Những người thích đùa phát hành lần đầu tại Việt , được in với số lượng lớn: 20.100 cuốn, khổ sách 13 x 19, in trong tháng 7/1982. Bìa do họa sĩ Lê Huy Văn (hiện đang là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Việt ) trình bầy. Các dịch giả: Thái Hà, Đức Mẫn và Ngọc Bằng chọn dịch từ các bản tiếng Nga và tiếng Pháp. Trước khi "Những người thích đùa" sang Việt đã được xuất bản và tái xuất bản đến hàng trăm lần. Tính đến năm 1982 riêng ở nước Thổ đã có 87 lần tái xuất bản. Ở I.Răng: 38 lần, Ở Liên Xô: 10 lần... Không biết ai là người viết lời giới thiệu, thật ngắn mà hàm xúc; lại sớm có đầu óc "Makettinh" đến thế. Hơn hai vạn cuốn sách tung ra thị trường trong một thời gian ngắn mà đã bán hết veo! May mà tôi cũng nhanh tay "thủ" được một cuốn, hiện được lưu giữ trong Tủ sách gia đình. Thời điểm ấy tôi đang làm phóng viên, biên tập viên của Tuần báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), được Nhà xuất bản Tác phẩm mới mời sang chụp ảnh cho cuộc gặp gỡ giữa tác giả Nêxin với Nhà xuất bản. Hồi đó Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt "tầm cỡ" lắm, toàn là những bậc đại gia văn sĩ. Ông Nguyễn Đình Thi là Tổng Thư ký hội. Ban Thư ký, Ban Chấp hành như: Tô Hoài, Bùi Hiển, Chế Lan Viên, Nguyễn Khải, Hữu Mai, Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Bổng, Nông Quốc Chấn, Vũ Tú ... Nhà văn Vũ Tú khi ấy được cử làm Giám đốc Nhà xuất bản Tác phẩm mới, là người chủ trì trong cuộc tiếp hôm ấy (1). Cùng dự có các anh Nguyễn Kiêm (Nhà văn, Phó giám đốc), nhà thơ Ngô Văn Phú (sau này là Giám đốc NXB), các biên tập viên như Xuân Tùng, Lại Nguyên Ân, Xuân Quỳnh. Dịch giả có các anh Thái Hà và Đức Mẫn. |
Tải mã QRCode
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Trong thơ trữ tình, lịch sử không tồn tại. Trường ca làm chúng tồn tại.
(Ý kiến của Nguyễn Văn Bổng, Xuân Cang, Nguyễn Kiên, Hà Minh Đức, Hoàng Ngọc Hiến)
Sách chuyên khảo “Sự ra đời của đế chế Nguyễn” của A.Riabinin tiến sĩ sử học Xô Viết nghiên cứu lịch sử xã hội - chính trị của Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX.
LÊ MINH PHONG
(Nhân đọc: Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương của Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nxb. Khoa học xã hội, 2017).
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Trong sách “Nhìn lại lịch sử”, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003, tác giả Phan Duy Kha viết bài “Một bài thơ liên quan đến lăng mộ vua Quang Trung”.
BÙI KIM CHI
“Tháng Tám năm Ất Dậu (1945)… Là công dân Việt Nam nên tôi đã tham gia phong trào chống xâm lăng…”. (Truyện ngắn Mũi Tổ).
TRƯƠNG THỊ TƯỜNG THI
Thuật ngữ triết luận gắn với tính trí tuệ hay tính triết lý trong văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng xuất hiện từ rất sớm.
NGUYỄN THẾ QUANG
Nói đến nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì không gì bằng đọc cuốn tự tuyện của anh. Số phận không định trước(*) đưa ta đi suốt cuộc hành trình sáng tạo nghệ thuật bền bỉ quyết liệt suốt năm chục năm qua của anh.
NGUYỄN HỮU SƠN
Thiền sư Vạn Hạnh (?-1018) gốc họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp (nay thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), thuộc thế hệ thứ mười hai dòng Thiền Nam phương Tì Ni Đa Lưu Chi.
NGUYÊN QUÂN
Một cảm nhận thật mơ hồ khi cầm trên tay tập sách, vừa tản văn vừa tiểu luận của nhà văn Triệu Từ Truyền gởi tặng. Sự mơ hồ từ một cái tựa rất mơ hồ bởi lẽ chữ là một thực thể hữu hiện và chiếc cầu tâm linh chính lại là một ảo ảnh rất dị biệt với thực thể hữu hạn của những con chữ.
TUỆ AN
Đọc “Ảo giác mù”, tập truyện ngắn của Tru Sa (Nxb. Hội Nhà văn, 2016)
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Ngô Thì Nhậm viết bài thơ Cảm hoài cách đây 223 năm, nhân đi sứ báo tang Tiên hoàng Quang Trung băng hà và cầu phong An Nam quốc vương cho vua Cảnh Thịnh.
NGUYỄN THỊ THANH LƯU
Đã từ rất lâu rồi, tôi hài lòng với việc đọc thơ trong màu xám của một nỗi tuyệt vọng - nỗi tuyệt vọng không bao giờ phân tách nổi trắng đen giữa đám sương mù xám đặc dường như chỉ có dấu hiệu đậm dần lên trong những lớp lang chữ nghĩa, trong cách ngắt nhịp, buông vần.
MAI VĂN HOAN
Lẽ ra tôi không viết bài này. Thiết nghĩ văn chương thiên biến, vạn hóa, mỗi người hiểu một cách là chuyện bình thường. Tốt nhất là nên tôn trọng cách nghĩ, cách cảm thụ của người khác.
TRIỀU NGUYÊN
1. Đặt vấn đề
Nói lái được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thông thường, và trong văn chương (một lối giao tiếp đặc biệt). Để tiện nắm bắt vấn đề, cũng cần trình bày ở đây hai nội dung, là các hình thức nói lái ở tiếng Việt, và việc sử dụng chúng trong văn chương.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
(Đọc tiểu thuyết “Huế ngày ấy” của Lê Khánh Căn, Nxb. Quân đội nhân dân, 2006).
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
(Đọc “Song Tử” của Như Quỳnh de Prelle)
VŨ TRỌNG QUANG
Trần Thiên Thị viết tắt TTT hay đọc là 3 Tê, tôi liên tưởng đến những T thơ ca:
GIÁNG VÂN
Tôi gọi chị là “ Người truyền lửa”.
LGT: Trong khi giở lại tài liệu cũ, tình cờ chuỗi thơ xuân năm Ất Dậu 2005 của Thầy Trần Văn Khê xướng họa với chị Tôn Nữ Hỷ Khương và anh Đỗ Hồng Ngọc rơi vào mắt.