Ba nhà thơ Việt ở Mỹ

15:58 20/01/2020

ĐỖ QUYÊN  

1.
Du Tử Lê
thường được xem là một trong bảy nhà thơ hàng đầu của nền văn học miền Nam Việt Nam trước năm 1975, cùng với Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chương, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Đinh Hùng, và Nguyên Sa. Cây thơ cuối cùng ấy đã hết còn lá xanh giữa mùa thu này.

Ảnh: Internet

Ra hải ngoại ngay từ 1975, ông là cây bút cựu trào hiếm hoi vẫn còn viết hay cho đến ngày tháng chót. Từ lâu, đây cũng là một trong không nhiều thi sĩ có nhiều tác phẩm được phổ nhạc. Trong dư luận công chúng, cả bài thơ lẫn bài ca “Khúc thụy du” (1968) đã có thể thay tên tác giả.

Trong hàng chục năm qua, với thi lực sung mãn (và có phần nào chạy nhanh hơn Nàng thơ), chàng thi-tử họ Lê xuất bản sách gần như mỗi hai năm, để rồi cuối cùng lưu lại “ở chỗ nhân gian không thể hiểu” gần 80 tác phẩm ở nhiều thể loại. Tuyển tập “em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình” (2019) là thi phẩm cuối cùng; còn trong năm 2018, tại thành phố Hồ Chí Minh đã có 4 đầu sách được xuất bản và tái bản.  

Ở tập “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới” (2010), thi sĩ thể hiện rất rõ sự càng thêm điêu luyện của mình khi giữ chắc âm nhịp làm cho ý tưởng và ngôn từ bay lên trong các thể thơ tự do mang tinh thần hiện đại và hình thức cách tân.

“em nhường tôi chỗ ngồi
mang theo mọi chú thích”.

            (Bài bọc bên ngoài thảm kịch)

Kể từ đó, với câu thơ trên, “chỗ ngồi” không chỉ là nơi chốn địa lý; mà còn là chốn thơ!

Ra hải ngoại sau một thời gian viết trong lối cũ, Du Tử Lê đã kéo thơ hiện đại Việt cuốn vào thi pháp của riêng mình, và tạo ra những lối rẽ mới bằng cú pháp, ký hiệu, dấu… Nhiều khi làm khó chịu không chỉ các con mắt đọc thơ theo lối cũ.

Các dấu gạch chéo (slash) “/”, dấu gạch nối (hyphen) “-” , cách đặt dấu chấm, phẩy, không viết hoa tất cả các chữ, v.v... từng được “made by Du Tử Lê”. Hãy đọc chúng như các thể nghiệm lý thú!

Trích đoạn sau đây từ bài “chào năm mới ở garden grove, california,” nên xem như dấu ấn thơ đương đại Du Tử Lê:

“vẫn buồn (kép,)
chia đôi:
thiên đàng / địa ngục.
em chiếc nêm
chêm giữa - -
ngực đơm / môi /
triền thơ ấu nghiêng,
thiêng bầu vú mẹ.”


Không chỉ thân thuộc giữa cộng đồng người Việt ở trong và ngoài nước, Du Tử Lê là nhà thơ gốc Việt được giới thiệu nhiều nhất trong các trường đại học tại Mỹ.

Thơ họ Du đi với nhạc điệu như hình với bóng mà đó lại là tiêu chí đầu tiên của thơ Việt. Ngôn ngữ của ông đại chúng mà sang cả: già-trẻ, Tây-Ta, cũ- mới đều hiểu dù ít dù nhiều. “Tặng nhau chín ngón không đeo nhẫn”, “Ai nhớ ngàn năm một ngón tay” là hai trong nhiều câu thơ của ông mới nghe ta đã choáng và sẽ còn ngợp mãi. Không chỉ mỗi khi nghĩ đến những câu thơ đã có trên đời về… ngón tay.

Bài thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển” (1977) và trường ca “Mẹ và Biển Đông” (1989) là hai đứa con quý nhất mà tác giả trao gửi tiếng thơ mẹ Việt, trong ý nghĩa Du Tử Lê như một người thơ của tâm trạng di dân lớn lao.

Xét ở nhiều mặt, Du Tử Lê là một nhà thơ rất tiêu biểu cho thi ca hiện đại Việt Nam - một Việt Nam của chiến tranh và của tình yêu.


2.

Nhà thơ Trần Mộng Tú nổi tiếng trong thể thơ truyền thống với vần điệu ổn định qua các bài trữ tình đau đáu nỗi thương người thương thân.

Có cảm hứng dẻo dai, nữ thi nhân góp mặt liên tục trên hầu khắp báo chí hải ngoại và thành danh qua cuộc đời di tản ở xứ người.

