Phạm Thị Anh Nga là nhà giáo chuyên về ngữ học, nắm vững quy luật ngôn ngữ và văn học, khi cho ấn hành tác phẩm muộn màng, ắt cũng đã so đo: Chẳng phải thơ đâu anh chỉ là những cảm xúc tức bờ vỡ nhòa lên giấy Lời tâm sự chân tình, từ tốn, chứng tỏ tác giả nắm vững kỹ thuật ngôn ngữ thơ hiện đại, cả ba mặt từ pháp, bút pháp và âm pháp. Tập thơ ngắn nhưng mang quá trình một con sông dài, dài suýt soát với cuộc sống: “khởi hành từ những vần điệu đầu tiên, mới mẻ nhưng vẫn còn trong phạm trù thơ quen thuộc: Ngọn gió đi qua/ làm rớt cái hôn mà không biết/ em nhặt về/ gói ghém/ gởi cho ai” (Bé bỏng, 1988). Hình ảnh, điệu thơ tình tứ, nghịch ngợm, trẻ trung. Bài thứ hai, tiếp theo, thiết tha hơn, nhưng vẫn cùng một phong cách: “Nước mắt/ là cái thước đo hờn dỗi/ mỗi lúc giận anh” (Em khóc, 1988). Một bài thơ khác, tài hoa, tân kỳ, dặt dìu nữ tính: ai tung bụi nắng vào cỏ non xưa em thiếu nữ em nhặt nhạnh đến một đời chưa tài nào gom đủ dấu thu phai ai gieo hò hẹn vào thơ ngây em một thuở và mù tăm mù tăm mù tăm (Dấu lặng) Thơ Anh Nga khơi dòng bằng những dạo khúc trong sáng, thắm tươi như tiếng chim chào đón bình minh; rồi có lúc quặn thắt buồn đau: Ngôi nhà phế tích chôn kín một góc hồn một góc tim một góc đời khóa trái đến nghìn sau những mùa xa xăm đã khép có phải không gian vẫn đây mà thời gian thì đã vùi bụi cát ôi ngôi nhà ký ức rồi em sẽ ghé về thăm thu dọn những ngóc ngách bộn bề nhẩm ôn những mảnh đời vụn vỡ rưng rưng một nỗi niềm xưa (Ngôi nhà không ngõ phố) Thơ Anh Nga thường là tỉnh táo. Nhưng thỉnh thoảng cũng lảo đảo đắm say, như bài thơ làm tựa đề cho cả thi phẩm Nhật nguyệt dấu yêu: Trong nhiệm mầu tiết xuân trời đất giao hoan không gian thời gian quấn quýt chìm lĩm trong nhau (...) nhẹ nhàng nhưng hút sâu ngọt ngào mà xoáy xoay vũ bão tình dại tê trong đắm say huyền thoại vẫn đời thường mà quá đỗi diệu kỳ ta tan ra trong nhau tỉnh tỉnh mê mê còn đâu bến bờ hư thực Lời thơ cuồng nhiệt chứng tỏ Anh Nga có khả năng sử dụng ngôn ngữ thơ trên nhiều cung bậc. Nói rộng ra, là chị có tâm hồn thơ, tư duy thơ, có xúc cảm nghệ thuật và sử dụng thi pháp nhuần nhuyễn theo phong cách hiện đại. Tuy nhiên đến một lúc nào đó, Anh Nga không còn xem thơ như một nghệ thuật, một ngôn ngữ điệu nghệ - dù rằng mình đủ “tay nghề”. Thói thường, người đời vẫn xem thơ như lời nói khéo, giàu âm điệu. Một giọt ngọt ngào nhểu vào cuộc sống. Anh Nga, đến giai đoạn nào đó, không còn vui với trò chơi, dù là trò chơi nghệ thuật được xã hội đề cao. Anh Nga hết ham “làm thơ” mà muốn “sống thơ” - đưa cuộc sống vào thơ, thay vì đem thơ vào đời sống, làm một thứ vỗ về, tô điểm. Đã làm thơ thì ai cũng muốn làm nên câu thơ hay, nghĩa là sắp xếp, lắp ghép lời nói thành vần điệu, càng hay càng tốt. Nhưng hay là hay với người khác, còn với chính bản thân mình thì sao? Trong bài Giải trình ở cuối sách, Anh Nga đã bộc bạch: “Có lẽ những gì tôi viết (…) chỉ là những mẩu đối thoại của tôi với chính bản thân mình. Để ghi nhận, tự nhắn nhủ và nhắc với chính mình những lay động, cảm xúc đã sống, vào một lúc, một nơi…”. Lối độc thoại bắt đầu rõ âm vực với những bài Không tên, những lời nói với con, với người anh xa xứ, với người bạn quá cố. Đặc biệt là với người em trai đột ngột qua đời khi tuổi còn rất trẻ: Có lẽ suốt đời em đắm say toán học nên khi lìa bỏ dương gian em dứt khoát rạch ròi chóng