Bà ơi...

08:08 12/03/2010
PHẠM NGỌC CẢNH                        Bút ký Sau này tôi mới biết cụ Đỗ Tất Lợi. Dành dụm mãi tiền sinh hoạt phí của một anh lính, tôi ra cửa hàng sách quốc văn. Mua một cuốn Nam dược... về đặt đầu giường như cái gối. Gối lên những kỷ niệm về cây, về lá để nhớ thương bà. Những trang viết về cây ngải cứu, cây thạch xương bồ, cây bồ công anh hay như những bài thơ. Những trang viết về củ nghệ, củ gừng, quả mướp đắng, trái me chua phúc dày như kinh Phật.

Bà tôi không viết thành trang. Bà cấy trồng vào tuổi thơ cháu một rừng cây lá. Tôi mang hết vào cuộc đời khi tuổi mới mười ba. Đó là mùa xuân năm 1947. Tôi đi làm liên lạc cho bộ đội Vệ quốc của Trung đoàn “ Trăm lẻ ba”. Bà tôi lặng lẽ chờ ngoài cổng. Dúi vào túi áo cháu đích tôn một miếng gừng, một nhúm hành hoa. Cái thứ hành hoa mà nửa thế kỷ nay tôi nghiệm ra là đặc sản của miền Trung nắng gió. Củ hành chỉ nhỉnh hơn hạt ngô lai. Thanh Hóa gọi là hành dăm. Hà Tĩnh quê tôi gọi hành tăm. Qua Đèo Ngang gọi là củ ném. Rồi cái tên cứ kéo dài dằng dặc với miền Trung. Với bà tôi, củ hành hoa ấy là thần dược.

Mùa đông năm 1946, Tây cai trị bị cơn bão Cách mạng Tháng 8 của ta quét giạt sang Lào. Chúng tự vẽ vời ra một thời cơ. túm tụm nhau lại phía Lạc Xao của Lào rồi theo quốc lộ 8 lấn về Hà Tĩnh. Chú tôi bị thương vào tay phải ở mặt trận Na Pê. Chữa lành vết thương ở Vinh nhưng sót một mảnh đạn ria bằng cái vẩy ốc vặn. Vẩy đạn nằm ở phần mềm giữa ngón tay cái và ngón trỏ. Về nhà ít hôm, chú tôi kêu nhức. Cả nhà bàn tính đưa ra Vinh. Bà tôi bảo “ Để đó cho tau”. Một thứ mệnh lệnh dứt khoát và nghiêm túc như bác sĩ chủ nhiệm khoa ngoại bây giờ.

Bà tôi giã nhỏ một nắm hành hoa. Âp vào chỗ ngón tay chú tôi có dấu cộm của vật rắn muốn tìm đường thoát ra. Sau một đêm, tháo băng ra. Quả là thần diệu. Cái vẩy đạn màu đồng được nắm hành kia lôi ra thật. Đó là ca phẫu thuật vết thương chiến tranh lần đầu tiên tôi thấy. Rồi tôi đi lính Vệ quốc. Rồi cuộc đời binh nghiệp dắt qua bao trạm phẫu tiền phương, qua các phòng mổ lớn ở bệnh viện tuyến cuối. Một chiến dịch như Tết Mậu Thân ở Huế, mắt tôi đã thấy hàng trăm mảnh kim loại được gắp ra từ trăm cơ thể của người lính. Vẫn không quên cái vẩy đạn được bà tôi rút ra bằng “ sức hút” của nắm hành hoa.


Cả đời người, chưa thấy ai gọi bà tôi là “bà lang” cả. Nhưng rõ ràng bà tôi và mảnh vườn mọc đầy cây lá là một trạm xá cơ sở. một bệnh viện tuyến đầu như đời nay vẫn gọi. Tôi không rõ xuất xứ cái nghề tâm phúc trong tay bà tôi. Tôi lớn lên sau Cách mạng Tháng 8, sớm bị nhiễm cái thói đi tìm xuất xứ mỗi cuộc đời ở chỗ tham gia phong trào cách mạng này, khởi nghĩa nọ mà quên tìm xuất xứ cái “ mát tay hay thuốc” của bà.

