ngôi nhà vắng giữa bến sông”, Tập truyện ngắn của Nguyễn Kiên - Nxb Hội Nhà văn, 2004)

  • NGUYỄN QUANG SÁNGMấy năm gần đây, dân ta đi nước ngoài càng ngày càng nhiều, đi hội nghị quốc tế, đi học, đi làm ăn, đi chơi, việc xuất ngoại đã trở nên bình thường. Đi đâu? Đi Mỹ, đi Pháp, đi Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc... Nhà văn Văn Cầm Hải cũng đi, chuyến đi này của anh, anh không đi những nơi tôi kể trên, anh đi Tây Tạng, rất lạ đối với tôi.

  • HÀ KHÁNH LINHDân tộc ta có hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, đã xảy ra nhiều cuộc nội loạn ngoại xâm, nhiều thế hệ người Việt Nam đã cầm vũ khí ra trận giết giặc cứu nước, nhưng mãi đến cuối thế kỷ 20 những chàng trai nước Việt mới phải đi giữ nước từ xa, mới đi giữ nước mà mang trong lòng nỗi nhớ nước như tứ thơ của Phạm Sĩ Sáu.

  • LÊ VĂN THÊSau sáu năm (kể từ 2002) nhà văn Cao Hạnh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, (cuối năm 2008); Hội Văn học nghệ thuật Quảng Trị mới có thêm một nhà văn được kết nạp. Đó là Văn Xương.

  • NGÔ MINHTrong đợt đi Trại viết ở Khu du lịch nước nóng Thanh Tân, anh em văn nghệ chúng tôi được huyện Phong Điền cho đi dạo phá Tam Giang một ngày. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Thế là người dẫn đường. Anh dân sở tại, thuộc lòng từng tấc đất cổ xưa của huyện.

  • PHẠM PHÚ PHONG…Làng em đây, núi rừng Trung Việt cũng là đây/Xưa kia đã hùng dũng đánh Tây/Giờ lại hiên ngang xây thành chống Mỹ/Đường Trường Sơn là đường chân lý/Đã cùng quê em kết nghĩa hẹn hò… (Quê em, 1971)