vánh đến không kịp một lời trăng trối (Minh ơi, 2004) Hay với người cha, nhân ngày giỗ: Mười lăm năm Ba nằm dưới huyệt lạnh (…) Rồi năm tháng tiếp liền năm tháng những cái tang khác liên tục dội xuống những mảnh đời bất hạnh của chúng con bất ngờ và nghiệt ngã nước mắt đến cạn kiệt héo khô trong đớn đau khôn cùng dường như vọng từ cõi âm lời hóa giải cho những oán giận thù hằn dương thế… (Mười lăm năm, 2009) Đây là những chuyện thật trong đời tác giả, những chấn thương sâu sắc, được giãi bày bằng lối tự sự chân thành và thô tháp so với những trường phái thơ đang thịnh hành, và ngay với những bài thơ trước của tác giả. Vậy nó có giá trị gì về mặt văn học và nằm ở vị trí nào trong lý thuyết thi ca? Anh Nga là người uyên bác về văn học và ngữ học, là người sáng suốt, trầm tĩnh, đắn đo nhiều trước khi xuất bản một thi tập muộn màng. Văn bản trần trụi đầy xúc cảm buộc chúng ta phải đặt lại vấn đề: cái gì là thơ? Phải chăng thơ là những mảnh đời được cảm nhận là thơ? Khi ta cảm nhận một văn bản, hay một mảnh sống, là thơ, thì nó là bài thơ? Thi tập Nhật nguyệt dấu yêu làm cơ sở cho lý thuyết mới? Những bài thơ đầu tập, rất bài bản, khác hẳn với những văn bản cuối tập, thô tháp, prosaique, nhưng không mâu thuẫn trong ý thức của tác giả: “tôi chỉ dám mượn vần điệu của thơ, ngôn ngữ thơ để gửi gắm lên giấy những cảm xúc trong từng khoảnh khắc sống của mình. Những cảm xúc vụt lóe lên một tích tắc nào đó, có khi đậm nét, sáng rõ, có lúc nhập nhòe, lẫn lộn, (…) ẩn hiện chập chờn. Những cảm xúc không kết thành một khối, mà như những mảnh vụn, là mùn cưa, dăm bào, lấm tấm, rải rác, đậm nhạt không đều, vô cùng rối rắm”. Lời cuối bài Giải trình cuối sách, tác giả đã từ tốn, dè dặt: “những gì tôi viết, dù có là thơ hay không là thơ…”. Chúng ta có thể trả lời chị, bình thản và dứt khoát: nó là thơ. Thơ xê dịch từ diễn ngôn cách điệu đến những mảng sống, mảnh tâm sự nguyên chất. Chất men gắn bó những viên gạch rời ấy là lòng chân thành của Anh Nga. Chân thành với văn học và với bản thân. Người đọc có thể xem Nhật nguyệt dấu yêu, như lời người xưa, là của tin gọi một chút này làm ghi. Orleans, 11-11-2010 Đ.T (265/3-11) |
Tải mã QRCode
HOÀI NAM
Nguyễn Du (1765 - 1820) là một trong số những nhà thơ lớn, lớn nhất, của lịch sử văn học dân tộc Việt Nam. Đó là điều không cần phải bàn cãi.
ĐỖ LAI THÚY
Trước khi tầng lớp trí thức Tây học bản địa hình thành vào đầu những năm 30 thế kỷ trước, thì đã có nhiều thanh niên Việt Nam sang Pháp du học.
TRẦN NHUẬN MINH
Truyện Kiều, bản thánh kinh của tâm hồn tôi. Tôi đã nói câu ấy, khi nhà thơ, nhà phê bình văn học Canada Nguyễn Đức Tùng, hỏi tôi đã chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất tác phẩm nào của nhà thơ nào, trong toàn bộ sáng tác hơn 50 năm cầm bút của tôi, in trong tập sách Đối thoại văn chương (Nxb. Tri Thức, 2012).
YẾN THANH
“vùi vào tro kỷ niệm tàn phai
ngọn lửa phù du mách bảo
vui buồn tương hợp cùng đau”
(Hồ Thế Hà)
Sự hưởng ứng của công chúng thời bấy giờ đối với Cô Tư Hồng* của Đào Trinh Nhất, bất chấp những giai thoại xung quanh cô chủ yếu được thêu dệt nên bởi những định kiến đạo đức có phần khắc nghiệt, cho thấy sự chuyển biến rất nhanh trong nhận thức của đại chúng, hệ quy chiếu của đạo đức truyền thống, cho dù được bảo đảm bởi những bậc danh nho, đã không còn gây áp lực đối với tầng lớp thị dân mới.