Khác với đa số người viết theo phong cách và tâm trạng “chuẩn”, sự sống ở thi ca Trần Mộng Tú đến từ cái tâm thơ trẻ trung và sáng trong, cái mắt thơ sinh động và thông suốt trước các chuyện cũ cùng chuyện mới, chuyện Việt Nam cùng chuyện xa xứ. Nhờ thế chữ (nội dung, đề tài) ở mỗi bài dù cũ và quen được mang những nghĩa (tư tưởng, cảm xúc) mới và lạ. Lạ hóa, đổi mới nhẹ nhàng như không. Những bài thơ chưa hay, thường ở thể tự do, thì cũng lạ.

Nếu như ngày mai bỗng phục sinh tục lệ của 30 năm trước: chép thơ vào sổ tay, chắc rằng Trần Mộng Tú sẽ là tác giả Số 1 ở hải ngoại và có thể trong Top 10 của thơ Việt Nam đương đại.

Đây là đoạn kết của bài Tiễn Phạm Chi Lan, khóc thương người bạn văn vắn số mà tài năng, tâm huyết:

“Tôi gửi một giọt lệ
rơi trên lưng bàn tay
dẫu tay không với tới
cũng xót người hôm nay
.

Hay và lạ ở chữ “lưng”. Lưng bàn tay, mấy ai nổi viết thành thơ?

Trần Mộng Tú đã góp phần làm cho Thơ mới của thế kỷ trước vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” giữa thời hiện đại rồi hậu hiện đại. Xuất bản năm 2009 cuốn Thơ tuyển Bốn mươi năm của bà đã làm minh chứng!

3.
Nhà thơ Lê An Thế có tác phẩm “đầu tay” là Thơ Lê An Thế (2009), rồi cứ “thế” mà “an” nhiên mà “lê” đường thơ mới của mình cho đến hôm nay.

Đây là một trong các thi tập xuất sắc ở sự mới mẻ của thơ hải ngoại mà chúng tôi được biết trong mươi năm qua. Tràn ngập tâm thức hiện đại, nhà thơ đến thẳng với bạn đọc bằng cách nghĩ, cách sống của mình trong ngôn ngữ riêng.

Tập Thơ Lê An Thế có không ít bài mang kiểu nhìn bình dân trên nền tri thức, phàm tục trong đứng đắn.

Ở bút danh mới, tác giả không làm xấu hổ bút danh cũ từng náo hoạt văn học Việt ở nước ngoài thời hưng thịnh - khoảng năm 1995: Lê Bi! Ấy là bút danh từ ngày ông bắt đầu viết văn làm sách báo ở Mỹ. Lê Bi của thao thức thời cuộc, của phản biện lịch sử với sự ảnh hưởng từ Chế Lan Viên.

Mời độc giả thưởng thức toàn bộ một sáng tác của Lê An Thế được viết tại Nha Trang:

“Nghệ Thuật Ngồi Quán Một Mình  

Có lúc tôi là một làn sóng một ngoại ngữ một cánh cửa
một phụ âm
qua góc quán này một người đàn bà vừa đi vừa nói vào chiếc điện thoại di động
tôi lại thất tình
với chiếc điện thoại di động
khi người đàn bà nhét nó vào túi sau quần jean
mang theo một cái mông đầy sóng
giữa những bức tường không chịu chết này
chúng ta đứng ngồi chồng chéo
tôi lại như một cái chìa khóa
đang thử cắm vào tất cả
mà vẫn giữ được sự cô độc của mình.”

               Vancouver, xuân 2010 - thu 2019

Đ.Q  
(SHSDB35/12-2019)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHAN VĂN CÁCTuy Lí Vương Nguyễn Miên Trinh (1820- 1897) là con thứ 11 vua Minh Mệnh triều Nguyễn, tự là Khôn Chương, lại có tự là Quý Trọng, hiệu là Tĩnh Phố (tên ngôi vườn ông ở) lại có hiệu là Vi Dã. Tuy Lí Vương là tước phong cuối cùng của ông (trước đó từng có tước Tuy Quốc công năm 19 tuổi).

  • HOÀNG CẦM(Lời Bạt cho tập thơ ĐÓA TẦM XUÂN của Trịnh Thanh Sơn - Nhà Xuất bản Văn học 1999)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTác phẩm đầu tay của tôi - tập ký sự “Vì sự sống con đường” (NXB Thanh Niên, Hà Nội, 1968) viết về những đồng đội của tôi trong cuộc chiến đấu anh hùng bảo vệ tuyến đường 12A lên đèo Mụ Dạ, một đoạn đường trọng yếu trong hệ thống đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1965-1966, được xuất bản năm 1968, nhưng bài viết đầu tiên của tôi được in trên báo chí khi tôi vừa tròn 20 tuổi và đang học tại Hà Nội.

  • Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn. Anh sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930, quê ở xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhà thơ mất ngày 15 tháng 12 năm 1980, tại thành phố Huế.

