Bài thơ kiếm sắc

09:53 06/06/2017

VĨNH QUYỀN

Nước loạn, sứ quân nổi lên cát cứ khắp nơi. Động chủ họ Trương ngủ mơ rồng vàng. Đám văn nhân môn khách quả quyết điềm lành, ứng chân mạng đế vương, thống nhất thiên hạ.

Minh họa: Bửu Chỉ

Trương cả mừng, mở kho mộ binh, dựng cờ dưới chân núi Ngọ. Văn nhân dưới trướng tra lục sử sách, tìm ra tên chữ của núi. Từ đó, trong vùng phải gọi Ngọ thành Nghĩa.

Nghe các sứ quân đều có bảo kiếm, chém sắt như chém bùn, Trương ngày đêm ăn ngủ không yên, những mong được hơn người. Chờ mãi chẳng thấy duyên kỳ ngộ, Trương đành gọi thợ giỏi, lệnh rèn kiếm sắc. Hỏi:

- Bao lâu thì xong ?

- Thưa ba năm.

- Chậm quá chăng ?

- Nhưng tướng quân không cần thuật luyện kiếm. Việc đánh giết đã có thủ hạ lo, cần gì kiếm sắc ?

- Bảo kiếm là vật trấn quốc thời loạn.

- Vậy ngài cần kiếm linh chứ không phải kiếm sắc.

- Kiếm sắc mất ba năm, huống chi kiếm linh ?

- Không, xin tướng quân chuẩn bị, ngày mai tôi dâng kiếm linh !

Lễ đón kiếm rầm rộ, uy nghi. Khi chỉ còn hai người, Trương xem kiếm, cả giận :

- Sao bằng gỗ ? Mi khinh ta đến thế à ?

- Thưa, đã linh thì hà tất gỗ, thép ?

- Thế linh ở chỗ nào ?

- Thưa, việc đó đã có bọn văn nhân lo liệu !

Hiểu chuyện, Trương cả mừng, đổi giận làm vui, ban thưởng hậu hỉ, lại cho con trai thợ rèn theo hầu dưới trướng.

Thơ phú ca ngợi kiếm linh của Trương động chủ loan truyền gần xa. Kẻ sĩ khắp nơi lục tục tìm đến dưới cờ. Tất nhiên chưa một ai được tận mắt thấy sức kiếm ra sao.

Mấy năm sau, Trương thống nhất được thiên hạ, dựng nghiệp đế. Kiếm được thờ nơi võ miếu trang nghiêm.

Lại nói chuyện con trai thợ rèn. Y được nuôi dạy trong tướng phủ, thành một văn nhân, giữ chân tế tửu, hết lòng phụng sự đế nghiệp. Gặp kỳ khánh thọ, tế tửu làm bốn bài thơ liên hoàn tán dương ân đức nhà vua. Lại dành hẳn một bài cho kiếm. Lúc ấy thợ rèn ốm nặng. Tế tửu là người hiếu thảo, vừa chăm sóc cha vừa làm thơ. Nghe con trai ngâm ngợi, thợ rèn gọi lại bên, trăn trối:

- Trong đời, ta quý nhất văn nhân, mà cũng khinh nhất văn nhân. Vì sao thì ta không rõ. Có điều con chớ làm thơ như thế. Trước khi nhắm mắt, ta muốn nói sự thật. Kiếm thờ trong võ miếu chẳng qua là một cây gỗ vô dụng!

Thợ rèn chết rồi, con trai suy kiệt. Phần khóc cha, phần xót mình. Lấy cớ thọ tang, tế tửu xin miễn dự lễ chúc thọ vua. Cũng từ đó, y ngày đêm chìm đắm trong men rượu, lại làm thơ ám chỉ thực chất của trấn quốc bảo. Có đám văn nhân vốn ganh ghét từ lâu, bài thơ bị tố giác.

Án xử ngay tại võ miếu. Vua bảo:

- Ta chém mi bằng kiếm thờ, xem có thực bằng gỗ không !

Nhác trông ánh thép quý loang loáng trên đầu, viên tế tửu cả sợ lại cả mừng.