NGÔ THẢO
Việc lùi dần thời gian Đại hội, và chuẩn bị cho nó là sự xuất hiện hàng loạt bài phê bình lý luận của khá nhiều cây bút xây dựng sự nghiệp trên cảm hứng thường trực cảnh giác với mọi tác phẩm mới, một lần nữa lại đầy tự tin bộc lộ tinh thần cảnh giác của họ, bất chấp công cuộc đổi mới có phạm vi toàn cầu đã tràn vào đất nước ta, đang làm cho lớp trẻ mất dần đi niềm hào hứng theo dõi Đại hội.
Tiểu thuyết "Sống mòn" và tập truyện ngắn "Đôi mắt" được xuất bản trở lại nhân kỷ niệm 100 năm sinh của nhà văn (1915 - 2015).
NGÔ ĐÌNH HẢI
Tôi gọi đó là nợ. Món nợ của hòn sỏi nhỏ Triệu Từ Truyền, trót mang trên người giọt nước mắt ta bà của văn chương.
NGÔ MINH
Nhà thơ Mai Văn Hoan vừa cho ra mắt tập thơ mới Quân vương &Thiếp (Nxb. Thuận Hóa, 6/2015). Đây là tập “thơ đối đáp” giữa hai người đồng tác giả Mai Văn Hoan - Lãng Du.
DƯƠNG HOÀNG HẠNH NGUYÊN
Nhà văn Khương Nhung tên thật là Lu Jiamin. Cùng với sự ra đời của Tôtem sói, tên tuổi ông đã được cả văn đàn thế giới chú ý.
NGUYỄN HIỆP
Thường tôi đọc một quyển sách không để ý đến lời giới thiệu, nhưng thú thật, lời dẫn trên trang đầu quyển tiểu thuyết Đường vắng(1) này giúp tôi quyết định đọc nó trước những quyển sách khác trong ngăn sách mới của mình.
Hà Nội lầm than của Trọng Lang đương nhiên khác với Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam. Sự khác biệt ấy không mang lại một vị trí văn học sử đáng kể cho Trọng Lang trong hệ thống sách giáo khoa, giáo trình văn chương khi đề cập đến các cây bút phóng sự có thành tựu giai đoạn 1930 – 1945. Dường như người ta đã phớt lờ Trọng Lang và vì thế, trong trí nhớ và sự tìm đọc của công chúng hiện nay, Trọng Lang khá mờ nhạt.
PHẠM PHÚ PHONG
Trước khi đưa in, tôi có được đọc bản thảo tiểu thuyết Phía ấy là chân trời (1), và trong bài viết Đóng góp của văn xuôi Tô Nhuận Vỹ (tạp chí Văn Học số 2.1988) tôi có nói khá kỹ về tiểu thuyết nầy - coi đây là một thành công mới, một bước tiến trên chặng đường sáng tác của nhà văn, cần được khẳng định.
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH
Đọc truyện ngắn Hồng Nhu, tôi có cảm tưởng như mình đang lạc vào trong một thế giới huyền thoại, thế giới của những lễ hội, phong tục, tập quán xưa huyền bí mà có thật của người dân đầm phá Tam Giang.
Bằng sự tinh tế và thâm trầm của người từng trải, Nguyễn Đình Tú đưa tới góc nhìn đa dạng về người trẻ trong tập truyện ngắn "Thế gian màu gì".
Qua đi, với những hoa tàn tạ
Hoa trong hồn ta, ai hái được bao giờ
Victor Hugo*
Nhà báo Phan Quang nghiên cứu, phân tích truyện dân gian để mang tới bức tranh văn hóa xứ Trung Đông trong cuốn "Nghìn lẻ một đêm và văn minh A Rập".
Những độc giả từng yêu thích Nắng và hoa, Thấy Phật, Khi tựa gối khi cúi đầu, Chuyện trò... - những tập sách đã có một góc riêng sang trọng trên kệ sách tản văn Việt bởi góc nhìn uyên thâm, giọng văn ảo diệu của GS Cao Huy Thuần - nay vừa có thêm một tặng phẩm mới: Sợi tơ nhện.
Y PHƯƠNG
Trong một lần đoàn nhà văn Việt Nam đi thực tế sáng tác ở Bình Liêu, Móng Cái (Quảng Ninh), tôi nghe mấy nữ nhà văn lao xao hỏi tiến sĩ - nhà văn Lê Thị Bích Hồng: “Đêm qua em viết à?” Bích Hồng ngạc nhiên: “Không đâu. Hôm qua đi đường mệt, em ngủ sớm đấy chứ”.