Ánh lửa của địa đàng

15:18 03/11/2011
NGUYỄN THÀNH LONG - Kính lạy Cha. Cha cho gọi con. Cha thấy trong người thế nào ạ? - Cha cảm ơn con đã tới. Có lẽ con là người cuối cùng Cha trò chuyện ở trên đời. Sắp sửa ra đi. Cha thấy Cha cô độc lắm.

Ảnh: internet

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

- Người đời ai cũng ca tụng Cha là người nhân hậu. Ơn trên ban phúc lành cho Cha. Con thấy sắc mặt Cha hồng hào hơn lần con vào lạy Cha trước.

- Chuyện đó thế nào cũng tới. Có thể một tháng nữa, có thể một tuần nữa như bác sĩ nói. Mà cũng rất có thể là hôm nay. Bổn phận cuối cùng của ta là phải sửa mình cho kịp.

- Con chiên ai cũng ngợi ca công đức cha...

- Công đức gì ta... Tài năng duy nhất của ta là mặc áo thụng đen, đọc kinh Lạy Cha, kinh Kinh Mầng và lắc lư cái lư trầm của nhà thờ. Cảm ơn lòng tốt của con, con chớ ngắt lời Cha. Có thể là ngày mai hay chốc nữa, cha sẽ được giải thoát, lên thiên đường hay xuống hỏa ngục. Nhưng vẫn phải làm một cái gì tốt, chi ít là nói với ai một sự thật. Ta không thể chờ đến giờ rửa tội được. Sự thật, ta đã được đào tạo để trở nên một kẻ thánh không ra thánh, người không ra người, không có một niềm say mê nào, không yêu một người đàn bà, không ghét một người đàn ông, không thương một đứa bé, lúc nào cũng sống cách biệt, và đối với loài người, ta là khách lạ, không xin ai cái gì, không cho ai cái gì, không hề biết cái giá được chia xẻ sự thiếu thốn, làm ơn được san bớt một đau khổ. Bây giờ ta mới biết đây mới là cái đau đích thực của ta.

- Cha nói thế. Cả giáo xứ này, không ai có một lời chê trách Cha.

- Chính vì vậy mà lương tâm ta không yên. Sự thật ta đáng chê trách. Con người ngày càng hung dữ, nhân tâm ngày càng sa đọa...

- Thì ở đâu mà chẳng vậy, thưa Cha?

- Nhưng ở đây, kẻ chăn chiên là ta, trách nhiệm là ta. Con người được khuyến khích hung dữ, nhân tâm tàn mạt, ấy là lỗi tại ta. Cha cho gọi con cũng là vì vậy. Con có lần xưng với Cha lảng vảng có ý muốn bẻ gãy hạnh phúc của mình vì thấy quá cực phải nằm cạnh một người có hôi mùi thuốc súng, và trong món quà mà y đem về cho có thoảng mùi cướp bóc và án mạng nữa. Con còn nhớ là ta chỉ im lặng nghe con nói, không hề khuyên con bề nào. Vì ta nhận ra liền. Thủ phạm chính làm chồng con hư hỏng, trở thành kẻ sát nhân là ta. Cha có cảm giác như con kết tội Cha. Không phải ta khuyến khích bọn họ bằng một lễ Tạ ơn hay sao? Hôm ấy, không phải là con tới xưng tội mà tới bắt đền Cha và Cha lúng túng. Ta biết con từ bé, con như hoa huệ buổi sớm, không ngờ lại ra như vậy. Câu chuyện con kể làm ta rùng mình. Càng kề cận ngày phải từ bỏ cuộc trần thế, ta mới càng ngẫm tội ta là trọng.

- Con cảm kích đập đầu van nài Cha, không bao giờ chúng con có ý nghĩ gì phụ bạc thiếu tôn kính đối với Cha cả.

- Lương tâm con không cắn rứt nữa sao? Ờ mà đã lâu, con không chăm xưng tội như trước...

- Kính Lạy Cha, con đến thỉnh cầu Cha khi nào con cảm thấy con có tội...

- Việc chồng của con, con giải quyết ra sao? Hắn không tham dự trong vụ tàn sát hàng nghìn Việt cộng lẫn người vô tội ở núi Song Mây sao! Chính việc đó làm ta không yên. Chính ta chứ không phải ai khác làm lễ nguyện cho bọn họ trước khi họ lên đường đi vây hãm và càn quét du kích.

