Huế, xứ của lăng tẩm đền đài, xứ của cây trái xum xuê, xứ của những món ăn đậm vị. Đến Huế, đi đâu, đứng đâu bạn cũng có thể khám phá nhiều điều thú vị. Nhưng có ngao du đâu nữa, khi đặt chân đến Huế, ai cũng một lần ra bên bờ ngắm sông một lúc cho thỏa.
Nhắc đến Huế, có lẽ người ta sẽ nghĩ đến sông Hương. Dòng sông tạo nên một hình hài đô thị Huế hiền hòa, thơ mộng. Từ ngã ba Bằng Lãng, sông Hương uốn mình chảy qua làng mạc, kinh thành rồi đổ ra đầm phá trước khi hòa vào biển cả. Những nơi đi qua, dòng Hương để lại lớp phù sa cho cây trái tốt tươi. Thứ đất sền sệt, màu nâu đục mà sông để lại mỗi mùa lũ là dưỡng chất tạo nên một thứ quả trứ danh cho Huế: quả Thanh trà.
Cách thành phố 10 phút chạy xe về hướng Tây Bắc, Thủy Biều được xem là thủ phủ của thanh trà. Một vùng đất được sông Hương bao trọn ba phía, nó giống như một cù lao. Phù sa sông Hương đã kết tinh, tạo nên một thứ quả ngọt thanh. Ở xứ này, ngoài Thủy Biều còn có thêm vùng Hương Vân, thị xã Hương Trà cũng trồng được cây này nhờ phù sa sông Bồ. Thanh Trà là món quà mà thiên nhiên ưu ái dành cho Cố đô một độc quyền riêng biệt.
Khi đã kịp gieo hoa thơm quả ngọt, sông Hương chảy qua lòng thành phố và rồi để lại những góc cạnh đẹp, hữu tình. Hai bên bờ sông, từ thượng nguồn về đến đầm phá, chỗ nào mà chẳng đẹp. Ý này không mang cảm tính của cá nhân, nó là nhận xét chung của tất cả những ai đã đến Huế, đã từng lang thang dọc bờ sông. Những giá trị mà sông Hương để lại, nó có thể là hữu hình hoặc vô hình. Hai bên bờ sông, bạn ngồi đâu cũng đều có cho mình một điểm ngắm tuyệt diệu. Sông Hương với dòng chảy êm đềm, nó mang lại cho con người ta sự khoan khoái mỗi khi mệt mỏi.
Chiều buông, bạn có thể ngồi dưới bậc cấp Thiên Mụ, thưởng thức chén đậu hũ từ các mệ, các o để ngắm hoàng hôn rơi dần phía thượng nguồn sông. Các công trình cổ kính ẩn mình dưới tán cây ven bờ sông, tạo nên một đô thị trầm lắng, nhẹ nhàng. Không phải những đền đài hay công trình kiến trúc hiện đại, chính sông Hương là một điểm nhấn thú vị mà tạo hóa đã ban tặng cho vùng đất này.
Mỗi mùa ở Huế, đến xứ này, bạn đều có thể cảm nhận những vẻ đẹp riêng của dòng sông. Mùa hè là gió lành từ dòng sông mang lại; những cây cối đơm hoa nở rộ hai bên bờ. Có nóng bức nhưng ngồi nghỉ bên dòng Hương, tận hưởng khí trời, tận hưởng bóng cây rợp mát, tâm hồn cũng sẽ an dịu. Mùa đông, bạn ngồi những quán cà phê ven sông, ngắm nhìn mưa. Thoáng chốc, có một vài chuyến đò xuôi từ thượng nguồn về hạ du. Trong mưa gió, sông và đò hiện ra mờ ảo, đẹp kiểu rất Huế. Sông Hương mùa lũ hay mưa nào đi nữa, dòng chảy của nó cũng thanh thoát, nhẹ nhàng.