Bà tôi chỉ cho ông tôi trồng mấy khóm hoa hồng bạch trước cổng. Bà bảo “đó là thuốc”. Ba đời nhà tôi lớn lên ở vùng nắng gió bất kỳ. Lại nhờ bà mà coi khinh thứ khí trời khắc nghiệt ấy. Đứa nào hơi ho hắng vài tiếng, thấy đau cộm ở cuống họng là báo ngay với “bác sĩ bà”. Bà ngắt mấy cánh hoa. Bà mở hũ lấy vài cục đường phèn. Bà vắt kiệt nước một quả chanh vào. Cái chén thuốc ấy được hấp trên nồi cơm vừa cạn nước. Rồi uống, rồi khỏi. Nhưng tệ hại hơn cả là rồi quên bà. Rồi lớn lên thành người, rồi đi đó về đây. Chỉ chú mục vào thuốc viên, thuốc nước, tiêm chích đủ loại biệt dược mà quên dần thứ biệt dược nguyên sơ ở vườn nhà và bà tôi là người tế độ.

Vườn nhà tôi có dăm thước đất. Bà tôi trồng lên đó không chỉ là cây xanh mà trồng cả “ tâm thức giúp người”. Ông tôi là tay chơi và hay rượu. Bà tôi dành cho cả một khoảnh gia vị lá, củ để ngăn ngừa mọi thứ độc hại theo cái vui mà lẩn vào cơ thể. Bố tôi, các chú tôi là dân đá cầu, đá bóng. Bà tôi dành cho một cụm cây náng, một vạt hành hoa, một đám củ ấu Tàu. Mẹ tôi và các cô, dì được bà tôi dành cho nửa vườn. Này là bồ công anh, ích mẫu, ngải cứu... Và những tai họa bất thường không kiêng dè lứa tuổi nào là bà tôi trồng sẵn, cho mọc sẵn búi cỏ mần trầu, búi cỏ nhọ nồi, khóm dâu. Đặc biệt là phần thần tiên của cây, của lá dành cho cháu chắt, chút chít của bà. Bởi thứ gì mọc trên đất của bà đều dôn dốt chua, thoang thoảng bùi, phơn phớt ngọt. Đó là quà dỗ dành. Đó là thứ mà qua chuyện kể của bà, hoa quả trong vườn là cổ tích “ Ăn vào rồi mọc cánh bay lên”, “ Ăn vào rồi mạnh hơn Võ Tòng đả hổ”.

Tôi không sao quên được mùi vị, ước mơ trong chùm quả “ lồng đèn” của bà tôi mọc ở bờ rào. Trời ơi, lớn lên tôi mới biết trong thứ quả ấy có tố dược an thần, nuôi dưỡng thần kinh. Tôi ăn thứ quả ấy suốt tuổi thơ được ở cạnh bà, Và hơn sáu mươi năm nay, qua rất nhiều “mưa nắng” của khí trời, của nhân thế. Tôi ơn bà sâu nặng. Bởi tôi luôn biết vượt qua ngang trái bằng những bước bình tâm.

Bà tôi chăm sóc cả nhà, nuôi dạy con cháu bằng công việc siêng năng của một tài nội trợ. Trừ việc cúng giỗ trong nhà tôi không thấy bà tôi đi chùa, lễ Phật. Chỉ thi thoảng thấy bà tôi hướng về mặt trời. Nhà tôi ngoảnh về hướng đông và mặt trời lúc rạng đông còn dịu dàng tia nắng.

Tôi thấy bà tôi nhìn thẳng vào vầng sáng ấy mà lẩm bẩm điều gì. Không có hương khói, lễ vật gì. Chỉ như một cuộc đối thoại ngắn. Hay bà tôi cầu khẩn, van xin mặt trời một thứ gì. Nào tôi có rõ. Điều tôi tin chắc là không có ma thuật gì trong việc làm này. Vì đến cuối năm 1966, tôi cúi xuống vái lạy vĩnh biệt bà. Bà tôi vẫn lặng lẽ hiền từ như ngày dắt tôi đi hái thuốc dưới chân thành cổ của tỉnh Hà Tĩnh quê hương.


Chỉ một lần trong đời tôi. Tết Đoan Ngọ năm Bính Tuất. Sau những phong tục nhuộm móng, giết sâu bọ, gội lá thơm, bà tôi “ tuyên bố” dõng dạc:

- Năm ni (nay) thằng Cảnh tròn giáp, (tôi sinh năm Giáp Tuất) cho đi với bà.