- Trình lạy Cha. Con nói để Cha yên tâm. Hình như người ta đã phao truyền cho Cha tin thất thiệt. Không có du kích nào bị giết ở núi Song Mây. Quân chính phủ vây hãm nhưng không ai bắn vào du kích. Đó là chuyện lạ. Và sau một tháng bị vây hãm, du kích vẫn không chết đói chết khát như mục đích cuộc hành quân.

- Họ làm thế nào được như vậy? Họ tài thế à?

- Còn đàn bà con gái con không biết. Có lẽ họ tài thật. Nhưng hình như họ được sự che chở của mọi người, kể cả bà con giáo hữu xứ họ ta.

- Xứ họ ta?

- Vâng, con có cảm giác như thế. Không ai còn ghét sợ họ như lúc đầu. Họ cũng như ta thôi. Chỉ khác một điều, họ đánh Mỹ, còn ta thì đi với Mỹ. Tại sao Cha lại không biết điều đó? Con nghĩ không phải Cha không biết điều đó mà Cha chỉ làm ngơ thôi. Không phải Cha không biết bà con giáo xứ ta ai cũng có tìm vào Song Mây trước là tò mò tìm xem Việt cộng, dần dần rồi lãnh ruộng, lãnh đất trồng nhận te ở trong đó. Họ không làm gì khác ngoài việc đánh Mỹ và tổ chức đời sống cho đồng bào bất kể giáo dân hay không. Nếu không, lời răn của Chúa là không được giết người, mà chúng con hằng ngày lại sinh nhai bằng các thứ của nã chồng con cướp bóc về, sặc sụa mùi máu, lương tâm không yên được "Quân dữ" hình như không phải là họ, bà con bảo thế.

- Lòng người đã chuyển biến như vậy rồi ư? Chết nỗi, chỉ một người không biết là ta. Chồng con đã đi với du kích?

- Chồng con đã mất tích. Con dập đầu tạ ơn Chúa đã giúp anh ấy không phạm mười điều răn. Con biết là con có thể chết khi tiết lộ với Cha những điều vừa rồi. Nhưng con không thể không lấy lòng thành đền đáp cùng Cha. Cha là cha bề trên nuôi dưỡng con, chắc Cha không muối biến con thành một đứa Giu-già chỉ điểm tầm thường. Con rất khổ tâm mỗi khi nghĩ đàn chiên quay đầu chen nhau vô núi mà bỏ người chăn chiên ở bơ vơ. Nếu phải xưng tội, con phạm tội đó.

- Con biết ta thương yêu con, ta không đáng những lời nói nặng nề của con, mặc dù suốt đời ta lầm lỗi. Không phải ta không biết. Ta linh cảm, nên ta gọi con. Ta sắp chết rồi, ta muốn dù có còn một phút thì phút đó cũng giúp ta làm tròn thật sự thiên chức của ta, cảm thấy sự nhọc nhằn cuả kẻ khác và chia sẻ với họ niềm vui. Ta tin ở con, bông hoa huệ của ta. Con khuyên ta làm điều gì?

- Trả lời bức thư của mặt trận giải phóng mà con đã thấy Cha cầm đọc. Cha không biết chứ cả giáo xứ nín thở đợi Cha. Cơ may cuộc đời của cha con ta có một ý nghĩa như Cha nói là ở câu trả lời của Cha đó.

- Chết, con có nhìn thấy thật sao?

- Trình Cha, con vô tình nhưng có nhìn thấy.

II

Vài giờ sau, trong bóng đêm, lựa lúc đường phố vắng vẻ, một chiếc hon-đa đèo Cha chánh xứ đưa cha sang qua đường rồi vào trong một lối mòn đi về phía núi. Một chiếc cáng đỡ tiếp cha xứ biến vào trong bóng tối của rừng rậm, nơi mà ngay ban ngày cũng đã có vẻ kỳ bí rồi.

