Anh Nga với Nhật nguyệt dấu yêu

08:41 05/04/2011
ĐẶNG TIẾNNhật nguyệt dấu yêu là một mùa hoa trái trễ tràng, tập thơ đầu tay được tác giả gửi đến người đọc như một ủy thác, sau khi đã trải nghiệm cuộc đời, thực tế và văn học.
Phạm Thị Anh Nga là nhà giáo chuyên về ngữ học, nắm vững quy luật ngôn ngữ và văn học, khi cho ấn hành tác phẩm muộn màng, ắt cũng đã so đo:

Chẳng phải thơ đâu anh
chỉ là những cảm xúc
tức bờ
vỡ nhòa lên giấy

Lời tâm sự chân tình, từ tốn, chứng tỏ tác giả nắm vững kỹ thuật ngôn ngữ thơ hiện đại, cả ba mặt từ pháp, bút pháp và âm pháp.

Tập thơ ngắn nhưng mang quá trình một con sông dài, dài suýt soát với cuộc sống: “khởi hành từ những vần điệu đầu tiên, mới mẻ nhưng vẫn còn trong phạm trù thơ quen thuộc: Ngọn gió đi qua/ làm rớt cái hôn mà không biết/ em nhặt về/ gói ghém/ gởi cho ai” (Bé bỏng, 1988).

Hình ảnh, điệu thơ tình tứ, nghịch ngợm, trẻ trung. Bài thứ hai, tiếp theo, thiết tha hơn, nhưng vẫn cùng một phong cách: “Nước mắt/ là cái thước đo hờn dỗi/ mỗi lúc giận anh” (Em khóc, 1988).

Một bài thơ khác, tài hoa, tân kỳ, dặt dìu nữ tính:

ai tung bụi nắng
vào cỏ non xưa
em thiếu nữ

em nhặt nhạnh đến một đời
chưa tài nào gom đủ
dấu thu phai

ai gieo hò hẹn
vào thơ ngây
em một thuở

và mù tăm
mù tăm
mù tăm
            (Dấu lặng)

Thơ Anh Nga khơi dòng bằng những dạo khúc trong sáng, thắm tươi như tiếng chim chào đón bình minh; rồi có lúc quặn thắt buồn đau:

Ngôi nhà phế tích
chôn kín một góc hồn một góc tim một góc đời
khóa trái đến nghìn sau
những mùa xa xăm đã khép
có phải không gian vẫn đây mà thời gian thì đã vùi bụi cát
ôi ngôi nhà ký ức
rồi em sẽ ghé về thăm
thu dọn những ngóc ngách bộn bề
nhẩm ôn những mảnh đời vụn vỡ
rưng rưng một nỗi niềm xưa
                        (Ngôi nhà không ngõ phố)

Thơ Anh Nga thường là tỉnh táo. Nhưng thỉnh thoảng cũng lảo đảo đắm say, như bài thơ làm tựa đề cho cả thi phẩm Nhật nguyệt dấu yêu:

Trong nhiệm mầu tiết xuân
trời đất giao hoan
không gian thời gian quấn quýt
chìm lĩm trong nhau
(...)
nhẹ nhàng nhưng hút sâu
ngọt ngào mà xoáy xoay vũ bão
tình dại tê trong đắm say huyền thoại
vẫn đời thường mà quá đỗi diệu kỳ
ta tan ra trong nhau
tỉnh tỉnh mê mê
còn đâu bến bờ hư thực

Lời thơ cuồng nhiệt chứng tỏ Anh Nga có khả năng sử dụng ngôn ngữ thơ trên nhiều cung bậc. Nói rộng ra, là chị có tâm hồn thơ, tư duy thơ, có xúc cảm nghệ thuật và sử dụng thi pháp nhuần nhuyễn theo phong cách hiện đại.

Tuy nhiên đến một lúc nào đó, Anh Nga không còn xem thơ như một nghệ thuật, một ngôn ngữ điệu nghệ - dù rằng mình đủ “tay nghề”. Thói thường, người đời vẫn xem thơ như lời nói khéo, giàu âm điệu. Một giọt ngọt ngào nhểu vào cuộc sống. Anh Nga, đến giai đoạn nào đó, không còn vui với trò chơi, dù là trò chơi nghệ thuật được xã hội đề cao. Anh Nga hết ham “làm thơ” mà muốn “sống thơ” - đưa cuộc sống vào thơ, thay vì đem thơ vào đời sống, làm một thứ vỗ về, tô điểm.

Đã làm thơ thì ai cũng muốn làm nên câu thơ hay, nghĩa là sắp xếp, lắp ghép lời nói thành vần điệu, càng hay càng tốt. Nhưng hay là hay với người khác, còn với chính bản thân mình thì sao? Trong bài Giải trình ở cuối sách, Anh Nga đã bộc bạch:

“Có lẽ những gì tôi viết (…) chỉ là những mẩu đối thoại của tôi với chính bản thân mình. Để ghi nhận, tự nhắn nhủ và nhắc với chính mình những lay động, cảm xúc đã sống, vào một lúc, một nơi…”.