5-89
V.Q
(TCSH42/04&05-1990)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Truyện ngụ ngôn của TRIỀU NGUYÊN

  • Truyện ngắn “Sóng ngoài khơi” đã tránh được gần như tất cả những trò “dỏm” của nhiều người cầm bút hôm nay: Viết về tình dục với cung cách ồn ào như thể đây là món tân kỳ về tư tưởng và nghệ thuật nhưng thật ra chỉ cho thấy thói a dua thời trang và sự thiếu hiểu biết về văn chương đương đại. Với một bút pháp tinh tế, thông minh, và kiềm chế, “Sóng ngoài khơi” đã thể hiện được bản lãnh văn chương của một tác giả trẻ khi đụng tới đề tài nằm ngoài kinh nghiệm bản thân như Khánh Phương. PHAN NHIÊN HẠO

  • 1. Con đường nhầy nhụa dẫn xuống chân dốc đã được ai đó rắc lên ít cát khô. Trời nắng hay mưa thì con đường vẫn thế. Để đi được vào cái xóm tự lập này không còn con đường nào khác.

  • Vào cái giây phút định mệnh ấy, tiếng hát nức nở của Khánh Ly vọng tới: Đêm nay hòa bình sao mắt mẹ chưa vui, Mẹ hãy ra đây nhìn phố ngập người. Đêm nay hòa bình, không nụ cười trên môi. Nhìn quanh đây không ai còn lại…vỗ về cơn say dịu dàng của tôi.

  • Anh chị dọn về đây từ hồi mới cưới nhau. Căn phòng xinh xinh, quét vôi xanh nhạt, trang nhã và sạch sẽ.

  • PHẠM XUÂN PHỤNGNgười thợ học việc rán một hơi cuối cùng. Đó là hơi quyết định sự thành bại của sản phẩm. Đốm thủy tinh lỏng đỏ rực đầu ống xuy phồng to lên, đẹp như một quả cầu lửa sáng chói. Đoạn, anh đưa quả cầu lửa vào lỗ khuôn rồi vừa thổi vừa xoay vừa nhấc dần đầu ống xuy đồng lên cao. Cuối cùng, bằng một động tác dứt khoát, anh xoáy mạnh, cắt lìa đầu ống khỏi phần còn lại của quả cầu lửa hơi nhô ra trên lỗ khuôn.

  • NGUYỄN BẢNTôi nhổ vào hai lọ crem Tokalon trắng và hồng, loại crem Pháp đắt tiền đang dùng dở của bà, rồi vảy nước bọt đi cho mất dấu.

  • NGUYỄN ANH ĐÀONàng vào Phú Xuân đã gần hai tháng. Giữa cảnh ngựa xe tấp nập, khăn áo lượt là, muôn hồng nghìn tía của chôn kinh thành, không làm cho lòng nàng nguôi ngoai nỗi nhớ cố hương. Ở cái làng nằm khuất dưới những rặng liễu bên Hồ Tây, vào mùa này rực lên màu vàng của những cuộn tơ óng ả vắt trên bờ giậu. Gió thu lồng lộng mơn man như những ngón tay thiếu nữ nhẹ bứt những chiếc lá đào úa vàng rắc xuống hồ làm thành những chiếc chong chóng quay tít trên mặt nước. Nàng đắm chìm trong nỗi nhớ nhà, nhớ kinh thành cũ với những đền đài, chùa miếu, tuy không thật uy nghi tráng lệ nhưng in đậm dấu vết của thời gian mà mỗi triều đại như khắc hằn trên đó những nét tinh hoa của một nền văn vật nghìn năm.

  • BÙI MINH QUỐCHoạ sĩ Từ Thành bạn tôi, vào thời khốn đốn nhất phải xoay sang làm mặt nạ để sống qua ngày. Ông thường làm các mặt nạ hề đủ loại, mặt ông địa, mặt chó, mặt khỉ, mặt gấu... và cả các thứ mặt tướng cướp. Khách hàng của ông toàn trẻ con. Vào mùa nắng ráo- mùa vui chơi của lũ trẻ, ông bán khá chạy. Biết tụi nhỏ chẳng có mấy tiền, ông bán rẻ, lấy công làm lãi, nên cũng chỉ tạm đủ sống. Nhưng vào mùa mưa gió bão bùng, hàng ế, thì ông đói.