Đúng ngọ, hai bà cháu lên đường. Giữa trưa tết mồng năm tháng năm âm lịch đố ai tìm ra con rắn trong bụi, con thạch sùng trên tường. Nắng khu Bốn vượt kết ngưỡng khắc bạc. Tưởng không còn cái vạch nào nữa của nhiệt độ để nắng leo lên. Bà tôi trao tôi cái nón.

- Đội cái ni (này) con.

Tôi chụp cái nón thay cái mũ và hấp hửng lên đường. Nhà tôi cách thành cổ một lạch nước phòng ngự của triều Nguyễn. Đã năm 1946, cổng thành mở rộng và cái bóng ông lính khố vàng đứng canh in vào nền trời đã bị xóa mất.

Cây lá quanh thành cổ mênh mông hơn vườn nhà tôi. Cây mọc từ mạch xây gạch đá. Cây mọc chật lối đi. Cành vướng tầm tay hái. Cứ ngan ngát một thứ hương hoa trong truyện kể hơn là sự hiện hữu trong đời. Bà tôi cúi xuống ngắt hái và gọi tên từng loài. Này thiên niên kiện, hoắc hương. Nghe như âm vang từ pho sách chữ nho mà ông tôi vẫn đọc. Này cam thảo đất. cỏ đĩ, núc nác. Nghe như cối xay, chày giã dân gian, mộc mạc trong xóm, trong phường. Như một thứ ví giặm Nghệ Tĩnh, bà tôi hát trầm trầm lời cảm tạ đất trời cho lộc trong đất, cho phúc trên tay.

Qua chỗ cỏ mọc lúp xúp, bà tôi ngồi xuống vuốt ve.

- “ Năm ni mọc tốt hè (Năm nay mọc tốt nhỉ). Nói với cây như với người. Bà tôi là vậy. Tôi chạy đến

- Cây gì đó bà ơi?

- Cây lọ nghẹ (Tiếng quê tôi lọ nghẹ là nhọ nồi. Đó là cây nhọ nồi).

Bà tôi giảng về cây. Có lẽ ở Đại học Dược cũng vậy thôi. Bà tôi bảo “ hái về, rửa sạch, giã nhỏ, vắt nước, uống. Cầm máu nhanh chóng mà vô hại”.

Sách của cụ Đỗ Tất Lợi dạy: “ Là loại thảo, mọc hoang. Thu hái, giã, uống, cầm máu. Không có tác dụng phụ...”

Chỉ khác nhau ở chữ dùng. Và khác nữa ở chỗ cụ Đỗ Tất Lợi là dược sĩ, là học giả. Và bà tôi là bà của tôi. Nhưng giống nhau như hai giọt nước. Đó là phát hiện ra báu vật trên đất đai nước mình.

Tôi hỏi:

- Sao lại gọi là lọ nghẹ hở bà?

Bà tôi ngắt lá, vò trên đầu ngón tay. Nước trong lá tứa ra, đen dần như một thứ nhọ nồi.

- Sao bà không hái lá này?

- Thứ ni dùng lá tươi. Thứ ni dễ mọc. Mùa nào cũng sẵn.

Tôi mới mười hai tuổi. Chưa thể nào cảm nhận hết sự chảy máu, cầm máu tai họa của kiếp người. Nhưng cây nhọ nồi thì tôi nhớ. Tôi mang theo cuộc đời đầy nắng mưa.


Tôi vào chiến trường năm 1967. Cài băng tang bà nội lên mép áo mà vượt Trường Sơn. Sống mấy năm trời trong căn cứ cấp quân khu. Sâu khuất mịt mù từng dặm núi.

Có một lần, đoàn văn công Quân khu đóng quân gần một chòm dân. Đó là mấy gia đình người Tà Ôi lên núi cao tránh bom đạn của giặc Mỹ. Mùa nắng năm ấy nghiệt ngã. Nhưng nghiệt ngã hơn là tự dưng trời đổ ập mưa rừng. Mưa cho đá suối bốc khói rồi nắng vụt trở lại. Cái nắng trở lại như than lửa rang giòn. Cả chòm dân đổ bệnh.