Những nhà văn, người viết lịch sử, nhất là những nhà viết sử chiến đấu của nhân dân tỉnh Sông Bé hay Đồng Nai gì đó sẽ miêu tả tỉ mỉ những tình tiết lý luận khác nhau của cuộc họp thành lập mặt trận này: Ngay cuộc họp đầu tiên đã có bằng xương bằng thịt sự có mặt của một linh mục chánh xứ bị ung thư ngay trước khi biết là mình tắt thở không bao lâu, vượt vòng vây của địch, của đạo giáo và thành kiến mà ra, để cùng mọi đại biểu các tầng lớp nhân dân bàn việc nước. Tôi chính là người chở hon-đa cho cha đi, tôi đã không được phép trả lời khi cha ngờ ngợ hỏi qua cổ tôi: - "Cha Vinh phải không?", tôi không được phép trả lời hay tiết lộ điều gì hết, tôi chỉ kể với bạn đọc rằng cuộc họp đó có thể là cuộc họp độc nhất vô nhị, có một cha chánh xứ nằm nguyên trên cáng mà họp. Cha có vẻ thật bằng lòng, đúng hơn toại nguyện, cứ ngoảnh về phía ánh lửa mà cười, mặt lại như hồng hào khỏe mạnh rồi nữa kia. Các nhà văn sẽ phân tích giùm tôi cái điều mà đạo giáo chúng tôi gọi là "kỳ tích", nó đang chói lòa trong tâm hồn của vị chăn chiên, ông cũng như chúng tôi tìm kiếm suốt một đời nay mới gặp - Ông nói cái đó ra lời và cái đó cũng có ghi trong biên bản của cuộc họp: " - Đối với tôi - Cha chánh xứ nói - Giê-su không phải là "vật thờ cúng" mà là "mẫu hình". Quan điểm của Giê-su là: tôi vào trong xã hội và xã hội làm ra tôi. Đêm nay, ngày... năm... lúc ba giờ sáng đúng, tôi đã tìm thấy Chúa tại đây, rừng Song Mây. Tôi đã gặp Chúa nơi anh em, và tôi khuyên mọi Kitô hữu hãy làm như tôi."

Bình thường, ông vẫn nói mình thích Tân ước hơn Cựu ước, và trong Tân ước câu xúc động ông nhất là: Que la lumière soit et la lumière fut. Phải có ánh sáng và tức thì ánh sáng có (- ông hay nói câu đó bằng tiếng Pháp). Cho nên tôi tưởng tượng được cái là một luồng sáng nó lay động toàn thân ông, cái đó tưởng chừng thấy được, làm cho ông run rẩy khi ông được đề cử vào ban chấp hành mặt trận giải phóng tỉnh và khi ông đưa tay đỡ lấy cây bút ký vào bản kêu gọi cứu nước chung, dưới một cái bí danh - Vì ông phải trở về nhà thờ- là "linh mục chánh xứ Gioan Baptixtơ Nguyễn Thế Phương".

Tôi mục kích ông cười và mục kích ông khóc. Khi vẫn che mặt, tôi lại chở ông trở về nhà thờ, mặt của ông cũng ướt đẫm như làn áo ướt sương đêm của ông. Không hỏi nữa, dường như đã khẳng định tôi là cha Vinh, ông tì mặt lên lưng tôi mà nói hoài: "- Thật may cho tôi mà còn kịp!"

Tôi thay quần áo cho ông và đặt ông lại giường. Biết đã đến lúc sau chót, tôi gọi thêm người. Trong lúc xung quanh giường tiếng cầu kinh râm ran thì giám mục ở Xuân Lộc tới, thân hành rửa tội sau cùng cho cha chánh xứ. Người chết đã từ từ nhắm mắt, nhưng miệng vẫn còn giữ một nụ cười và mặt tưởng vẫn còn ánh hồng của lửa rừng vừa qua. Một lúc, bỗng thấy ông mở mắt ra, nói rành rọt với giám mục:

- Từ lâu, tôi rất sợ lúc này. Bây giờ tôi không sợ nữa.

Ông khựng lại đột ngột. Cha chánh xứ đã qua đời.

III

Rất lâu, trong mười năm, cho đến ngày hoàn toàn giải phóng, cho đến đại hội này, danh sách các ban chấp hành mặt trận cứu nước đều có tên "Gioan Baptixtơ Nguyễn Thế Phương". Chúng tôi tiếp tục hoạt động mà thấy không cần thay đổi bí danh vốn là bí danh của người. Và cho đến nay là hai mươi năm, những ngày lễ trọng của nước, vừa sáng sớm, người ta đã thấy trên mộ người, trong khuôn viên nhà thờ, một vòng hoa tươi mà đều đặn, có một người vô danh nào đã lén đặt trong đêm. Giám mục địa phận là một người thâm trầm lắm. Ông có lần hỏi tôi về điều ông vẫn nhận xét và ngẫm nghĩ trong nhiều chục năm:

"- Sự thật, Gioan Baptixtơ Nguyễn Thế Phương là ai?" Tôi mạnh dạn trả lời ông:

- Trình Cha, tôi nghĩ đó là vị trí vẫn dành cho Nhà Thờ, nó đã thành biểu tượng, nó là tất cả những người giáo yêu nước chúng ta, cha qui vào ai làm gì.

Huyện Thống Nhất tháng ba 1983-
Hà Nội tháng giêng 1986

N.T.L.
(18/4-86)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.