Lối độc thoại bắt đầu rõ âm vực với những bài Không tên, những lời nói với con, với người anh xa xứ, với người bạn quá cố. Đặc biệt là với người em trai đột ngột qua đời khi tuổi còn rất trẻ:

Có lẽ suốt đời em đắm say toán học
nên khi lìa bỏ dương gian em dứt khoát rạch ròi
chóng vánh đến không kịp một lời trăng trối
                                                (Minh ơi, 2004)

Hay với người cha, nhân ngày giỗ:

Mười lăm năm Ba nằm dưới huyệt lạnh
(…)
Rồi năm tháng tiếp liền năm tháng
những cái tang khác liên tục dội xuống những mảnh đời bất hạnh của chúng con
bất ngờ và nghiệt ngã
nước mắt đến cạn kiệt héo khô
trong đớn đau khôn cùng
dường như vọng từ cõi âm lời hóa giải cho những oán giận thù hằn dương thế…
                                                (Mười lăm năm, 2009)

Đây là những chuyện thật trong đời tác giả, những chấn thương sâu sắc, được giãi bày bằng lối tự sự chân thành và thô tháp so với những trường phái thơ đang thịnh hành, và ngay với những bài thơ trước của tác giả. Vậy nó có giá trị gì về mặt văn học và nằm ở vị trí nào trong lý thuyết thi ca?

Anh Nga là người uyên bác về văn học và ngữ học, là người sáng suốt, trầm tĩnh, đắn đo nhiều trước khi xuất bản một thi tập muộn màng. Văn bản trần trụi đầy xúc cảm buộc chúng ta phải đặt lại vấn đề: cái gì là thơ? Phải chăng thơ là những mảnh đời được cảm nhận là thơ? Khi ta cảm nhận một văn bản, hay một mảnh sống, là thơ, thì nó là bài thơ? Thi tập Nhật nguyệt dấu yêu làm cơ sở cho lý thuyết mới?

Những bài thơ đầu tập, rất bài bản, khác hẳn với những văn bản cuối tập, thô tháp, prosaique, nhưng không mâu thuẫn trong ý thức của tác giả:

“tôi chỉ dám mượn vần điệu của thơ, ngôn ngữ thơ để gửi gắm lên giấy những cảm xúc trong từng khoảnh khắc sống của mình. Những cảm xúc vụt lóe lên một tích tắc nào đó, có khi đậm nét, sáng rõ, có lúc nhập nhòe, lẫn lộn, (…) ẩn hiện chập chờn. Những cảm xúc không kết thành một khối, mà như những mảnh vụn, là mùn cưa, dăm bào, lấm tấm, rải rác, đậm nhạt không đều, vô cùng rối rắm”.

Lời cuối bài Giải trình cuối sách, tác giả đã từ tốn, dè dặt: “những gì tôi viết, dù có là thơ hay không là thơ…”.

Chúng ta có thể trả lời chị, bình thản và dứt khoát: nó là thơ. Thơ xê dịch từ diễn ngôn cách điệu đến những mảng sống, mảnh tâm sự nguyên chất. Chất men gắn bó những viên gạch rời ấy là lòng chân thành của Anh Nga. Chân thành với văn học và với bản thân.

Người đọc có thể xem Nhật nguyệt dấu yêu, như lời người xưa, là của tin gọi một chút này làm ghi.

Orleans, 11-11-2010
Đ.T
(265/3-11)






Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • ĐÀO ĐỨC TUẤN Lang thang giữa hè Huế nồng nã. Bỗng nhận tin của Minh Tự: thêm một cuốn sách của Nguyễn Xuân Hoàng vừa được bạn bè góp in. Đầy đặn  360 trang sách với chân dung “người buồn trước tuổi” đằm đặm trên bìa đen trắng.

  • Vào lúc 14 giờ 25 phút ngày 13 tháng 7 năm 2011 (nhằm ngày 13 tháng 6 năm Tân Mão), nhà thơ Văn Hữu Tứ, hội viên Hội Nhà văn TT. Huế đã qua đời sau một thời gian lâm trọng bệnh. Từ đây, trong mái nhà anh gần hồ Tịnh Tâm, trên các con đường của Thành phố Huế cũng như những nơi anh thường lui tới, tác giả của các tập thơ “Bên dòng thời gian”, “Tôi yêu cuộc đời đến chết” vĩnh viễn vắng mặt.

  • LÊ HUỲNH LÂM (Đọc tập thơ “Năm mặt đặt tên”, Nxb Thuận Hóa, tháng 5-2011)

  • KHÁNH PHƯƠNG Nguyễn Đặng Mừng đến với nghề viết một cách tự nhiên, mà cũng thầm lặng như cách người ta theo đuổi một lý tưởng. Ông vốn là học trò lớp ban C (ban văn chương) những khóa gần cuối cùng của trường Trung học Nguyễn Hoàng, trường công lập duy nhất và cũng danh tiếng nhất tỉnh Quảng Trị trước 1975.