Tôi sang thăm bà con. Tôi dắt theo cô y sĩ của đoàn văn công và hai thầy trò lặc lè hai túi thuốc. Tôi hỏi cô y sĩ.

- Bà con bị bệnh gì?

- Chắc là sốt.

- Thầy thuốc sao lại nói “ chắc là!”

- Dạ...

Chắc nhà trường chưa kịp dạy đến bài này. Ngày ấy học lái xe có ba tuần là ra trận, là vào binh trạm, là vào Trường Sơn ngay. Giáo trình dạy cô y sĩ này chắc cũng rút gọn. Tôi vạch áo một chú bé. Lấm tấm trên da những chấm hồng. Ngỡ là muỗi đốt. Nhưng dày quá. Tôi hỏi cô y sĩ:

- Có phải sởi không?

- Dạ...

Cô y sĩ trẻ quá. Chưa yêu. Chưa chồng. Trường chưa kịp dạy bài vỡ lòng về khoa nhi trước khi thành cô quân y sĩ của bộ đội Trường Sơn. Đành dạ... dạ... ậm ừ.

Tôi cầm tay cô gái Tà Ôi có tên là Areng. Cánh tay trên đỏ bầm vì nốt đỏ mọc như kê vãi.

- Có thuốc cho bà con không? Tôi hỏi cô y sĩ.

- Dạ...

Lại dạ! Và lần này cô y sĩ thân mến của tôi hành nghề. Có đun nước tiêm. Có phát từng gói thuốc viên vàng, viên trắng.

Tôi lẩm bẩm “lá nhọ nồi”, “lá nhọ nồi” và da diết nhớ bà tôi.

- Nhọ nồi để làm gì ạ? Cô y sĩ hỏi lại.

- Không phải nhọ nồi trên bếp. Anh đang nói lá nhọ nồi. Có lá ấy chữa được bệnh cho bà con.

Tôi đã miêu tả tỉ mỉ thứ lá cỏ, thứ cây cỏ mà trong một lần Tết Đoan Ngọ tôi đã học được ở bà tôi. Cô y sĩ lần ra rẫy, lội về nương. Đi năm bảy suối về năm bảy rừng mà tìm không ra cây cỏ nhọ nồi. Tôi nói vui “Thuở bọc trứng trăm con của bà Âu Cơ. Năm mươi người con về biển có mang theo cây nhọ nồi để phòng khi mưa nắng. Năm mươi người con lên rừng, ỷ rừng muôn lá chẳng mang theo”.

Trận sốt xuất huyết ở chòm dân Tà Ôi có người chết. Xót xa vô cùng mà tôi bất lực. Tôi tìm không ra lá nhọ nồi.


Trong một chuyến về đồng bằng Thừa Thiên, tôi tìm ra “thần dược” ấy. Như có bà tôi từ cõi âm dẫn đường. Tôi hỏi dân “Có trồng được không?”. Dân trả lời “Ai dư hơi mà trồng cỏ!”. Dân lại nói “Chỗ mô mà nó không mọc được, cỏ hoang, cỏ dại mà chú”. Tôi toan đỡ lời “Vậy mà có nơi không mọc. Đó là chòm dân Tà Ôi, ở gần doanh trại văn công”. Dân nói “Chú cứ mang cả cây, cả già. Chú ném đại ra rìa suối”

Tôi làm theo lời dân chỉ bảo. Rồi chiến trận ào lên thành cái Tết Mậu Thân. Sau chiến dịch. Tôi rời chiến trường. Cứ mang máng ở rìa suối Ut, Ut gì đấy trên Trường Sơn cây tôi trồng đã mọc.

Một thứ tốt tươi như phúc lộc của bà tôi.

Năm cuối thế kỷ XX
P.N.C
(132/02-2000)


 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).

  • PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.

  • PHẠM THỊ CÚC                       KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG                                        Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.

  • THÁI VŨ        Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.

  • PHƯƠNG HÀ                     (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.

  • LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.

  • PHẠM THỊ CÚC                         Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…

  • LÊ VĨNH THÁI                Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.

  • TRƯƠNG ĐÌNH MINH                                 Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...

  • DƯƠNG PHƯỚC THU                              Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.

  • TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.

  • PHẠM THỊ ANH NGA       Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.

  • TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.

  • CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...

  • NGUYỄN HỮU THÔNG                             Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)