Sông Hương tạo nên một trục chia đô thị Huế thành bờ Nam - Bắc. Mỗi bờ có những nhịp sống, những phát triển riêng biệt. Nhưng, người Huế thì dù bờ bên này hay bên kia, họ đều thừa hưởng chung một đặc ân mà sông mang lại. Dòng sông không chỉ cung cấp nước uống cho hàng vạn cư dân mà đó còn là những “tháng bảy vía cha, tháng ba vía mẹ”. Mỗi dịp, sông chuyên chở những đứa con ngược lên thượng nguồn mà tri ân núi non, xứ sở. Đông hay hạ, người dân Huế vẫn ngồi bên sông Hương như để được sông xoa dịu những vết thương lòng. Họ ngồi đó mà tận hưởng bình minh lên, hoàng hôn xuống để rồi cùng sông trải qua những vui buồn. Sông không hiểu được người, nhưng chỉ cần ngồi ngắm sông trôi, tâm cũng tự lắng lại.
“Đò qua Đông Ba, đò về Đập Đá”, có một lần tôi ngồi trên tầng cao của một khách sạn, đưa mắt nhìn ra dòng sông, thấy bóng dáng một người phụ nữ chèo đò ngang từ Đông Ba qua bến Tòa Khâm. Mắt tôi cứ nhìn theo con đò cho đến lúc nó cập bờ. Khung hình đó cứ đọng mãi trong tâm trí, thấy lòng bình an đến lạ. Hình ảnh người phụ nữ cứ nhoài mình khua nước, những vệt sóng lăn tăn đập vào mạn đò rồi tan biến. Thoáng chốc trong đầu văng vẳng mấy câu hò mái nhì, mái đẩy…
Sông Hương xuất hiện nhiều trong thơ văn, nhạc họa. Đã có vài bút ký nổi tiếng về dòng sông này. Nói như ai đó: “Sông Hương có gì mà di sản”. Thì đúng vậy, có gì mà di sản. Đời sống của sông dẫu trải qua một vài biến thiên, chứng kiến một vài khoảnh khắc lịch sử. Đời sống sông có thể chưa phong phú để nó trở thành di sản. Nhưng, một cái danh xưng mà người ta yêu mến rồi gắn cho nó, hư - thực, biết vậy mà đối đãi với sông hài hòa hơn. Có làm gì, họ cũng biết mà không xâm hại đến sông, để không mất đi thứ mà chỉ cần phạm phải một sai lầm cũng khó lòng sửa đổi.
Di sản hay không di sản, nó cũng chỉ là một cái danh gắn lên, có cũng được, không cũng chẳng sao. Quan trọng lòng chúng ta có trắc ẩn, có tâm tư như Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, khi ông đã từng lo sợ “một ngày nào đó Huế không còn sông Hương thì liệu còn ai buồn nhắc tới Huế nữa”.
N.Đ.T
(TCSH55SDB/12-2024)
Tải mã QRCode
ĐOÀN MINH TUẤN Tùy bútĐã từ lâu lắm, nhiều mùa xuân đã qua, nhà văn Đoàn Giỏi có cho tôi mượn cuốn sách rất hay viết về "chó và mèo trên thế giới" của hai tác giả người Pháp Marlyse et Frange.
NGUYỄN QUANG HÀHầu như mỗi chúng ta chỉ biết Mai Xuân Hòa là nhạc sĩ. Anh đã ra mắt hai tập nhạc viết cho người lớn: "Nỗi đợi chờ", "Khát vọng",và hai tập cho thiếu nhi: " Những điều em thích", " Những ngôi sao đẹp".
PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)
LÊ KHAI Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ. Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.
HÀ KHÁNH LINH Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.
TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!
TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.
TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.
NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.
PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước vào đời.
NGUYỄN VĂN VINH Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.
TRẦN HOÀI Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...
LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.
NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.
TỐ HỮU Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời
VÕ MẠNH LẬP Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.
NGUYỄN QUANG HÀ Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.
NGUYỄN QUANG HÀ Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.
NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.