  • …Thuộc dòng dõi Do Thái Đông Âu, Frederick Feirstein sinh ngày 2 tháng Giêng năm 1940 tại New York City, thân phụ và thân mẫu ông có tên là Arnold và Nettie Feirstein…

  • L.T.S: Nhà thơ Xuân Hoàng sinh năm 1925 tại Đồng Hới, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Nguyên là quyền Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, thuở nhỏ ông học ở Huế rồi dạy học ở Đồng Hới một thời gian trước khi thoát ly tham gia cách mạng.

  • Anh không thấy thời gian trôi thời gian ở trong máu, không lời ẩn mình trong khóe mắt làn môi trong dáng em đi nghiêng nghiêng như đang viết lên mặt đất thành lời về kiếp người ngắn ngủi.(T.Đ.D)

  • HOÀNG THỤY ANH Phan Ngọc đã từng nói: Thơ vốn dĩ có cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải xúc cảm và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này.

  • TRẦN THIỆN KHANH (Nhân đọc Phim đôi - tình tự chậm, Nxb. Thanh niên 2010)

  • LGT: Tuệ Nguyên, một nhà thơ trẻ dám dấn thân để lục tìm chất men sáng tạo ở những vùng đất mới với khát vọng cứu rỗi sự nhàm chán trong thi ca. Trong chuyến xuyên Việt, anh đã ghé thăm tạp chí Sông Hương. Phóng viên Lê Minh Phong đã có cuộc trò chuyện với nhà thơ trẻ này.

  • KHÁNH PHƯƠNG Lê Vĩnh Tài tự chẩn căn bệnh của thơ tình Việt Nam là “sến”, nghĩa là đa sầu đa cảm và khuôn sáo, bị bó buộc trong những lối biểu hiện nhất định. Rất nhanh chóng, anh đưa được lối cảm thức đương đại vào thơ tình, cái ngẫu nhiên, vu vơ, ít dằn vặt và không lộ ra chủ ý, dòng cảm xúc ẩn kín sau những sự vật tình cờ và cả những suy lý.

  • HỒ THIÊN LONGBạn đọc TCSH thường thấy xuất hiện trên tạp chí, và một số báo văn nghệ khác một số tên tuổi như về văn xuôi có: Lê Công Doanh, Phùng Tấn Đông, Châu Toàn Hiền, Nguyễn Minh Vũ, Trần Thị Huyền Trang, Phạm Phú Phong, Trần Thùy Mai…

  • FAN ANH 1. Sự đồng hành của “ba thế hệ viết trẻ”

  • HOÀNG THÁI SƠN (Về nhà thơ trẻ Xích Bích)

  • NHỤY NGUYÊN

    Đọc bài thơ, thương hốc mắt sâu thẳm của người mẹ chờ con lạc lối, bơ vơ ngay trên ngọn sóng quê nhà.

  • Kỷ niệm 100 năm ngày bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước & Ngày báo chí cách mạng Việt NamPHẠM PHÚ PHONG - HỒ DŨNGHơn ai hết, trong buổi bình minh của cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người ý thức rất đầy đủ về sức mạnh của báo chí và dư luận xã hội trong đấu tranh cách mạng. Nó không chỉ là phương tiện giao lưu tư tưởng, mở đường cho văn hóa phát triển mà còn là vũ khí, là công cụ đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc trên mặt trận tư tưởng.

  • ĐÔNG HÀHuế không phải là đất ở để thương mà chỉ là đất đi để nhớ. Nhiều thế hệ học sinh sinh viên đã đến, ở lại nơi này và rồi sau đó lại khăn gói ra đi. Nhưng đi không đành, nên thường để lại bằng những nỗi lòng trải dài theo khói sương bãng lãng của đất trời cố đô. Thành thử có một thời, Huế nên thơ trong mỗi áng văn chương của những người trẻ tuổi là vì vậy.

  • Mới đó mà đã gần ba mươi năm trôi qua, kể từ khi những văn nghệ sỹ trẻ xứ Huế cùng hội ngộ với nhau trong Câu lạc bộ Văn học Trẻ Huế những năm tám mươi thế kỷ hai mươi.

  • LTS: Nhà văn, nhà thơ Thanh Tịnh là người con của xứ Huế, ông sinh ra, trưởng thành và định hình như là một nhà văn ở đây.

  • PHẠM THƯỜNG KHANH - TRẦN XUÂN TUYẾT Trong số những di sản mà Hồ Chí Minh dành cho ngành Công an thì bức thư của Người gửi đồng chí Hoàng Mai - Giám đốc Công an Khu 12, ngày 11 tháng 3 năm 1948 - nói về Tư cách người Công an Cách mệnh là một di sản quý báu.