  • LÊ VĂN DƯƠNG1. Quý II năm 2005, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh phát hành, nói đúng ra là tái bản lần thứ nhất cuốn Tản mạn nhớ và quên của Nguyên Ngọc. Cuốn sách dày 560 trang, tập hợp 15 bài viết của tác giả ở những thời điểm khác nhau nhưng đa phần là vào những năm 90 của thế kỷ XX và một vài năm mở đầu thế kỷ XXI.

  • PHAN CHÍNSau khi làm tròn vai một nhà chính trị, không giống như nhiều người khác, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm rời Thủ đô Hà Nội về Huế sinh sống.

  • NGUYỄN THỊ KIM THANH(Nhân đọc Tập thơ Ngày đầu tiên của Trần Hữu Lục - NXB Hội Nhà Văn, 01-2010)

  • HOÀNG NHƯ MAI - NGUYỄN VĂN HẤN Cùng với những tập quán cổ truyền ngày Tết dân tộc, từ cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, nhân dân ta đã có thêm một tập quán quý báu nữa: đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ.

  • NGÔ MINHTôi đọc và để ý đến thơ Đông Hà khi chị còn là sinh viên khoa văn Trường Đại học Sư phạm Huế. Thế hệ này có rất nhiều nữ sinh làm thơ gây được sự chú ý của bạn đọc ở Huế và miền Trung như Lê Thị Mỹ Ý, Nguyễn Thanh Thảo, Huỳnh Diễm Diễm.v.v... Trong đó có ấn tượng đối với tôi hơn cả là thơ Đông Hà.

  • NGUYỄN ANH TUẤNKhông gian trữ tình không là một địa danh cụ thể. Mặc dù có một “thôn Vĩ” luôn hiện hữu hết sức thơ mộng trên toàn đồ trực diện thẩm mỹ của bài thơ, với những màu sắc, hình ảnh, đường nét:…

  • KHÁNH PHƯƠNGNhân cách văn hóa của nhà văn có thể được biểu hiện bằng những hành động, thái độ trong đời sống, nhưng quan trọng hơn, nó chi phối nhân cách sáng tạo của nhà văn.

  • HỒNG DIỆUTrương Mỹ Dung đời Đường (Trung Quốc) có một bài thơ tình yêu không đề, được nhiều nhà thơ Việt Nam chú ý.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LANMột hôm chú Văn tôi (Hải Triều Nguyễn Khoa Văn) đọc cho cả nhà nghe một bài thơ mà không nói của ai.

  • NGUYỄN QUANG HÀTôi nhớ sau thời gian luyện tập miệt mài, chuẩn bị lên đường chi viện cho miền Nam, trong lúc đang nơm nớp đoán già đoán non, không biết mình sẽ vào Tây Nguyên hay đi Nam Bộ thì đại đội trưởng đi họp về báo tin vui rằng chúng tôi được tăng viện cho chiến trường Bác Đô.

  • LÊ HUỲNH LÂM(Đọc tập truyện ngắn “Thõng tay vào chợ” của Bạch Lê Quang, NXB Thuận Hóa, 11/2009)

  • LÊ VŨ(Đọc tập thơ Nháp của Ngọc Tuyết - NXB Thanh niên 2009)

  • NGÔ MINHÐọc lại Chiếu Dời đô, tôi bỗng giật mình trước sự vĩ đại của một quyết sách. Từng câu từng chữ trong áng văn chương bất hủ này đều thể hiện thái độ vừa quyết đoán dứt khoát với một lý lẽ vững chắc, vừa là một lời kêu gọi sự đồng thuận của triều thần với lời lẽ rất khoan hòa, mềm mỏng.

  • LÊ HUỲNH LÂMThơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • KHÁNH PHƯƠNGNgay từ thuở cùng Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương viết tuyên ngôn Tượng trưng, Trần Dần đã mặc nhiên khảng khái công bố quan niệm, thơ bỏ qua những biểu hiện đơn nghĩa của sự vật, sự kiện, đời sống, mà muốn dung hợp tất cả biểu hiện hiện thực trong cõi tương hợp của cảm giác, biến nó thành không gian rộng lớn tiếp biến kỳ ảo của những biểu tượng tiềm thức. Như vậy cũng có nghĩa, nhà thơ không được quyền sao chép ngay cả những cảm xúc dễ dãi của bản thân.

  • NGUYỄN CƯƠNGSư Bà Thích Nữ Diệu Không (tục danh Hồ Thị Hạnh) sinh năm 1905 viên tịch năm 1997 hưởng thọ 93 tuổi. Lúc sinh thời Sư Bà trụ trì tại Chùa Hồng Ân, một ngôi chùa nữ tu nổi tiếng ở TP Huế, đã một thời là trung tâm Phật giáo ở miền Nam.